Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tại Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm - Pdf 25

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Để hoàn thành sự nhgiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VII đã chỉ ra rằng nước ta cần phải “xây dựng một nền
kinh tế mở, hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới, khuyến khích
xuất khẩu và thay thế hàng nhập khẩu bằng các sản phẩm hữu hiệu được sản
xuất trong nước”. Với tinh thần đó nước ta đã thực hiện AFTA, gia nhập APEC
và khi có đủ điều kiện sẽ gia nhập WTO.
Việc thực hiên hiệp định thương mại Việt Mỹ và những cam kết khi gia
nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO buộc các thành phần kinh tế nước ta phải
chấp nhận cạnh tranh bình đẳng theo luật chơi chung do cộng đồng quốc tế quy
định. Doanh nghiêp ngoài quốc doanh của ta chủ yếu là các doanh nghiệp vừa
và nhỏ, chiếm 90% tổng số các doanh nghiệp, có vai trò đặc biệt quan trọng tạo
việc làm, tạo thu nhập, góp phần ổn định đời sống xã hội. Ngoài ra kinh tế ngoài
quốc doanh còn tham gia tích cực vào hoạt động xuất nhập khẩu, nâng cao cạnh
tranh của khu vực này nhằm giữ vững thị trường trong nước và mở rộng thị
trường nước ngoài, có ý nghĩa quan trọng trong việc hội nhập với nền kinh tế thế
giới.
Tuy nhiên, ngoài những điều kiện kinh tế xã hội như thị trường, thiết bị
công nghệ, nhà xưởng, trình độ quản lý, trình độ tay nghề… để đảm bảo phát
triển nhanh, mạnh và có hiệu quả đối với các đơn vị kinh tế ngoài quốc doanh
trong quá trình hội nhập thì một điều không thể không nhắc đến là điều kiện về
vốn tài chính. Mọi hoạt động kinh doanh đều cần vốn tài chính trong khi các đơn
vị này lại rất hạn hẹp và gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó các ngân hàng
thương mại còn e ngại khi cho thành phần kinh tế ngoài quốc doanh vay, nguyên
nhân chính là do chất lượng tín dụng đối với thành phần kinh tế này còn chưa
cao. Điều này đã làm ảnh hưởng tới công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá
mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra.
Bởi vậy, sau khi thực tập tại Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm và nhận
thức rõ nhưng khó khăn mà Ngân hàng đang phải đối mặt trong hoạt động tín


động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng
XHCN”. Sự khẳng định này khiến cho kinh tế quốc doanh không còn vị trí độc
tôn như trước nữa, thay vào đó là sở hữu tư nhân được thừa nhận, kinh tế ngoài
quốc doanh được tồn tại và phát triển bình đẳng với kinh tế Nhà nước.
Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là các đơn vị kinh doanh có tính chất
tư hữu (không kể các đơn vị đầu tư nước ngoài). Xét về loại hình doanh nghiệp
bao gồm: Doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần và các đơn vị
theo hình thức hợp tác xã (HTX).
- Doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và chịu
trách nhiệm bằng tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
- Công ty TNHH: Là công ty trong đó phần vốn góp của tất cả các thành
viên phải được đóng góp đầy đủ ngay khi thành lập công ty. Các phần vốn góp
được ghi rõ trong điều lệ công ty. Công ty không được phép phát hành bất kì tài
liệu chứng khoán nào. Việc chuyển nhượng vốn góp giữa các thành viên được
thực hiện tự do. Việc chuyển vốn góp cho người không phải là thành viên phải

Website: Email : Tel : 0918.775.368
được sự nhất trí của nhóm thành viên đại diện cho ít nhất 3/4 số vốn điều lệ của
công ty.
- Công ty cổ phần: Là công ty trong đó số thành viên gọi là cổ đông mà
công ty phải có trong suốt thời gian hoạt động gồm ít nhất là 3 thành viên. Vồn
điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, giá trị
mỗi cổ phần gọi là cổ phiếu. Mỗi cổ đông có thể mua một hay nhiều cổ phiếu.
- Hợp tác xã: Là đơn vị kinh tế gồm nhiều lao dộng cùng nhau góp vốn để
sản xuất kinh doanh. Hợp tác xã hoạt động theo nguyên tắc bình đẳng, dân chủ,
cùng hưởng lợi, cùng chịu rủi ro nhằm kết hợp sức mạnh tập thể để giải quyết có
hiệu quả hơn những vấn đề thuộc phạm vi sản xuất kinh doanh.
Trong những năm gần đây quan điểm phát triển kinh tế nước ta bằng con
đường công nghiệp hoá - hiện đại hoá là sự nghiệp của toàn dân đòi hỏi sự khác
nhau của các thành phần kinh tế. Số lượng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh

• Cơ cấu quản lý linh hoạt
Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thường thích hợp với những cơ cấu
tổ chức đơn giản. Số lượng nhân viên ít và các nhân viên này thường phải đảm
nhận công việc theo kiểu đa năng. Phần lớn các chủ doanh nghiệp vừa phải đảm
nhận vai trò quản trị (điều hành và chỉ huy nhân viên của mình) vừa phải đảm
nhiệm vai trò lãnh đạo (tìm kiếm và quyết định cơ hội đầu tư). Mặt khác, vốn
của thành phần kinh tế này là do những chủ thể kinh doanh tình nguyện đóng
góp, do các cổ đông đóng góp hay do liên doanh liên kết… bằng tiền hoặc tài
sản. Vì thế họ có toàn quyền quyết định nghành nghề kinh doanh phù hợp vơí
khả năng, trình độ cũng như nhu cầu của thị trường đối với loại hàng hoá mà họ
sẽ kinh doanh… Mặc dù quy mô hoạt động khá nhỏ bé, song đó lại là một lợi
thế cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng vòng quay vốn, nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn… Trong khi đó, mặc dù các doanh nghiệp có nguồn vốn lớn,
ổn định từ Nhà nước nhưng lại không có quyền tự chủ trong sản xuất kinh
doanh, do đó không có sự linh động sáng tạo, phản ứng kịp thời với những biến
động của thị trường… Do vậy cơ cấu chung của các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh thường đơn giản, gọn nhẹ, mang tính linh hoạt, dễ thay đổi cho phù hợp
với yêu cầu mới.
• Chi phí gián tiếp thấp:

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đặc điểm của một doanh nghiệp ngoài quốc doanh là một người chủ và
một số nhân viên làm việc không thường xuyên, giúp cho chi phí thấp. Chi phí
gián tiếp thấp tạo lợi thế cạnh tranh về giá của các sản phẩm cuối cùng. Chủ
doanh nghiệp có tinh thần trách nhiệm cao vì lợi ích của họ gắn liền với sự
thành bại của doanh nghiệp. Cũng chính vì vậy họ đòi hỏi nhân viên của họ làm
việc nghiêm túc và hiệu quả, giảm thiểu sự lãng phí nguồn lực vẫn thường gặp ở
các doanh nghiệp quốc doanh. Đồng thời khu vực kinh tế này cũng tạo nên sức
hút đối với phần đông dân cư trong việc cung ứng các đồng tiền nhàn rỗi vào
sản xuất kinh doanh, tạo nên sức sống cho nền kinh tế.

đơn giản, không cập nhật, không đầy đủ và thiếu chính xác. Do vậy việc đánh
giá doanh nghiệp thông qua phân tích tài chính (để quyết định cho vay) thực sự
khó khăn đối với ngân hàng, nhất là hiện nay hầu hết các sổ sách của doanh
nghiệp đều chưa qua kiểm toán.
• Trình độ công nghệ sản xuất chưa phát triển:
Trình độ công nghệ là yếu tố quyết định đến năng suất, chất lượng và khả
năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Hiện tại các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh có công nghệ hiện đại không nhiều, chỉ có một số công ty liên
doanh, công ty có vốn đầu tư nước ngoài được trang bị máy móc và dây truyền
tiến tiến, còn lại là sử dụng các công cụ thủ công, dây truyền thiết bị chắp vá,
thiếu đồng bộ. Mặc dù việc áp dụng công nghệ kỹ thuật mới vào dây truyền sản
xuất là vô cùng quan trọng nhưng họ sợ phảI đầu tư vốn lớn và sợ giá thành sản
phẩm cao.
• Môi trường sản xuất kinh doanh chưa ổn định:
Nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung đã làm cho nền kinh tế nước ta trì trệ,
không tạo động lực thúc đẩy các thành phần kinh tế nói chung và kinh tế ngoài
quốc doanh nói riêng. Trong quá trình chuyển sang nền kinh tế vận hành theo cơ
chế thị trường, các thể chế kinh tế và pháp lý chưa được xác lập, phát triển và
hoàn thiện một cách đầy đủ nên đã ảnh hưởng rất lớn tới phương hướng sản xuất
kinh doanh và chiến lược đầu tư.
3. Vai trò của kinh tế ngoài quốc doanh đối với nền kinh tế nước ta
Trong cơ chế mới, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã được phục hồi
dần, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế có khả năng cạnh tranh bình đẳng

Website: Email : Tel : 0918.775.368
trên thị trường. Với tinh thần tự chủ, năng động, sáng tạo, kinh tế quốc doanh đã
sớm thích nghi với những biến đổi thường xuyên của thị trường, đóng góp
không nhỏ cho nền kinh tế và ngày càng khẳng định vai trò không thể thiếu
được của mình trong nền kinh tế.
Thứ nhất, kinh tế ngoài quốc doanh phát triển tạo điều kiện thu hút lao

trí của các chủ thể sản xuất kinh doanh theo yêu cầu của cơ chế thị trường, đẩy
nhanh việc hình thành nền kinh tế nhiều thành phần, thúc đẩy cải cách doanh
nghiệp Nhà nước, cải tổ cơ chế quản lý theo hướng thị trường, mở cửa hợp tác
với bên ngoài, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Thứ ba, kinh tế ngoài quốc doanh phát triển góp phần tăng thu ngân sách
cho Nhà nước.
Sản xuất kinh doanh phát triển là tiền đề tạo ra nguồn thu cho ngân sách
Nhà nước. Do vậy để tăng nguồn thu cho ngân sách, biện pháp quan trọng nhất
là không ngừng phát triển kinh tế và đời sống xã hội. Khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh tồn tại và phát triển là một bộ phận đóng góp to lớn cho ngân sách
Nhà nước (khoảng 30%) thông qua thuế và các khoản khác. Nguồn này sẽ được
dùng để đầu tư cho các nghành kinh tế mũi nhọn hoặc xây dựng cơ sở hạ tầng
hay giúp đỡ hỗ trợ một số nghành kinh tế yếu kém. Nói cách khác, khu vực kinh
tế ngoài quốc doanh có vai trò điều hoà thu nhập cũng như đóng góp vào ngân
sách Nhà nước.
Thứ tư, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đóng góp cho nền kinh tế một
khối lưọng lớn hàng hoá, dịch vụ phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Sự phát triển của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đa dạng về nghành
nghề, quy mô và hình thức kinh doanh đã góp phần to lớn trong việc lấp chỗ
trống cho những thiếu hụt từ kinh tế quốc dân, tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư
nước ngoài, tạo ra sức sống cho nền kinh tế.
Bằng việc sản xuất hàng hoá, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã góp
phần to lớn vào việc tạo ra sự phong phú về chủng loại hàng hoá, nâng cao chất
lượng sản phẩm, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân. Do đó cơ
hội lựa chọn hàng hoá và dịch vụ của người dân tăng lên và các doanh nghiệp
phải ra sức cạnh tranh với nhau để có thể tiêu thụ sản phẩm của mình nhiều
nhất. Để thắng trong cạnh tranh, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh luôn tìm

Website: Email : Tel : 0918.775.368
cách nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phi để từ đó giảm giá thành.

Website: Email : Tel : 0918.775.368
hàng là người cho vay, còn người đi vay là các tổ chức, cá nhân trong xã hội,
trên nguyên tắc người đi vay sẽ hoàn trả cả vốn lẫn lãi vào một thời điểm xác
định trong tương lai như hai bên đã thoả thuận”.
1.2. Đặc trưng của tín dụng ngân hàng.
TDNH được cấu thành nên từ sự kết hợp của ba yếu tố chính là: lòng tin
(sự tin tưởng vào khả năng hoàn trả đầy đủ và đúng thời hạn của người cho vay
đối với người đi vay); thời hạn của quan hệ tín dụng, sự hứa hẹn hoàn trả cụ thể
như sau:
Thứ nhất là lòng tin: Trong quan hệ tín dụng “lòng tin” được biểu hiện từ
nhiều phía, không chỉ có lòng tin từ một phía người cho vay đối với người đi
vay. Nếu người cho vay không tin tưởng vào khả năng hoàn trả của người đi vay
thì quan hệ tín dụng có thể không phát sinh và ngược lại, nếu người đi vay cảm
nhận thấy người cho vay không thể đáp ứng được yêu cầu về khối lượng tín
dụng, về thời hạn… thì quan hệ tín dụng cũng không phát sinh. Tuy nhiên, trong
quan hệ tín dụng lòng tin của người cho vay đối với người đi vay quan trọng
hơn niều bởi lẽ người cho vay là người giao phó tiền bạc hoặc tài sản của họ cho
người khác sử dụng.
Thứ hai là tính thời hạn: Khác với các quan hệ mua bán thông thường
khác, quan hệ tín dụng chỉ trao đổi quyền sử dụng giá trị khoản vay chứ không
trao đổi giá trị khoản vay. Người cho vay giao giá trị khoản vay dưới dạng hàng
hoá hay tiền tệ cho người kia sử dụng trong một thời gian nhất định. Sau khi
khai thác giá trị sử dụng của khoản vay trong thời hạn cam kết, người đi vay
phải hoàn trả toàn bộ giá tri khoản vay cộng thêm khoản lợi tức hợp lý kèm theo
như cam kết đã giao ước với người cho vay.
Mọi khoản vay dưới dạng hiện vật hay tiền tệ cũng đều là hàng hoá và vì
nó cũng có giá trị và giá trị sử dụng. Trong kinh doanh tín dụng người cho vay
chỉ bán “giá trị quyền sử dụng của khoản vay” chứ không bán “giá trị của khoản
vay”, nên sau khi hết thời hạn sử dụng theo cam kết, khoản vay đó được hoàn trả
về và vẫn giữ nguyên giá trị của nó, phần lợi tức theo thoả thuận nếu có là “giá

thể, dân cư.
• Phân loại theo mục đích sử dụng.
- Tín dụng đối với bất động sản: Là loại tín dụng liên quan đến việc mua

Website: Email : Tel : 0918.775.368
bán và xây dựng nhà ở, đất đai…
- Tín dụng công nghiệp và thương mại: Là loại tín dụng ngắn hạn hoặc
dài hạn để bổ sung vốn ngắn hạn hoặc trung dài hạn cho các doanh nghiệp trong
lĩnh vực công nghiệp thương mại và dịch vụ.
- Tín dụng nông nghiệp: Là loại tín dụng để trang trải các chi phí sản
xuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động,
nhiên liệu…
- Các loại tín dụng khác.
• Phân loại theo thời hạn:
- Tín dụng ngắn hạn: Tín dụng có thời hạn dưới 12 tháng và được sử
dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu
chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Đối với Ngân hàng thương mại tín dụng cá nhân
chiếm tỷ trọng cao.
- Tín dụng trung hạn: Thời hạn của tín dụng trung hạn thường là không
cố định. Trước đây thời hạn mà NHNN đưa ra đối với tín dụng trung hạn là 1-3
năm. Tuy nhiên đến nay, để đáp ứng yêu cầu vay của doanh nghiệp, các Ngân
hàng thương mại đã đưa thời hạn này lên 5 năm. Việc nâng thời hạn tín dụng lên
5 năm đã đáp ứng tốt hơn nhu cầu của doanh nghiệp vì đối với một số tài sản cố
định có thời hạn sử dụng tương đối dài nên cầu phải có thời gian đủ lớn doanh
nghiệp mới có thể hoàn trả gốc và lãi cho Ngân hàng và sẽ giúp doanh nghiệp
tránh rơi vào tình trạng nợ quá hạn. Còn đối với các nước khác trên thế giới thời
hạn này lên tới 7 năm.
- Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng mà thời hạn của nó dài hơn đối với
tín dụng trung hạn. Loại tín dụng này được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài
hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, các phương tiện vận tải có quy mô lớn,

đáp ứng đầy đủ nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp miễn là các doanh nghiệp
có đáp ứngđược các điều kiện cho vay của ngân hàng. Như vậy,tín dụng ngân
hàng đã đảm bảo cho quá trình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
không bị ngưng trệ.
• Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh
của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bản chất của TDNH không phải là hình thức cấp phát vốn mà là hoàn trả
cả gốc và lãi sau một thời hạn quy đinh. Do đó, các doanh nghiệp sau khi sử
dụng vốn vay trong sản xuất kinh doanh không chỉ cần thu hồi vốn là đủ mà còn
phải tìm ra nhiều biện pháp để sử dụng vốn có hiệu quả, tiết kiệm, tăng nhanh
vòng quay của vốn, đảm bảo tỷ suất lợi nhuận lớn hơn lãi suất Ngân hàng thì
doanh nghiệp mới đảm bảo trả được nợ và thu lãi.
Về phía Ngân hàng, khả năng thu hồi khoản cho vay phụ thuộc rất lớn vào
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn, Vì vậy, trước
khi cho vay Ngân hàng thường xem xét đánh giá rất kỹ phương án sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, Ngân hàng chỉ cấp tín dụng cho các doanh nghiệp có
phương án khả thi, lợi nhuận đủ cao để có thể trả nợ ngân hàng. Ngoài ra, doanh
nghiệp muốn có được vốn vay ngân hàng thì phải hoàn thiện năng lực tổ chức
quản lý sản xuất kinh doanh để đảm bảo kinh doanh có hiệu quả. Thêm vào đó,
trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng tín dụng, Ngân hàng sẽ thực hiện quy trình
giám sát, kiểm tra, kiểm soát trong và sau khi cho vay, thông qua việc làm đó
Ngân hàng giám sát chặt chẽ việc sử dụng vốn vay của doanh nghiệp, buộc các
doanh nghiệp phải thực hiện đúng những điều khoản như đã thoả thuận trong
hợp đồng, sử dụng vốn đúng mục đích để đem lại hiệu quả cao nhất.
Một yếu tố khác là do quyền lợi của Ngân hàng luôn gắn chặt với quyền
lợi của khách hàng, nên ngân hàng sẽ sẵn sàng hợp tác với doanh nghiệp để tháo
gỡ những khó khăn trong phạm vi cho phép, tư vấn cho các doanh nghiệp về các
vấn đề có liên quan, tạo điều kiện giúp doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh

nói riêng luôn phải tiến hành đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ của mình nhằm
thu hút được khách hàng. Chính sách sản phẩm mà trong đó tập trung nhiều vào
việc đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm là một biện pháp thiết thực, hữu
hiệu nhất cho hầu hết các doanh nghiệp hiện nay.
Có thể nói, chất lượng của một sản phẩm hay một dịch vụ đều được biểu
hiện ở mức độ thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng và lợi ích về mặt tài chính
cho người cung cấp. Theo cách đó, trong kinh doanh tín dụng ngân hàng, chất
lượng tín dụng được thể hiện ở sự thoả mãn nhu cầu vay vốn của khách hàng,
phù hợp với sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự tồn
tại và phát triển của ngân hàng.

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Với mỗi bên tham gia vào hoạt động tín dụng thì chất lượng tín dụng lại
được hiểu một cách khác nhau.
Đối với NHTM: chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạn
tín dụng phải phù hợp khả năng thực lực của bản thân Ngân hàng và đảm bảo
được tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi.
Đối với khách hàng: do nhu cầu vay vốn tín dụng của khách hàng là để
đầu tư cho các hoạt động sản xuất kinh doanh nên chất lượng tín dụng được
đánh giá theo tính chất phù hợp với mục đích sử dụng của khách hàng với mức
lãi suất và kỳ hạn hợp lý. Thêm vào đó là thủ tục vay đơn giản, thuận lợi, thu hút
được nhiều khách hàng nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng.
Đối với nền kinh tế: đối với sự phát triển kinh tế - xã hội chất lượng tín
dụng được đánh giá qua mức phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hoá, góp phần
giải quyết công ăn việc làm, khai thác các khả năng trong nền kinh tế, thúc đẩy
quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng
trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế, hoà nhập với cộng đồng quốc tế.
Hiểu đúng về bản chất của chất lượng tín dụng, phân tích và đánh giá
đúng những tồn tại về chất lượng sẽ giúp cho ngân hàng tìm được biện pháp
quản lý thích hợp để có thể đứng vững trong nền kinh tế thị trường. Trong

hướng ngày càng tăng.
Tổng dư nợ quá hạn
- Tỷ lệ nợ quá hạn = × 100%
Tổng dư nợ cho vay
Tổng dư nợ các món vay phát sinh nợ quá hạn
- Tỷ lệ đầu tư rủi ro =
Tổng dư nợ cho vay
Cả hai chỉ tiêu này đều giúp ngân hàng quản lý rủi ro các khoản cho vay,
tuy nhiên sự khác biệt giữa hai tỷ lệ là nợ quá hạn chỉ xem xét đến giá trị quá
hạn của khoản nợ trong khi đó thì tỷ lệ đầu tư rủi ro xem xét toàn bộ món vay
phát sinh nợ quá hạn.
Hai chỉ tiêu này đều chịu ảnh hưởng của chính sách xoá nợ, một ngân
hàng có chính sách tốt là phải thiết lập được quỹ dự phòng rủi ro đủ mạnh và

Website: Email : Tel : 0918.775.368
thông báo định kỳ về những món vay không có khả năng thu hồi, để tránh tình
trạng trong một lúc ngân hàng phải thông báo con số nợ không có khả năng thu
hồi quá lớn làm giảm tài sản của ngân hàng một cách nghiêm trọng. Tuy nhiên
nếu ngân hàng thực hiện việc xoá nợ quá nhanh thì hai tỷ lệ này ở mức thấp
nhưng không có ý nghĩa thực tế. Thông thường khi lập bảng theo dõi nợ quá hạn
ngân hàng thường phân loại nợ quá hạn theo thời gian với các mốc là 180, 360
ngày kể từ ngày thu nợ. Sự phân loại này có ý nghĩa trong việc quản lý và đánh
giá chất lượng tín dụng để thiết lập dự phòng mất vốn.
Ngoài ra người ta còn xem xét chỉ tiêu sau:
Nợ khó đòi/ tổng nợ quá hạn.
Hoặc
Nợ khó đòi/ tổng dư nợ
Khi nợ quá hạn tồn tại đến một thời điểm nào đó và khả năng không thu
hồi được là cao thì khoản nợ này được coi là khoản nợ khó đòi. Khi một khoản
nợ được coi là khó đòi thì đồng nghĩa với nó là việc Ngân hàng sẽ khó có khả

Chất lượng tín dụng còn được đánh giá thông qua chỉ tiêu lợi nhuận thu
được từ hoạt động tín dụng. Chênh lệch lợi nhuận ở các thời kỳ khác nhau cho
biết sự tăng hay giảm của chất lượng tín dụng trong thời kỳ này.
Trong kinh doanh, tín dụng phải thực hiện lãi suất dương, có nghĩa là lãi
suất đầu ra cao hơn lãi suất đầu vào cộng với các chi phí nghiệp vụ ngân hàng.
Nguồn thu từ hoạt động kinh doanh là nguồn thu chủ yếu để ngân hàng tồn tại
và phát triển. Ngân hàng có thể tuỳ từng thời gian, điều kiện kinh doanh cụ thể
để có chính sách khách hàng hợp lý nhưng vẫn đảm bảo cho hoạt động tín dụng
có hiệu quả. Lợi nhuận do tín dụng đem lại chứng tỏ các khoản cho vay không
những thu hồi được cả gốc mà còn thu được lãi, đảm bảo độ an toàn của đồng
vốn cho vay.
- Lãi treo: Phản ánh mặt trái của chất lượng tín dụng. Đây là số tiền lẽ ra
nguồn thu của ngân hàng nhưng thực tế đơn vị vẫn chưa trả. Số lượng và tốc đọ
tăng của lãi treo là một trong những dấu hiệu tiềm ẩn của chất lượng tín dụng là
không tốt.Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tổng lãi treo
Tỷ lệ lãi treo =
Tổng dư nợ
Thông thường chỉ tiêu này được tính cho từng tháng, quý, năm (tùy theo
yêu cầu quẩn lý).
Ngoài việc việc sử dụng các chỉ tiêu định lượng trên, hiện nay nhiều ngân
hàng còn sử dụng các chỉ tiêu định tính để đánh giá chất lượng tín dụng như việc
tuân thủ các quy chế, chế độ thể lệ tín dụng, lập hồ sơ cho vay, phương án sản
xuất kinh doanh…
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng.
Để đưa ra nhưng giả pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng tín dụng
đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, cần phải quan tâm tới các nhân tố ảnh

• Quy trình tín dụng: Quy trình bắt đầu từ khâu chuẩn bị cho vay, phát
tiền vay, kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay, đến khi thu hồi được nợ, tất cả phải
được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định. Làm tốt công tác này sẽ tạo tiền đề
cho việc thu hồi vốn và lãi khi đến hạn thanh toán, tạo tiền đề cho vốn tín dụng
luân chuyển nhanh. Trước khi quyết định cho vay cần cân nhắc các mặt sau:
Sự an toàn của vốn vay và khả năng trả khi đến hạn.
Sự phù hợp giữa cấp vốn tín dụng với tình hình kinh tế hiện tại.
Khả năng sinh lời của vốn tín dụng.
Khâu quản lý và giám sát phải được thể hiện ở việc thường xuyên kiểm
tra sổ sách và thực tế triển khai công việc kinh doanh có được thực hiện đúng
mụ tiêu, đối tượng và tiến độ không để từ đó giải ngân một cách hợp lý.
Thu nợ và thanh toán nợ là khâu quan trọng quyết định sự tồn tại vững
chắc của ngân hàng, cho nên phải nhạy bén, kịp thời phát hiện những điều kiện
bất lợi xảy ra.
• Kiểm soát nội bộ: Đây là hoạt động mang tính thường xuyên và cần
thiết đối với mọi hoạt động ngân hàng. Công tác kiểm tra nội bộ hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng càng thường xuyên, chặt chẽ sẽ càng làm cho hoạt động
tín dụng đúng hướng, thực hiện đúng các nguyên tắc, yêu cầu thể lệ trong quy
chế tín dụng cũng như qui trình tín dụng. Kiểm soát nội bộ là biện pháp mang

Website: Email : Tel : 0918.775.368
tính chất ngăn ngừa, hạn chế những sai sót của cán bộ tín dụng, giúp cho hoạt
động tín dụng kịp thời sửa chữa, tạo điều kiện thuận lợi nâng cao chất lượng tín
dụng.
• Thông tin tín dụng: Hoạt động tín dụng muốn đạt được hiệu quả, an
toàn cần phải có hệ thống thông tin hữu hiệu phục vụ cho công tác này. Vai trò
và yêu cầu thông tin phục vụ công tác tín dụng và kinh doanh ngân hàng là hết
sức quan trọng. Muốn nâng cao chất lượng tín dụng, Ngân hàng cần xây dựng
được hệ thống thông tin đầy đủ và linh hoạt, nhờ đó cung cấp các thông tin
chính xác, kịp thời, tăng cường khả năng phòng ngừa rủi ro tín dụng.

hoàn trả đúng hạn nợ ngân hàng cả gốc lẫn lãi. Nếu trình độ của người quản lý
còn bị hạn chế về nhiều mặt như học vấn, kinh nghiệm thực tế… thì doanh
nghiệp rất dễ bị thua lỗ, dẫn đến khả năng trả nợ kém, ảnh hưởng xấu đến chất
lượng tín dụng của Ngân hàng.
3.3. Các nhân tố khác.
• Môi trường kinh tế
Tính ổn định hay bất ổn về kinh tế và chính sách kinh tế của mỗi quốc gia
luôn có tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp. Tính ổn định về kinh tế mà trước hết và chủ yếu là ổn định về tài
chính quốc gia, ổn định tiền tệ, lạm phát là những điều mà các doanh nghiệp
kinh doanh rất quan tâm vì nó liên quan trực tiếp đến kết quả kinh doanh của
doanh nghiệp. Nền kinh tế ổn định sẽ là điều kiện, môi trường thuận lợi để các
doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh và thu được lợi nhuận cao, từ đó
góp phần tạo nên sự thành công trong kinh doanh của ngân hàng. Trong trường
hợp ngược lại, sự bất ổn tất nhiên cũng bao trùm đến các hoạt động của ngân
hàng, làm ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng, gây tổn thất cho ngân hàng.
Và không thể không xét đến yếu tố cạnh tranh của nền kinh tế. Có thể nói
đây là yếu tố tác động mạnh mẽ đến chất lượng tín dụng nói riêng và hoạt động
kinh doanh nói chung của NHTM . Sự tác động đó diễn ra theo hai chiều hướng:
thứ nhất, để chiếm ưu thế trong cạnh tranh ngân hàng luôn phải quan tâm đến
đầu tư trang thiết bị tốt, tăng cường đội ngũ nhân viên có trình độ, củng cố và
khuyếch trương uy tín và thế mạnh của ngân hàng. Hướng tác động này đã tạo
điều kiện nâng cao chất lượng tín dụng. Tuy nhiên, ở hướng thứ hai, dưới áp lực

Website: Email : Tel : 0918.775.368
của cạnh tranh gay gắt các ngân hàng có thể bỏ qua những điều kiện tín dụng
cần thiết khiến cho độ rủi ro tăng lên, làm giảm chất lượng tín dụng.

Môi trường pháp lý
Trong nền kinh tế thị trường, mọi thành phần kinh tế đều có quyền tự chủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status