Nâng cao chất lượng tín dụng đối với thành phần kinh tế ngoài quốc danh tại chi nhánh NH ACB Hải Phòng - Pdf 89

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU Trang
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
ĐỐI VỚI KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH…………………………… 1
1.TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ NGOÀI QUỐC
DOANH…………………………………1
1.1. Khái niệm về kinh tế ngoài quốc doanh………………………………1
1.2. Đặc điểm của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở nước ta hiện nay.2
1.3. Vai trò của kinh tế ngoài quốc doanh đối với nền kinh tế nước ta…3
2. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI KINH TẾ NGOÀI QUỐC
DOANH………………5
2.1. Tín dụng ngân hàng………………………………………………………5
2.1.1. Khái niệm…………………………………………………………………………5
2.1.2.Nguyên tắc của tín dụng ngân hàng……………………………………………6
2.2. Phân loại tín dụng ngân hàng……………………………………………6
3. CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN
HÀNG………………………………………………7
3.1. Chất lượng tín dụng ngân hàng………………………………………….7
3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng…………..8
3.2.1. Về phía ngân hàng……………………………………………………………...8
3.2.2. Về phía khách hàng……………………………………………………………..9
3.2.3.Các nhân tố khác………………………………………………………………10
CHƯƠNG II: HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI THÀNH PHẦN KINH
TẾ NGOÀI QUỐC DOANH TẠI NHTM CỔ PHẦN Á CHÂU HẢI PHÒNG
……………………………………………………………………….11 1. KHÁI
QUÁT VỀ NHTM CỔ PHẦN Á CHÂU HẢI PHÒNG……………………11
1.1. Giới thiệu chung…………………………………………………………..11
1.2. Cơ cấu tổ chức…………………………………………………………….11
Trang 1
1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM Cổ phần Á châu Hải Phòng
trong thời gian qua……………………………………………………….13

tranh bình đẳng theo luật chơi chung do cộng đồng quốc tế quy định. Doanh nghiệp
ngoài quốc doanh của ta chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có vai trò đặc biệt
quan trọng tạo việc làm, tạo thu nhập, góp phần ổn định đời sống xã hội.
Tuy nhiên, ngoài những điều kiện kinh tế xã hội như thị trường, thiết bị công
nghệ, nhà xưởng, trình độ quản lý, trình độ tay nghề…để đảm bảo phát triển nhanh,
mạnh và có hiệu quả đối với các đơn vị ngoài quốc doanh trong quá trình hội nhập
thì một điều không thể không nhắc đến là điều kiện về vốn. Mọi hoạt động kinh
doanh đều cần vốn tài chính, trong khi các đơn vị này lại rất hạn hẹp và gặp nhiều
khó khăn. Trong khi đó, các ngân hàng thương mại còn e ngại khi cho thành phần
kinh tế ngoài quốc doanh vay, nguyên nhân chính là do chất lượng tín dụng đối với
thành phần kinh tế này còn chưa cao. Điều này đã ảnh hưởng ít nhiều đến sự phát
triển kinh tế.
Bởi vậy, sau khi thực tập tại NHTM Cổ phần Á châu Hải Phòng và nhận thức rõ
những khó khăn mà Ngân hàng đang phải đối mặt trong hoạt động tín dụng, đề tài
“Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với thành phần kinh tế ngoài
quốc doanh” đã được chọn để nghiên cứu và phát triển thành luận văn tốt nghiệp.
Do nhận thức còn hạn chế và thời gian học hỏi còn chưa nhiều, bài viết không
thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của
các thầy cô giáo nhằm hoàn thiện hơn về bài viết này.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Nguyễn Ngọc Minh , Ban lãnh đạo cùng
cán bộ nhân viên công tác tại NHTM Cổ phần Á châu Hải Phòng đã giúp đỡ và
hướng dẫn em hoàn thành luận văn này.
Trang 3
CHƯƠNG I

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KINH TẾ
NGOÀI QUỐC DOANH
1.TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH
1.1. Khái niệm về kinh tế ngoài quốc doanh
Kinh tế ngoài quốc doanh là loại hình kinh tế khá phong phú, bao gồm mọi loại

quyền đưa ra các quyết định. Cũng do quy mô hoạt động nhỏ nên họ được tự do
hành động, họ có khả năng tự quyết, nên họ có thể chớp lấy những cơ hội kinh
doanh thuận lợi. Vì vậy, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có sự thích ứng nhanh
với sự thay đổi của thị trường. Việc thâm nhập vào thị trường hàng hoá trong giai
đoạn này, sẽ đem lại cho doanh nghiệp thành công và khi sản phẩm bị thị trường từ
chối thì doanh nghiệp dễ dàng rút lui và lựa chọn mặt hàng kinh doanh khác trong
phạm vi được phép sao cho có lợi nhất phù hợp với khả năng của mình. Vì vậy đây
là một thế mạnh để doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia thị trường với các
doanh nghiệp Nhà nước.
- Cơ cấu quản lý linh hoạt:
Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thường thích hợp với những cơ cấu tổ chức
đơn giản. Số lượng nhân viên ít và các nhân viên này thường phải đảm nhận công
việc theo kiểu đa năng. Phần lớn các chủ doanh nghiệp vừa phải đảm nhận vai trò
quản trị (điều hành và chỉ huy nhân viên) vừa phải đảm nhiệm vai trò lãnh đạo (tìm
kiếm và quyết định cơ hội đầu tư). Mặt khác, vốn của thành phần kinh tế này là do
những chủ thể kinh doanh tình nguyện đóng góp, do các cổ đông đóng góp hay do
liên doanh liên kết… bằng tiền hoặc tài sản. Vì thế họ có toàn quyền quyết định
ngành nghề kinh doanh phù hợp với khả năng, trình độ nhu cầu của thị trường đối
với loại hàng hoá mà họ sẽ kinh doanh. Mặc dù quy mô hoạt động khá bé nhỏ, song
đó lại là một lợi thế cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng vòng quay vốn,
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
- Chi phí gián tiếp thấp:
Trang 5
Đặc điểm của một doanh nghiệp ngoài quốc doanh là một người chủ và số nhân
viên làm việc không thường xuyên, giúp cho chi phí thấp. Chi phí gián tiếp thấp tạo
lợi thế cạnh tranh về giá của các sản phẩm cuối cùng. Chủ doanh nghiệp có tinh thần
trách nhiệm cao vì lợi ích của họ gắn liền với sự thành bại của doanh nghiệp. Cũng
chính vì vậy, họ đòi hỏi nhân viên làm việc nghiêm túc và hiệu quả, giảm thiểu sự
lãng phí nguồn lực vẫn thường gặp ở các doanh nghiệp quốc doanh. Do vậy khối
luợng vốn để hỗ trợ cho từng doanh nghiệp sẽ không lớn, hiệu quả và sử dụng vốn

chức, cùng với việc sử dụng kỹ thuật sản xuất cần tương ứng nhiều lao động vì đây
là nơi cung cấp việc nhanh nhất, giúp tạo việc làm với số vốn thấp hơn nhiều so với
doanh nghiệp có quy mô lớn.
Trong những năm gần đây, cùng với số lao động được giải quyết việc làm bằng
vốn đầu tư của ngân sách Nhà nước, đã có khá nhiều lao động có thêm việc làm do
các đơn vị tư nhân bỏ vốn vào kinh doanh. Hàng năm có khoảng một triệu lao động
có việc làm được tạo ra chủ yếu nhờ khu vực kinh tế này.
Thứ hai, kinh tế ngoài quốc doanh tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh, là động lực
phát triển của nền kinh tế.
Trước đây hầu hết các lĩnh vực kinh tế, các ngành nghề sản xuất kinh doanh đều
do khu vực kinh tế quốc doanh đảm nhận. Sự phát triển của kinh tế ngoài quốc
doanh đã tác động mạnh mẽ đến doanh nghiệp Nhà nước, buộc các doanh nghiệp
này phải đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức kinh doanh để tồn tại và đứng
vững trong cơ chế thị trường. Như vậy, sự phát triển của khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh đã góp phần quan trọng hình thành và xác lập vị trí của chủ thể sản xuất kinh
doanh theo yêu cầu của cơ chế thị trường, đẩy nhanh việc hình thành nền kinh tế
nhiều thành phần, thúc đẩy cải cách doanh nghiệp nhà nước, cải tổ cơ chế quản lý
theo hướng thị trường, mở cửa hợp tác với bên ngoài, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Thứ ba, kinh tế ngoài quốc doanh phát triển góp phần tăng thu ngân sách Nhà
nước.
Sản xuất kinh doanh phát triển là tiền đề tạo ra nguồn thu ngân sách Nhà nước.
Do vậy, để tăng nguồn thu cho ngân sách, biện pháp quan trọng nhất là không
ngừng phát triển kinh tế và đời sống xã hội. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tồn
tại và phát triển là phần đóng góp to lớn cho ngân sách Nhà nước( khoảng 30%)
Trang 7
thông qua thuế và các khoản khác. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có vai trò điều
hoà thu nhập cũng như đóng góp vào ngân sách Nhà nước.
Thứ tư, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đóng góp cho nền kinh tế một khối
lượng hàng hoá lớn, dịch vụ phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Bằng việc sản xuất hàng hoá, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã góp phần to

vay sẽ hoàn trả vốn lẫn lãi vào một thời điểm xác định trong tương lai như hai bên
đã thoả thuận”.
2.1.2 Nguyên tắc của tín dụng ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng được tiến hành với nguyên tắc sau:
a. Ngyên tắc có mực đích: Phục vụ cho một hoạt động sản xuất kinh doanh nhất
định, hoặc đối tượng cụ thể như để mua sắm nguyên vật liệu thiét bị máy móc….
Ngân hàng chỉ chấp nhận cho vay khi xác định rõ mục đích của người xin vay.
b. Nguyên tắc hoàn trảcả gốc và lãi: Khác với quan hệ mua bán thông thường khác,
quan hệ tín dụng chỉ trao đổi quyền sử dụng giá trị khoản vay chứ không trao đổi
giá trị khoản vay. Người cho vay giao giá trị khoản vay dưới dạng hàng hoá hay tiền
tệ cho người kia sử dụng trong một thời gian nhất định. Sau khi khai thác sử dụng
khoản vay trong thời gian cam kết, người đi vay phải hoàn trả toàn bộ giá trị khoản
vay cộng thêm khoản lợi tức hợp lý kèm theo như cam kết đã giao ước với người
cho vay.
Đây là đặc trưng thuộc về vận động của tín dụng và là dấu ấn để phân biệt phạm
trù tín dụng ngân hàng với tín dụng khác. Sau khi kết thúc một vòng tuần hoàn tín
dụng trở về trạng thái tiền tệ, vốn tín dụng được người đi vay hoàn trả Ngân hàng
đúng thời hạn kèm theo phần lãi như đã thoả thuận.
c. Nguyên tắc có đảm bảo:Mọi khoản vay phải có một lượng giá trịtài sản đảm bảo.
Việc đảm bảo khoản vay nhằm phòng ngừa những rủi ro khi người vay gặp trắc trở
không trả được nợ. Đối với những doanh nghiệp có uy tín, có khả năng tài chính và
sản xuất kinh doanh ổn định luôn trả nợ sòng phẳng thì có thể dùng tín chấp.
2.2. Phân loại tín dụng ngân hàng.
Có nhiều loại tín dụng khác nhau tuỳ theo phương thức phân chia, như phân chia
theo đối tượng quan hệ tín dụng, phân chia theo kỳ hạn, mục đích sử dụng vốn vay,
theo hình thức bảo đảm…
. Phân loại theo đối tượng quan hệ tín dụng:
Trang 9
-Tín dụng đối với kinh tế quốc doanh: là loại tín dụng liên quan đến các chủ thể là
thành phần kinh tế quốc doanh.

triển kinh tế - xã hội của đát nước, đồng thời đảm bảo sự tồn tại và phát triển của
ngân hàng.
Với mỗi bên tham gia vào hoạt động tín dụng thì chất lượng tín dụng lại được
hiểu một cách khác nhau.
Đối với NHTM : Chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạn tín
dụng phải phù hợp khả năng thực lực của bản thân Ngân hàng và đảm bảo được tính
cạnh tranh trên thị trương với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi.
Đối với khách hàng: Do nhu cầu vay vốn tín dụng của khách hàng là để đầu tư
cho các hoạt động sản xuất kinh doanh nên chất lượng tín dụng được đánh giá theo
tính chất phù hợp với mục đích sử dụng của khách hàng với mức lãi suất và kỳ hạn
hợp lý, thủ tục vay đơn giản, thuận lợi nhưng vẫn đảm bảo nguyên tác tín dụng.
Đối với nền kinh tế: Chất lượng tín dụng được đánh giá qua mức phục vụ sản xuất
và lưu thông hàng hoá, góp phần giải quyết việc làm, khai thác các khả năng trong
nền kinh tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tẳng trưởng
kinh tế.
Hiểu đúng về bản chất của chất lượng tín dụng, phân tích và đánh giá đúng những
tồn tại về chất lượng sẽ giúp cho ngân hàng tìm được biện pháp quản lý thích hợp
để có thể đứng vững trong nền kinh tế thị trường.
3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng
Để đưa ra những giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng tín dụng đối với
khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, cần phải quan tâm tới các nhân tố ảnh hưởng đến
nó, chúng ta sẽ lần lượt xem xét các nhân tố về phía ngân hàng, khách hàng và các
nhân tố khác.
3.2.1. Về phía ngân hàng.
. Chất lượng cán bộ: Con người luôn là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong
mọi hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt đọng ngân hàng nói riêng. Ngân hàng
cần phải có đội ngũ cán bộ tín dụng giỏi, am hiểu về thị trường đầu tư vốn. Trong
bố trí sử dụng, người cán bộ cần phải sàng lọc kỹ, thường xuyên bồi dưỡng nghiệp
vụ và kiến thức cần thiết, có đạo đức và sự liêm khiết, bởi lẽ người cán bộ tín dụng
thiếu trách nhiệm hay cố tình vi phạm có thể gây tổn thất rất lớn cho ngân hàng.

bị hạn chế thì doanh nghiệp dễ bị thua lỗ, dẫn đến khả năng trả nợ kém, ảnh hưởng
xấu đến chất lượng tín dụng của ngân hàng.
3.2.3. Các nhân tố khác
. Môi trường kinh tế: tính ổn định về kinh tế mà trước hết là ổn định về tài chính
quốc gia, vấn đề lạm phát là những điều mà những doanh nghiệp rất quan tâm vì nó
liên quan trực tiếp kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
. Môi trường pháp lý: Hoạt động của ngân hàng phải tuân thủ theo quy định của
nhà nước, luật tổ chức tín dụng, luật dân sự và các quy định khác. Nếu quy định
pháp luật không rõ ràng, không đồng bộ và có nhiều kẽ hở rất khó khăn cho ngân
hàng trong mọi hoạt động.
. Thảm hoạ thiên nhiên: Các yếu tố do thiên nhiên gây ra lũ lụt, hoả hoạn, động
đất, dịch bệnh…có thể gây ra những thiệt hại không lường trước được cho cả người
và ngân hàng.
CHƯƠNG II
HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI THÀNH PHẦN KINH TẾ NGOÀI QUỐC
DOANH TẠI NHTM CỔ PHẦN Á CHÂU HẢI PHÒNG
1.KHÁI QUÁT VỀ NHTM CỔ PHẦN Á CHÂU HẢI PHÒNG.
1.1. Giới thiệu chung.
Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu là một ngân hàng thương mại cổ phần
Việt Nam đăng ký hoạt động tại nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Chi
Trang 13
nhánh NHTM Cổ phần Á châu Hải Phòng được thành lập theo quyết định số 0032/
NH-GP ngày 15/12 /1995 của thành phố Hải Phòng. Đây là một chi nhánh phụ
thuộc, có trụ sở tại 69 Điện Biên Phủ Hải Phòng. Hoạt động chính của ngân hàng là
huy động vốn ngắn, trung và dài hạn theo các hình thức tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi
thanh toán, chứng chỉ tiền gửi; tiếp nhận vốn uỷ thác đầu tư và phát triển; nhận vốn
từ các tổ chức tín dụng khác; cho vay ngắn, trung và dài hạn; chiết khấu thương
phiếu, công trái và các giấy tờ có giá; đầu tư vào các tổ chức kinh tế; làm dịch vụ
thanh toán giữa các khách hàng; kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc và thanh toán quốc
tế; huy động vốn từ nước ngoài; và cung cấp các dịch vụ ngân hàng khác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status