Xây dựng giải pháp kết nối SMS gateway cho dịch vụ cung cấp thông tin qua tin nhắn - Pdf 25

d
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ HOÀNG THỊ PHƯƠNG THẢO

XÂY DỰNG GIẢI PHÁP KẾT NỐI SMS GATEWAY
CHO DỊCH VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN
QUA TIN NHẮN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ

HOÀNG THỊ PHƯƠNG THẢO
XÂY DỰNG GIẢI PHÁP KẾT NỐI SMS GATEWAY
CHO DỊCH VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN
QUA TIN NHẮN Ngành: Công nghệ thông tin
Chuyên ngành: Hệ thống thông tin
Mã số: 60 48 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

Chương 1. TỔNG QUAN SMS 6
1.1 Giới thiệu về SMS 6
1.1.1 Khái niệm SMS 6
1.1.2 Luồng gửi tin nhắn 7
1.1.3 Cơ chế gửi tin nhắn 10
1.1.4 Một số ứng dụng 12
1.2 SMSC 13
1.3 SMS Gateway 13
1.4 Các giao thức của SMS Gateway 16
Chương 2. Kannel và giải pháp kết nối SMS Gateway 19
2.1 Giải pháp kết nối tới SMS Gateway 19
2.2 Giới thiệu chung về Kannel 19
2.3 Kiến trúc Kannel 20
2.4 Cài đặt Kannel và cấu hình Kannel 21
2.5 Giải pháp kết nối Kannel 29
Chương 3. Xây dựng và mô phỏng ứng dụng cung cấp nội dung 31
3.1 Động lực phát triển và phạm vi hệ thống 31
3.2 Kiến trúc hệ thống ứng dụng sử dụng Kannel 32
3.3 Xây dựng ứng dụng SMS hỗ trợ tìm kiếm, thuê xe du lịch 33
3.3.1 Phát biểu bài toán 33
3.3.2 Yêu cầu chức năng đối với từng thành phần tham gia 34
3.3.3 Các quy tắc logic phục vụ quá trình suy diễn 37
3.3.4 Các chức năng hệ thống 38
3.3.5 Thiết kế cơ sở dữ liệu 40
Chương 4. Thực nghiệm và đánh giá 41
4.1 Môi trường và các công cụ sử dụng thực nghiệm 41
4.2 Dựng cơ sở dữ liệu và xây dựng tập dữ liệu 41
4.3 Cấu hình SMPPSim 41
4.4 Cấu hình Kannel 42
4.5 Mô phỏng ứng dụng 43

Viện tiêu
chuẩn viễn
thông Châu
Âu.
GSM
Global System For Mobile
Communications

GPRS
General Packet Radio Services

HTML
Hypertext Markup Language

HTTP
Hypertext Transfer Protocol

MSC
Mobile Service Switching
Trung tâm
chuyển mạch
di động.
MMS
Multimedia Message Service
Dịch vụ tin
nhắn đa
phương tiện
RE
Routing Entities


Hình 1.2: Luồng gửi tin nhắn từ điện thoại 8
Hình 1.3: Luồng SMS cơ bản 9
Hình 1.4: Luồng SMS gửi giữa các điện thoại cùng nhà mạng 9
Hình 1.5: Luồng SMS gửi giữa các điện thoại cùng nhà mạng 9
Hình 1.6: Luồng SMS giữa điện thoại và các ứng dụng 9
Hình 1.7: Luồng SMS từ ứng dụng tới điện thoại 10
Hình 1.8: Luồng gửi tin nhắn thông thường 10
Hình 1.9: Luồng gửi tin nhắn khi hai nhà mạng cùng công nghệ SMSC 11
Hình 1.10: Luồng gửi tin nhắn khi hai nhà mạng khác công nghệ SMSC 11
Hình 1.11: Ứng dụng Person-to-person text messaging 12
Hình 1.12: Một ứng dụng gửi tin nhắn văn bản SMS kết nối với nhiều SMSC mà không
có SMS gateway 14
Hình 1.13: Một SMS Gateway hoạt động như một rơ le giữa 2 SMSC 14
Hình 1.14: Ứng dụng gửi tin nhắn văn bản có thể kết nối với nhiều SMSC thông qua
SMS gateway 15
Hình 1.15: Một ứng dụng nhắn tin văn bản kết nối tới nhiều điện thoại hoặc modem
GSM/GPRS thông qua 1 SMS gateway 15
Hình 1.16: Mô hình giao tiếp giữa ESME và SMSC qua SMPP 17
Hình 2.1: Kiến trúc Kannel 21
Hình 3.1: Kiến trúc ứng dụng cung cấp thông tin qua SMS sử dụng Kannel 32
Hình 4.1: Giao diện của web quản lý SMPP Sim 41
Hình 4.2: Giao diện gửi tin nhắn của web quản lý SMPP Sim 42
5 MỞ ĐẦU
Viễn thông là một trong số ít những nghành vẫn giữ được đà tăng trưởng khi nền
kinh tế suy thoái. Sự ra đời của hàng loạt các nhà cung cấp dịch vụ mạng điện thoại di
động, số lượng thuê bao không ngừng tăng lên càng khẳng định vị trí quan trọng của
viễn thông. Trong khi điện thoại cố định đang phát triển cầm chừng thì các dịch vụ di

TDMA(Time Division Multiple Access. Các tiêu chuẩn GSM và SMS được phát triển
đầu tiên bởi ETSI (European Telecomucations Standards Institute). Hiện tại 3GPP
(Third Generation PartnerShip Project) chịu trách nhiệm phát triển và bảo trì các tiêu
chuẩn GSM và SMS.
Dữ liệu được trong tin nhắn SMS bị giới hạn: mỗi tin nhắn SMS có thể chứa
nhiều nhất 140 bytes (1120bit) dữ liệu, bởi vậy mỗi tin nhắn SMS có thể chứa:
- 160 ký tự mã hóa 7 bit (mã hóa 7 bit phù hợp cho các ký tự Latin – tiếng anh).
- 70 ký tự mã hóa theo kiểu 16bit Unicode UCS2 (các ký tự không phải ký tự
Latin, ví dụ chữ Trung Quốc).
Tin nhắn văn bản SMS hỗ trợ ngôn ngữ quốc tế, cụ thể là tất cả các ngôn ngữ
được hỗ trợ bởi Unicode. Ngoài dữ liệu văn bản, các tin nhắn SMS cũng có thể chứa
các dữ liệu nhị phân - nhạc chờ, hình ảnh, logo nhà điều hành, hình động,….
Ưu điểm chính của SMS:
- Các tin nhắn SMS có thể được gửi và nhận bất cứ lúc nào.
- Các tin nhắn có thể gứi tới điện thoai đang tắt máy hoặc không liên lạc được
- SMS ít phiền phức.
- Các tin nhắn SMS có thể được hỗ trợ bởi 100% các điện thoại GSM và chúng
có thể trao đổi với các thiết bị không dây khác.
- SMS là một công nghệ phù hợp với các ứng dụng không dây.
Hạn chế của công nghệ SMS và cách khắc phục:
- Mỗi tin nhắn SMS chỉ có thể chứa một lượng giới hạn dữ liệu. Để có thể khắc
phục nhược điểm này, một tin nhắn văn bản “ghép” có thể chứa nhiều hơn 160
ký tư tiếng Anh. Tin nhắn ghép làm việc như sau: Điện thoại – bên gửi sẽ chia
một tin nhắn dài thành các phần nhỏ hơn và gửi chúng như những tin nhắn SMS
đơn. Khi các tin nhắn SMS này tới đích, điện thoại bên nhận sẽ liên kết chúng
lại thành một tin nhắn dài.
- Mỗi tin nhắn SMS không thể chứa nội dung “giàu phương tiện” như ảnh, ảnh
động và giai điệu. EMS (Enhanced Messaging Service) được phát triển cũng vì
lý do này. Một tin nhắn EMS có thể dễ thay đổi. Ví dụ, bên gửi tin nhắn có thể
chỉ rõ xem đoạn văn bản trong một tin nhắn EMS nên được hiển thị là chữ đậm
1. Tin nhắn được gửi đi từ các SME (Short message entity – thực thể gửi tin
nhắn) tới SMSC (SMS Center).
2. Sau khi thực hiện các xử lý bên trong, SMSC lấy các thông tin về thuê bao
nhận tin nhắn trên HLR (Home Location Register – bộ định vị thường trú của
thuê bao).
3. SMSC gửi tin nhắn tới MSC (Mobile Switching Center – Trung tâm chuyển
mạch dịch vụ)
4. MSC lấy thông tin về thuê bao ở VLR (Visitor location register - bộ định vị
tạm trú của thuê bao).
5. MSC chuyển tin nhắn tới điện thoại
6. MSC sẽ gửi lại SMSC kết quả của thao tác gửi tin nhắn.
7. SMSC sẽ gửi thông tin về kết quả cho SME trong trường hợp SME yêu cầu.

Hình 1.2: Luồng gửi tin nhắn từ điện thoại
Các bước trong luồng gửi tin nhắn từ điện thoại:
1. Tin nhắn được gửi từ điện thoại lên MSC
2. MSC lấy thông tin từ VLR để xác thực thuê bao.
3. MSC gửi thông tin lên SMSC
4. SMSC sẽ chuyển tin nhắn tới SME
Trong luồng thực tế, trước khi chuyển tin nhắn tới SME, SMSC sẽ gửi thông tin
lên SCP (Service Control Point) để kiểm tra xem tài khoản của khách hàng có đủ thực
hiện thao tác gửi tin nhắn hay không.
Tin nhắn có thể được gửi giữa các điện thoại với nhau trong cùng một mạng hoặc
9 khác mạng, cũng có thể được gửi từ điện thoại tới một nhà cung cấp dịch vụ hoặc từ
nhà cung cấp dịch vụ gửi tin nhắn về điện thoại. Hình 1.3, 1.4, 1.5, 1.6. 1.7 lần lượt là


Hình 1.8: Luồng gửi tin nhắn thông thường
1.1.3.2 Tin nhắn ngoại mạng
Là tin nhắn giữa các thuê bao của các nhà mạng khác nhau. Thông thường, có hai
cách khác nhau để truyền các tin nhắn ngoại mạng.
- Chuyển giao tin nhắn trực tiếp trong trường hợp hai nhà mạng sử dụng cùng
một công nghệ.
11
Hình 1.9: Luồng gửi tin nhắn khi hai nhà mạng cùng công nghệ SMSC
- Chuyển giao tin nhắn qua SMS Gateway hoặc một giao thức kết nối được hỗ
trợ bởi cả hai SMSC. Hình 1.10: Luồng gửi tin nhắn khi hai nhà mạng khác công nghệ SMSC
1.1.3.3 Tin nhắn quốc tế
Về bản chất, tin nhắn ngoại mạng có thể chia làm 2 loại: tin nhắn trong nước và
tin nhắn quốc tế. Tin nhắn trong nước (ngoại mạng) là một tin nhắn được gửi từ nhà
mạng này tới nhà mạng khác trong cùng một nước, còn tin nhắn quốc tế là tin nhắn
được gửi từ một nhà mạng của nước này tới một nhà mạng ở nước khác.
Thông thường, phí gửi tin nhắn quốc tế thì cao hơn phí tin nhắn trong nước. Do
đó phí gửi tin nhắn nội mạng <= phí gửi tin nhắn ngoại mạng trong nước <= phí gửi
tin nhắn quốc tế.
Sự tương thích tin nhắn SMS giữa hai mạng trong nước và thậm chí quốc tế
chắc chắn là nhân tố chính xây dựng sự thành công của thế giới SMS.
12
- Thông báo, cảnh báo: SMS là một công nghệ phù hợp cho việc phân phát các
13 thông báo về các sự kiện quan trọng. Có 2 lý do:
o Điện thoại là thiết bị mà hầu hết người sử dụng luôn mang theo. Bất cứ
khi nào có một tin nhắn văn bản được chuyển tới, điện thoại sẽ thông báo
cho bạn qua âm thanh hoặc rung. Bạn có thể kiểm tra nội dung của tin
nhắn ngay lập tức.
o Công nghệ SMS cho phép đẩy thông tin, luôn có một thiết bị kết nối với
server thường xuyên để kiểm tra xem có thông tin gì mới không.
o Một số ví dụ: Email, fax, và voice message notification, thương mại điện
tử, thông báo các giao dịch về thẻ tín dụng,…
Từ các thông tin về các luồng gửi tin nhắn cũng như cơ chế gửi tin nhắn, có thể
thấy rằng, SMSC và SMS Gateway là hai thành phần cơ bản nhất trong hệ thống SMS.
Ngoài ra, giao thức giữa SMSC và SMS Gateway cũng chính là một bài toán trong vấn
đề xây dựng giải pháp kết nối tới SMS Gateway trong ứng dụng cung cấp thông tin
qua tin nhắn.
1.2 SMSC
SMSC (Short Message Service Centrer) là trung tâm dịch vụ nhắn tin ngắn.
SMSC là sự kết hợp giữa phần cứng và phần mềm. SMSC chịu trách nhiệm xử lý các
thao tác SMS trong một mạng không dây. Một tin nhắn SMS được gửi từ điện thoại sẽ
tới SMSC đầu tiên. Sau đó SMSC sẽ chuyển tiếp các tin nhắn này tới đích. Một tin
nhắn SMS cần phải đi qua nhiều thực thể mạng (SMSC và SMS gateway) trước khi tới
đích. Nhiệm vụ chính của một SMSC là định tuyến các tin nhắn SMS, điều chỉnh quá
trình chuyển tin nhắn. Nếu như bên nhận không thể nhận tin nhắn (điện thoại tắt máy,
ngoài vùng phủ sóng) thì SMSC sẽ lưu trữ các tin nhắn này trong một khoảng thời
gian được cấu hình trước và chuyển các tin nhắn này khi bên nhận sẵn sàng.
Ngoài ra SMSC còn có vai trò trong việc tính cước. SMSC còn hỗ trợ rất nhiều
giao thức kết nối mà hay dùng nhất là giao thức SMPP. Chính vì thế sẽ có rất nhiều

Hình 1.12: Một ứng dụng gửi tin nhắn văn bản SMS kết nối với nhiều SMSC mà không
có SMS gateway
Để giải quyết tất cả những vấn đề trên, một SMS Gateway có thể được thiết lập
để xử lý các kết nối với SMSC. Như vậy, một ứng dụng gửi tin nhắn văn bản SMS chỉ
cần biết cách kết nối tới SMS gateway. Để hỗ trợ nhiều SMSC, cần phải thay đổi phần
cài đặt SMS gateway, không phải thay đổi source code của ứng dụng. Việc sử dụng
SMS Gateway có thể rút ngắn thời gian phát triển của ứng dụng gửi tin nhắn văn bản
SMS.

Hình 1.13: Một SMS Gateway hoạt động như một rơ le giữa 2 SMSC
15
Hình 1.14: Ứng dụng gửi tin nhắn văn bản có thể kết nối với nhiều SMSC thông qua
SMS gateway

Hình 1.15: Một ứng dụng nhắn tin văn bản kết nối tới nhiều điện thoại hoặc modem
GSM/GPRS thông qua 1 SMS gateway
Nhiều hệ thống SMS Gateway ra đời dưới dạng cả phần mềm đóng và phần mềm
mã nguồn mở phục vu cho các nhu cầu khác nhau, một số SMS Gateway điển hình
như:
- WinSMS
- Ozeki
- NowSMS
- Kannel: mã nguồn mở
- SMS Server Tools: mã nguồn mở
- Gnokii.org: mã nguồn mở
Các sản phẩm này cho phép người ta xây dựng các hệ thống giá trị gia tăng trên
điện thoại di động mà không cần phải quá quan tâm đến chi tiết của các giao thức gửi

- COM Object API: được sử dụng phổ biến cho những người phát triển ứng dụng
trên môi trường window, tích hợp việc gửi tin nhắn trong ứng dụng của mình.
Trong các giao thức thì SMPP (Short Message Peer to Peer) là giao thức phổ
biến nhất. SMPP là một giao thức mở và là chuẩn công nghiệp được sử dụng trong
việc truyền nhận dữ liệu dưới dạng tin nhắn giữa các ESME (External Short Message
Entities), Routing Entities (RE) và Message Centres(MC). MC là cách gọi chung nhất
cho các tổng đài tin nhắn SMSC. Giao thức SMPP hỗ trợ cho các công nghệ mạng
Digital Cellular gồm có: GSM, CDMA, IDMA, iDEN.
Giao thức SMPP cho phép một ESME có thể khởi tạo kết nối tại tầng ứng dụng
với một SMSC qua mạng TCP/IP hoặc X.25 để gửi và nhận tin ngắn với một SMSC
đó. ESME cũng có thể sử dụng SMPP để truy vấn, bỏ qua hoặc thay thế các tin ngắn.
Giao thức SMPP hỗ trợ:
- Truyền tin từ một ESME tới một hoặc nhiều đích bằng SMSC
- Một ESME cũng có thể nhận tin bằng SMSC từ các SME khác (ví dụ: các
mobile station)
- Truy vấn trạng thái của một tin ngắn được lưu trong SMSC; Bỏ qua hay thay
thế một tin ngắn được lưu trong SMSC.
- Gửi các báo báo
17 - Lên lịch gửi tin theo ngày tháng
- Lựa chọn chế độ của tin, ví dụ: đóng gói hoặc lưu trữ và chuyển tiếp; Thiết lập
mức độ ưu tiên cho tin ngắn
- Định nghĩa kiểu định dạng dữ liệu cho tin ngắn; Thiết lập khoảng thời gian hợp
lệ cho tin ngắn
- Kết hợp một kiểu dịch vụ với từng tin ngắn, ví dụ: voice mail notification

Hình 1.16: Mô hình giao tiếp giữa ESME và SMSC qua SMPP
Một SMPP Session giữa một SMSC và một ESME được khởi tạo bởi ESME

SMSC gửi báo cáo).
- CLOSE (Đã thôi bind và ngắt kết nối): Một ESME đã thôi bind khỏi một SMSC
và đã ngắt kết nối mạng. SMSC có thể thôi bind khỏi ESME.
Một trong những ứng dụng của giao thức SMPP đó là áp dụng vào việc kết nối từ
gateway đến SMSC và từ đó phát triển các dịch vụ liên quan đến SMS ví dụ như
quảng cáo qua SMS, gửi tin nhắn, dịch vụ nhắn tin chủ động.
Để có thể triển khai dịch vụ về SMS, trước tiên, các nhà cung cấp nội dung phải
có đấu nối đến các nhà cung cấp mạng viễn thông, giao thức SMPP được lựa chọn để
thực hiện việc đấu nối này, sau đó nhà cung cấp nội dung đăng kí với nhà cung cấp
mạng viễn thông các đầu số theo một dải số ví dụ 8x55 (x=0,1,2,3,4,5,6,7) với các giá
cước theo quy định, đăng kí các tên theo yêu cầu của khách hàng. Việc tiếp theo các
nhà cung cấp nội dung phải làm đó là xây kịch bản xử lý bản tin khi có yêu cầu tra cứu
từ phía khách hàng. Và cuối cùng là xây dựng các công cụ quản trị, đối soát phục vụ
cho việc phát triển dịch vụ.
Một số dịch vụ phổ biến:
- Dịch vụ nhắn tin qua đầu số để nhận thông tin từ các nhà cung cấp nội dung:
Dịch vụ này đã rất quen thuộc với chúng ta, để sử dụng dịch vụ, khách hàng sẽ
nhắn tin theo cú pháp và gửi tới đầu số ngắn sau đó các CP sẽ trả nội dung về
cho khách hàng. Ví dụ : Để lấy kết quả xổ số miền bắc khách hàng có thể soạn
tin: SXMB gửi 8x55 ….
- Dịch vụ nhắn tin chủ động qua đầu số ngắn: Đây là dịch vụ nhắn tin chủ động,
tức là các nội dung sẽ được gửi tới khách hàng sau khi được kiểm duyệt mà
không cần phải có yêu cầu từ phía khách hàng. Với dịch vụ này, các nhà cung
cấp nội dung hay các tổ chức viễn thông sẽ thực hiện nhắn tin đến khách hàng
thông qua các đầu số ngắn. Dịch vụ này được áp dụng cho các viễn thông tỉnh
thực hiện nhắn tin thông báo cước cho khách hàng, hay các công ty, các doanh
nghiệp nhắn tin thông báo, chúc mừng…

19


2.2 Giới thiệu chung về Kannel
Kannel là một phần mềm mã nguồn mở được khởi tạo bởi Wapit Ltd vào tháng 6
năm 1999 và được tiếp tục phát triển cho đến nay bởi Kannel Group. Kannel hoạt
động như là một SMS Gateway và WAP Gateway. Ngoài ra nó còn có thể hoạt động
như một Push Proxy Gateway. Phiên bản mới nhất tính tới thời điểm hiện tại là 1.5.0.
Hiệu quả của Kannel được chứng nhận ra vào 7/3/2001 tại diễn đàn WAP như là phiên
bản thứ nhất WAP 1.1 gateway trên thế giới. Một điều vô cùng quan trọng là Kannel
hỗ trợ rất nhiều chuẩn kết nối tới SMS Center trong đó có SMPP – chuẩn giao thức kết
nối được dùng bởi hầu hết các nhà cung cấp dịch vụ ở Việt Nam (Vinaphone,
20 Mobiphone, Viettel).
Kannel là một WAP gateway và SMS gateway.
Trong đó SMS – Short message service đã được mô tả chi tiết ở mục 1.1, còn
WAP – Wirelesss Application Protocol, là tập hợp các ngôn ngữ và công cụ và một cơ
sở hạ tầng để cài đặt các dịch vụ cho điện thoại di động. Các dịch vụ truyền thông của
điện thoại là các cuộc gọi hoặc các tin nhắn văn bản thông thường – dễ sử dụng, thân
thiện với người dùng. WAP giúp điện thoại có thể cài đặt các dịch vụ giống như World
Wide Web. Tuy nhiên, WAP không lấy các nội dung tồn tại trên Internet một cách
trực tiếp tới điện thoại do nhiều vấn đề về mặt kỹ thuật và các vấn đề khác. Vấn đề
chính là các nội dung Internet chủ yếu là các trang HTML và chúng được viết để đáp
ứng yêu cầu kết nối nhanh, xử lý nhanh, dung lượng lớn, màn hình lớn, âm thanh…
yêu cầu các cơ chế nhập liệu phù hợp. Các máy tính và mạng chính là phương tiện hữu
ích nhất. Trong khi, các điện thoại cầm tay có bộ xử lý chậm hơn, ít bộ nhớ hơn, băng
thông gián đoạn, màn hình nhỏ, cơ chế nhập liệu hạn chế. Hầu hết các trang HTML sẽ
không làm việc tốt trên các điện thoại này.
Kannel là phần mềm nguồn mở được viết bằng ngôn ngữ lập trình C, phát triển
chính cho môi trường Linux và có thể khá dễ dàng chuyển sang dùng trên các hệ thống
Unix. Để cài đặt và sử dụng Kannel cần phải có các phần mềm sau trong hệ thống:

bzip2 -cd gateway-1.5.0.tar.bz2 | tar xf –
cd gateway-1.5.0
./configure prefix=$install_dir enable-start-stop-daemon
make
make install
Với $install_dir là thư mục mà bạn sẽ cài kannel vào.
Sau khi thực hiện thành công, trong thư mục $install_dir/sbin sẽ có các file sau:
bearerbox, smsbox, wapbox …. File bearerbox là file thực thi chính cho hệ thống của
Kannel, nó sẽ kết nối các thành phần khác của Kannel và phụ trách việc kết nối tới các
SMS Center. File smsbox chính là file đảm nhiệm chức năng gửi nhận tin nhắn SMS.
File wapbox đảm nhiệm chức năng của WAP Gateway.
Cấu hình Kannel
Để sử dụng Kannel, cần phải tạo ra file cấu hình cho hệ thống. File cấu hình
được chia ra làm 3 phần:
- Bearerbox: Chứa một nhóm “core” và được sử dụng bởi các nhóm SMSC
- Smsbox: là một nhóm smsbox và có một số các sms-service và nhóm người sử
dụng sendsms.
- Wappbox: chỉ chứa một nhóm wapbox
File cấu hình chứa các nhóm biến cấu hình của hệ thống. Các nhóm được chia ra
bởi các dòng trống. Mỗi nhóm cấu hình được đại diện bởi một biến group. Các dòng
chú thích có thể đặt sau dấu #.
Các dòng định nghĩa các biến cấu hình có tên của biến đó, dấu bằng ( = ) và giá
trị tương ứng được gán cho biến đó. Tên của biến có thể chứa bất kỳ ký tự nào ngoại
22 trừ dấu trắng và dấu bằng ( = ). Giá trị của biến là một xâu có thể có cặp dấu “” bao
quanh chúng. Cặp dấu “” có tác dụng khi mà giá trị của biến đó có các dấu trắng ở đầu
hay cuối (bình thường các dấu này sẽ bị bỏ đi). Sau đây là một ví dụ:
# A do-nothing service.

- admin-password: Mật khẩu cần khi thực hiện các lệnh điều khiển.
- admin-deny-ip: Dah sách các ip không được phép kết nối, cách nhau bởi dấu
“;”
- admin-allow-ip: Danh sách các ip được phép kết nối, cách nhau bởi dấu “;”
- smsbox-port: Đây là cổng mà bearerbox sẽ mở ra để đợi kết nối từ các
smsbox. Tham số này giúp cho nhiều smsbox có thể kết nối tới một bearerbox
và smsbox không nhất thiết phải chạy trên cùng một máy tính với bearerbox.
Nếu không chỉ định tham số này thì bearerbox sẽ không mở cổng để đợi kết nối
từ smsbox và vì vậy Kannel sẽ không xử lý bất kỳ một tin SMS nào. Trong
23 trường hợp này các chức năng của SMS Gateway sẽ không được sử dụng.
- wapbox-port:Cũng giống như smsbox-port, nhưng là cho các kết nối từ
wapbox. Trong trường hợp không chỉ định các chức năng của WAP Gateway sẽ
không được sử dụng.
- box-deny-ip: Danh sách các địa chỉ IP không được phép kết nối tới bearerbox.
Có thể dùng dấu ‘*’ để đại diện cho một số bất kỳ. Các địa chỉ được phân cách
bởi dấu ‘;’.
- box-allow-ip: Danh sách các địa chỉ IP được phép kết nối tới bearerbox, ngay
cả khi nó nằm trong danh sách box-deny-ip.
- access-log: Tên của tệp sẽ ghi lại các thông tin về việc gửi nhận tin nhắn
SMS qua hệ thống.
Nhóm smsc: Nhóm này chứa các cấu hình cho việc kết nối tới SMS Center. Nó
bao gồm một số các biến cấu hình chung cho tất cả các loại SMS Center và một số
biến cấu hình đặc thù cho từng loại SMS Center.
Các biến cấu hình chung:
- group: Bắt buộc phải là “smsc”.
- smsc: Là xâu chỉ định loại SMS Center. Với các SMS Center dùng giao thức
SMPP thì nó là “smpp”.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status