ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
LƢU THỊ THU HIỀN
NGHIÊN CỨU VỀ TIÊU CHUẨN TRUYỀN HÌNH
THEO PHƢƠNG THỨC IP (IPTV) VÀ KHẢ
NĂNG ỨNG DỤNG Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT ĐIỆN TỬ - VIỄN THÔNG
2.3.4 Các điểm tiếp nhận phát hiện dịch vụ. 29
2.3.5 Thông tin nhận dạng nhà cung cấp dịch vụ 31
2.4 Lựa chọn dịch vụ (Service Selection). 41
2.5 Phƣơng thức truyền. 41
2.5.1 Giao thức quảng bá của thông tin SD&S 42
2.5.2 Giao thức chỉ định (Unicast Delivery) của thông tin SD&S. 45
2.5.3 Yêu cầu chỉ phát ra trong một chu kỳ thời gian tối đa (Maximum Cycle Time).
47
2.5.4 Tín hiệu thay đổi 48
2.6 RTSP Client 49
2.6.1 Sử dụng RTSP trong DVB. 49
2.6.2 Phiên truyền. 49
2.6.3 Thông tin dịch vụ 49
2.6.4 Vấn đề bảo mật 50
2.6.5 DVB sử dụng các phƣơng thức RSTP 51
2.7 Quá trình truyền MPEG-2TS 52
2.7.1 Tóm lƣợc về luồng truyền 52
2.7.2 Giao thức điều khiển truyền thời gian thực- RTCP (Real-time Transport
Control Protocol ) 54
2.7.3 Ghi nhớ thông tin dịch vụ (SI) 55
2.8 Các quy luật mạng 55
2.8.1 Các ràng buộc bắt buộc 56
Lưu Thị Thu Hiền Luận văn Thạc sỹ khoa học
2
2.8.2 Các ràng buộc 56
2.9 Khỏi tạo và điều kiểm soát dịch vụ. 56
4.3.2 Thách thức khi triển khai IPTV tại Việt Nam 89
4.3.3 Một số vấn đề cần giải quyết khi triển khai IPTV tại Việt Nam 92
4.3.4 Đề xuất lộ trình phát triển IPTV ở Việt Nam 94
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Lưu Thị Thu Hiền Luận văn Thạc sỹ khoa học
3
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ADSL
Asymetric Digital Subcriber Line
Đường thuê bao số không đối xứng
ATM
Asynchronous Transfer Mode
Kiểu truyền không đồng bộ
API
Application Programming
Interface
Giao diện lập trình ứng dụng
BSS
Billing Support System
Hệ thống hỗ trợ tính cước
CDN
Content Distribution Network
Mạng phân phối nội dung
Internet Protocol Television
Dịch vụ truyền hình Internet
QoS
Quality of Service
Chất lượng dịch vụ
RTP
Real Time Transport Protocol
Giao thức truyền tải thời gian thực
RTSP
Real Time Streaming Protocol
Giao thức luồng thời gian thực
RTCP
Real Time Transport Control
Protocol
Giao thức điều khiển truyền tải thời
gian thực
SL
Synchronization layer
Lớp đồng bộ hóa
SNR
Signal to Noise Ratio
Tỷ số tín hiệu trên nhiễu
STB
Set-top Box
Thiết bị thu nhận dịch vụ IPTV
TCP
Transmission Control Protocol
Giao thức điều khiển truyền tải
TML
Transport Multiplexer
Hình 9 - Biểu đồ khối của giao thức ngăn xếp trong dịch vụ DVB-IP 23
Hình 10 - Mạng con đơn 24
Hình 11 - Các cổng mạng phân tán. 25
Hình 12 - Mối quan hệ giữa các bản ghi, các payload ID và các đoạn tin. 29
Hình 13 - Các bƣớc cung cấp dịch vụ. 29
Hình 14 - Cú pháp giao thức phân phát SD&S multicast 42
Hình 15 - Quan hệ giữa các bản ghi, đoạn tin và phần tin. 45
Hình 16 - Định dạng nhỏ nhất của gói (Ipv4) 53
Hình 17 - Định dạng tiêu đề RTP 54
Hình 18 - Mô hình tổng thể hệ thống IPTV 63
Hình 19 - Cấu trúc hệ thống Headend 65
Hình 20 - Vai trò của Middleware trong hệ thống IPTV 66
Hình 21 - Chức năng của SMS 67
Hình 22 - Chức năng của CMS 67
Hình 23 - Chức năng của EPG 68
Hình 24 - Cấu trúc hệ thống CDN 70
Hình 25 - Cấu trúc mạng hai lớp 71
Hình 26 - Cấu trúc mạng đa lớp 71
Hình 27 - Cơ chế đăng ký User 74
Hình 28 - Cơ chế huỷ bỏ User 75
Hình 29 - Cơ chế đăng ký thuê bao 76
Hình 30 - Cơ chế huỷ thuê bao 77
Hình 31 - Cơ chế phân phối nội dung 79
Hình 32 - Cơ chế lấy nội dung 80
Hình 33 - Cơ chế xuất bản nội dung 81
Hình 34 - Cơ chế xuất bản EPG 82
Hình 35 - Cơ chế VoD 83
Hình 36 - Thói quen của khách hàng theo độ tuổi 88
Hình 37 - Mức độ chấp nhận của khách hàng đối với IPTV 89
Hình 38 - Giao diện truyền hình IP của nhà cung cấp FPT 96
trường phát triển nhanh nhất trong khu vực đồng thời nhu cầu về băng rộng đang gia
tăng, số lượng thuê bao Internet nói chung và thuê bao ADSL nói riêng đang phát triển
khá nhanh. Bên cạnh đó, Việt Nam đã sẵn sàng về mạng lưới ADSL 2+ và FTTx và
trên các mạng không dây thông qua Wifi từ các điểm truy cập công cộng (Hotspot).
Do đó Việt Nam đã có đủ những yêu cầu cần thiết để bắt tay vào triển khai IPTV.
Lưu Thị Thu Hiền Luận văn Thạc sỹ khoa học
6
Mục đích của đề tài
Nội dung luận văn “Nghiên cứu về tiêu chuẩn truyền hình theo phƣơng
thức IP (IPTV) và khả năng ứng dụng ở Việt Nam” được thực hiện với mục đích
nghiên cứu về cấu trúc của hệ thống IPTV, dựa trên những phân tích và đánh giá từ sự
triển khai trong hệ thống mạng của Tập đoàn Điện lực Việt Nam để đưa ra các phương
án xây dựng mô hình hệ thống IPTV cũng như chất lượng dịch vụ IPTV như một xu
hướng phát triển của truyền hình Việt Nam trong tương lai.
Luận văn bao gồm 4 chƣơng:
Chương 1 Tổng quan về dịch vụ IPTV: Nội dung chương đưa ra khái niệm IPTV, mô
hình hệ thống cung cấp dịch vụ, phương thức phát truyền tín hiệu của IPTV và liệt kê
một số dịch vụ được cung cấp trong hệ thống.
Chương 2 Chuẩn DVB-IP: đưa ra khái niệm về dịch vụ truyền quảng bá tín hiệu video
trên mạng IP. Trong chương này đưa ra các khái niệm và cấu trúc chung của hệ thống
DVB và các công nghệ mang tính nền tảng cho dịch vụ IPTV.
Chương 3 Cấu trúc hệ thống IPTV áp dụng trong Tập đoàn Điện lực Việt Nam: Nội
dung chương đưa ra cấu trúc mô hình của hệ thống IPTV, các cấu trúc của từng thành
phần trong hệ thống. Đồng thời đưa ra các quá trình thủ tục xử lý các yêu cầu của mô
hình IPTV tại EVN.
Chương 4 Xu hướng phát triển IPTV: Nội dung chương đưa ra các phân tích nhận
Hình 1 - Mô hình kết nối hệ thống IPTV
IPTV là công nghệ truyền dẫn hình ảnh kỹ thuật số tới người sử dụng dựa trên
giao thức Internet với kết nối băng rộng. Dịch vụ này thường được cung cấp với điện
thoại trên Internet (Voice over IP - VoIP), video theo yêu cầu (Video on Demand -
VOD) nên thường được gọi là công nghệ tam giác về truyền tải dữ liệu, hình ảnh, âm
thanh
Lưu Thị Thu Hiền Luận văn Thạc sỹ khoa học
8
1.2 Mô hình hệ thống cung cấp dịch vụ IPTV
1.2.1 Mô hình kiến trúc:
Hình 2 - Mô hình mạng IPTV
Mạng truy nhập băng rộng: Hạ tầng mạng IP băng rộng để truyền dịch vụ từ
nhà cung cấp dịch vụ IPTV đến khách hàng. Mạng truy nhập sẽ tận dụng phần hạ tầng
mạng xDSL có sẵn. Để cung cấp dịch vụ với chất lượng tốt và tiêu thụ ít băng thông
khi có đồng thời nhiều truy nhập đến hệ thống, mạng truy nhập băng rộng (B-
RAS/MSS và DSLAM) cần phải được hỗ trợ multicast. Đối với DSLAM, ngoài hỗ trợ
multicast, DSLAM còn cần hỗ trợ IGMP version 2. Ngoài ra, B-RAS/MSS và
DSLAM cũng cần hỗ trợ các giao tiếp Ethernet chuẩn (FE, GE). Mạng cũng phải có
khả năng hỗ trợ QoS từ đầu cuối đến đầu cuối, đảm bảo được băng thông cần thiết và
độ ưu tiên cho các kênh truyền hình quảng bá cũng như các phiên Video theo yêu cầu
đang sử dụng (phải đạt được độ mất gói và jitter tối thiểu). Băng thông xDSL do các
DSLAM cung cấp đến khách hàng phải có khả năng lên đến 4-5 Mbps.
Hình 3 - Sơ đố khối dịch vụ IPTV
Cung cấp các dịch vụ theo yêu cầu: Video theo yêu cầu (Video on Demand -
VoD); âm nhạc theo yêu cầu (Music on Demand - MoD); TV theo yêu cầu (TV on
Demand - TVoD).
Cung cấp các dịch vụ tương tác: thông tin tương tác (InteractivInformation);
truyền hình tương tác (Interactive TV); công ích, từ thiện, trực tuyến (Online
Subscription); đánh bạc trực tuyến (Online Gambling); phỏng vấn trực tuyến (Online
Bill Enquiry); trò chơi (Game); Web; Email; TV thương mại (TV-Commerce).
3. Một số dịch vụ điển hình của IPTV:
IPTV có rất nhiều hình thức dịch vụ khác nhau, nhưng cơ bản bao gồm các dịch
vụ sau:
Lưu Thị Thu Hiền Luận văn Thạc sỹ khoa học
10
Dịch vụ quảng bá (Broadcast Service)
Truyền hình quảng bá: Dịch vụ phát các kênh truyền hình quảng bá thông
thường như các kênh quảng bá VTV1, VTV2, HTV7, HTV9
Linear Broadcast TV with Trick Modes: Truyền hình quảng bá cho phép người
dùng tạm dừng, xem lại, xem tiếp, bỏ qua các đoạn quảng cáo, ghi lại chương
trình bằng các đầu ghi.
Multi-angle service: Dịch vụ cung cấp cho người dùng xem nhiều góc quay của
một phim (như 3D) hoặc một trận bóng đá.
Electronic Program Guide (EPG): Dịch vụ hướng dẫn trực tiếp trên màn hình
về lịch phát sóng, danh sách các phim, cước phí…
Quảng cáo truyền hình truyền thống: Quảng cáo kèm theo các chương trình
truyền hình truyền thống.
Dịch vụ theo yêu cầu (On Demand Service)
Phim theo yêu cầu - Video on Demand (VoD): Cho phép khách hàng lựa chọn
lựa chọn (tương tác).
Quảng cáo chọn lọc (Targeted Advertising): Quảng cáo theo yêu cầu của doanh
nghiệp (tập trung vào một số đối tượng khách hàng nhất định, không quảng bá
toàn mạng).
1.3 Phƣơng thức phát truyền tín hiệu của IPTV
1.3.1 Tổng quan
Nói một cách giản đơn, trong hệ thống IPTV hình ảnh video do các phần cứng
thu thập theo thời gian thực (real time), thông qua phương thức mã hóa (như MPEG
2/4 ) tạo thành các luồng tín hiệu số. Sau đó, thông qua hệ thống phần mềm, IPTV
phát truyền vào mạng cáp. Đầu cuối của các user tiếp nhận, lựa chọn, giải mã và
khuếch đại.
Trong hệ thống IPTV có 2 phương thức truyền đa tín hiệu đã được dự định
trước (scheduled programs). Đó là:
- Phát quảng bá (broadcasting), truyền phát tới mọi nơi
- Phát đến địa điểm theo yêu cầu (on demand).
Nguyên lý hoạt động của hệ thống quảng bá, các chương trình được vẽ trên
hình 1. Trong đó MBone (mạng xương sống của hệ thống đa điểm) chính là đường
trục Internet. Tuy nhiên người sử dụng chỉ theo lệnh của bộ quản lý nội dung (content
manager) để được giới thiệu nội dung chương trình hữu quan. Chương trình cụ thể do
rất nhiều bộ IPTV server thu thập được hoặc cùng do các server của mạng MBone
cung cấp
Hình 4 - Nguyên lý hoạt động của hệ thống quảng bá
Hình 2 minh họa sự hoạt động của hệ thống IPTV phục vụ theo yêu cầu (VOD)
được gọi là IPTV đơn điểm. Trong đó các server của bộ quản lý nội dung được tổ chức
Lưu Thị Thu Hiền Luận văn Thạc sỹ khoa học
BTV truyền đa hướng tới user đầu cuối, truyền hình theo yêu cầu VOD thông qua
Lưu Thị Thu Hiền Luận văn Thạc sỹ khoa học
13
mạng cáp phân phát nội dung CDN (Content Distribution Network) tới địa điểm người
dùng đầu cuối.
3. Mạng đầu cuối (còn gọi là mạng cáp gia đình). Theo các nhà khai thác viễn
thông, thì mạng này là mạng tiếp nối băng rộng xDSL, FTTx+LAN hoặc WLAN.
4. Bộ quản trị bao gồm quản lý nội dung, quản lý cáp truyền, tính cước phí,
quản lý các thuê bao, quản lý các hộp ghép nối STB.
Ta thấy trong mạng IPTV có 3 dạng luồng tín hiệu: luồng quảng bá BTV, luồng
truyền đến địa điểm theo yêu cầu VOD và luồng nghiệp vụ giá trị gia tăng. Như biểu
diễn trên hình 3. Ta xét các phương thức truyền tín hiệu thị tần. Có 3 phương thức
truyền trực tiếp hiện trường, truyền quảng bá có định thời gian và truyền tới điểm
VOD. Khi truyền hình trực tiếp đồng thời ta lấy nội dung này lưu vào bộ nhớ để phát
lại vào truyền hình quảng bá định thời gian hoặc làm nguồn các tiết mục cho truyền
hình VOD. Đối với tiết mục quảng bá có định thời IPTV dùng phương pháp truyền
phát đa điểm IP có tiết kiệm băng tần tức là phương thức multicast. Phương thức này
thực hiện "nhất phát, đa thu". Dùng phương thức này, mỗi tiết mục mạng cáp chỉ phát
một luồng số liệu thời gian thực (real time) không liên quan tới số người xem tiết mục
này. Phương thức này có thể truyền phát cho hàng nghìn thuê bao. Hình 6 - Biểu diễn luồng tín hiệu
Thiết bị đầu cuối IPTV trong gia đình có 2 loại: một là máy vi tính PC, hai là
máy TV + hộp kết nối STB.
Hộp STB thực hiện 3 chức năng sau:
1. Nối tiếp vào mạng băng tần rộng, thu phát và xử lý số liệu IP và luồng video.
2. Tiến hành giải mã luồng video MPEG-2, MPEG-4, WMV, Real đảm bảo
video VOD hiển thị lên màn hình ti vi các số liệu
3. Phối hợp với bàn phím đảm bảo HTML du lịch trên mạng, tiến hành gửi
nhận email. Hộp STB đảm nhiệm các nhiệm vụ trên chủ yếu dựa vào bộ vi xử lý.
Để kết luận ta thấy IPTV ứng dụng kỹ thuật streaming media, thông qua mạng
băng rộng truyền dẫn tín hiệu truyền hình digital đến các thuê bao. Các thuê bao chỉ
Lưu Thị Thu Hiền Luận văn Thạc sỹ khoa học
15
cần có thiết bị đầu cuối là máy tính PC hoặc TV+STB là có thể thưởng thức được các
chương trình truyền hình phong phú. Hoạt động của IPTV là hoạt động tương tác trên
mạng không chỉ có các chương trình truyền hình quảng bá mà còn thực hiện truyền
hình đến địa điểm theo yêu cầu (VOD). IPTV còn có các dịch vụ tương tác khác như
truyền thoại có hình, email, du lịch trên mạng, học tập từ xa
IPTV cùng các hoạt động thông tin trên băng tần rộng đã kết hợp được 3 mạng
(máy tính + viễn thông + truyền hình) biểu thị xu thế phát triển của mạng truyền thông
tương lai.
Lưu Thị Thu Hiền Luận văn Thạc sỹ khoa học
16
Modul cung cấp dịch vụ: cung cấp dịch vụ theo yêu cầu từ máy khách. Có thể
cung cấp rất nhiều loại dịch vụ khách nhau liên quan tới dịch vụ DVB trên nền IP. Ví
dụ như là một ISP đơn giản hay CSP. Ở đây CSP sử dụng nội dung có sẵn hoặc bản
quyền từ modul cung cấp nội dung và đóng gói nó thành một dịch vụ. Theo cách này
thì việc cung cấp dịch vụ không cần thiết phải được hiểu rõ từ ứng dụng cũng như các
thông tin chứa nội dung truyền qua.
Delivery Network: làm nhiệm vụ kết nối giữa các máy khách và dịch vụ cung
cấp. Quá trình phân phát thông tin thường được sắp xếp theo yêu cầu truy cập vào
mạng lõi hoặc mạng sương sống bằng việc sử dụng các công nghệ mạng khác nhau.
Home: là nơi là dịch vụ A/V được sử dụng. Với một đầu thu đơn giản hoặc một
thiết bị đầu cuối kết nối tới mạng, người dùng có thể xem được dịch vụ theo yêu cầu
của mình.
Như được nói ở trên, Service Provide bao gồm nhiều loại dịch vụ được cung
cấp khác nhau, đặc biệt là các ISP và CSP băng tần rộng. Hai loại dịch vụ này có thể
tách rời nhau hoặc được tích hợp cùng nhau.
Ngày nay mô hình internet doanh nghiệp bao gồm các SP ảo, các SP này dựa
trên một vài tiêu chí khác nhau để tích hợp chung trên một chuẩn gọi là chuẩn cung
cấp dịch vụ. Tuy nhiên ở đây chúng ta không phân biệt các loại SP, mà đơn giản hoá
những dịch vụ và chức năng của từng miền. Cũng cần lưu ý, tại một số các quốc gia,
thì việc truy nhập mạng và ISP có thể khác nhau. Trong trường hợp chung ta đang xét,
thì 2 chức năng này được nhìn nhận tách rời nhau nhưng ISP sẽ được tích hợp giữa
thiết bị đầu cuối với địa chỉ IP. Và để đơn giản hoá việc mô tả, chúng ta sẽ phân tích
bao gồm tính năng dịch vụ truy nhập và chức năng trong cùng vai trò của ISP.
Dải ISP điển hình cung cấp các dịch vụ và chức năng sau :
Dịch vụ định địa chỉ : dành cho khách hàng sử dụng dịch vụ tại nhà, các ISP
điển hình sẽ cung cấp địa chỉ IP có liên quan tới cấu hình mạng hoặc các thiết bị đầu
cuối mạng bởi cơ chế tự động.
Sự chứng thực và cấp phép của Internet hoặc IP khi các thuê bao đầu cuối truy
cập. Quá trình chứng thực của người dùng đăng nhập mạng có thể được hiểu rõ ràng
dựa vào cơ chế PPP hoặc cũng có thể được ẩn đi (ví dụ như có thể dựa vào lớp liên kết
thiết hai phần là hoàn toàn tách biệt rồi sau đó sẽ thảo luận đến trường hợp tổng quát.
Như miêu tả ở phần trên, CSP là một thuật ngữ khá chung để biểu thị cho dịch
vụ SP của người dùng đầu cuối. Một dịch vụ có thể dựa trên multicast, ví dụ như một
dịch vụ TV trên nền IP hoặc như dịch vụ VoD. Chuẩn CSP và chuẩn ISP không giống
nhau khi thực hiện truyền dịch vụ theo yêu cầu. Dưới đây chúng ta sẽ quan tâm tới các
dịch vụ và chức năng điển hình :
Nhận thực và cấp phép cho quá trình truy cập các dịch vụ nội dung.
Cổng dịch vụ làm lối vào cho một giải các dịch vụ được cung cấp bởi CSP
Chức năng cung cấp phân chia dịch vụ của CSP tới người dùng cuối như là một
danh sách các dịch vụ TV quảng bá.
Chức năng Content location có thể tìm kiếm các địa chỉ của dịch vụ TV quảng
bá.
Dải các giá trị của dịch vụ siêu dữ liệu là nền tảng cung cấp cơ sở cho dịch vụ
EPG nâng cao.
Đầu cuối của giao thức điều khiển phiên sử dụng cho hầu hết các dịch vụ cơ
bản.
Nguồn của nội dung ảo - hình ảnh được định dạng trên dịch vụ nội dung thực.
Accounting của việc truy cập dịch vụ với các thuê bao nội dung.
Lưu Thị Thu Hiền Luận văn Thạc sỹ khoa học
19
Trong mô hình phân lớp của mỗi giao thức kết nối chỉ thông qua một giao diện
để bắt tay với lớp trên nó. Đây là ưu điểm để tăng sự hoàn hảo, giá thành, dễ thao tác
thay đổi cũng như việc tăng tiện ích giữa các lớp. Giao thức lớp có thể được mô tả vắn
tắt như sau :
Lớp vật lý của một liên kết truyền thông được tạo thành từ các bít dữ liệu như :
bít đồng bộ, dữ liệu, khuôn và kích cỡ của kết nối. Ở mức này không quan tâm tới định
Lưu Thị Thu Hiền Luận văn Thạc sỹ khoa học
20
Các người dùng đầu cuối khác nhau trong cùng một mạng có thể chọn các nhà
cung cấp dịch vụ khác nhau.
Truy cập nội dung phụ thuộc nhiều vào phần cứng thiết bị. Ví dụ một thiết bị
đầu cuối với các tính năng khác nhau (như nguồn CPU, kích cỡ hiển thị, dung lượng
lưu trữ) sẽ cho phép truy cập vào cùng một nội dung nhờ việc sử dụng các tài nguyên
mã hoặc thông qua việc sử dụng các thiết bị đặc biệt.
Roaming của người dùng cuối có thể được phân tán giữa các mạng: ví dụ như
dữ liệu cá nhân của (SOHO) người dùng lưu trữ trong máy chủ có thể bị truy cập từ
một máy chủ khác. Trong trường hợp này thì việc bảo mật đầy đủ đưa vào các tài
khoản sử dụng là rất cần thiết.
Dựa trên những mô hình liên quan tới model DVB-IPI tại mạng con, mà mô
hình sẽ được dựng lên như hình dưới đây:
Hình 8 - Mô hình tham chiếu mạng đầu cuối
Home Reference Model được chỉ ra trên hình trên bao gồm các miền của mô
hình phân lớp. Chi tiết hơn nó còn chỉ ra liên kết với các miền trong mạng phân tán. Ở
hình này cũng chỉ ra các thiết bị đang được áp dụng tại nơi sử dụng dịch vụ, với các
chức năng hỗ trợ lẫn nhau dưa trên nguyên lý của một mô hình, các thiết bị đó có thể
được thêm vào hoặc bớt đi như một kết nối giữa thiết bị đầu cuối mạng con và mạng
phân tán. Tất cả các thành phần của mạng con ta gọi là Home Network (HN).
Các thành phần cơ bản trong Home Reference Model được miêu tả như sau:
bị này chứa một hoặc nhiều thành phần kết nối, thực hiện kết nối tới một hay nhiều các
phân đoạn mạng khách nhau và thực hiện các chức năng khác nhau như là cầu mạng,
định tuyến mạng hoặc cổng mạng.
Thiết bị đầu cuối mạng (Home Network End Device- HNED): là thiết bị kết nối
tới mạng con được đặc trưng bởi việc định địa chỉ IP dựa trên dữ liệu truyền (gửi hoặc
nhận). Việc đánh địa chỉ trực tiếp này là cần thiết cho một thiết bị đầu cuối non-IP
nhằm đáp ứng chức năng như một cổng ứng dụng tới các mạng non-IP khác. Ví dụ
Lưu Thị Thu Hiền Luận văn Thạc sỹ khoa học
22
như một luồng dữ liệu DVB trên nền IP có thể được chuyển đổi thành luồng dữ liệu
DVB trên nên nền IEEE 1394.
Nếu cổng mạng phân tán là thiết bị trống, thì đó là mạng con ảo. Vì vậy trong
trường hợp này thiết bị đầu cuối gia đình được kết nối trực tiếp với mạng phân tán.
Mối quan hệ giữa các thành phần trong Home Reference Model được miêu tả
bởi các giao diện, ở đó đưa ra một cấu hình tên phân cấp :
Tên giao diện :
Trên thực tế, 4 giao diện đều đã được định nghĩa, các giao diện IPI-1 được mô
tả trong hình 2, các giao diện phân cấp sẽ được phân chia bởi nhóm DVB-IPI đặc biệt.
Nó sẽ miêu tả yêu cầu những giao thức cần thiết cho dịch vụ DVB phân tán trên nền
mạng IP. Tuy nhiên mô tả giao diện phụ thuộc vào công nghệ lớp vật lý và lớp liên kết
sử dụng trong mạng con. Ba giao diện còn lại sẽ chứa mặt nạ của giao diện IPI-1 và có
thể chứa thêm một vài giao thức mạng.
2.1.3 Các module cho Home Network Element
Chức năng của các thành phần đã được định nghĩa trong phần 4.2. Các module
được miêu tả và đưa vào trong tính toán tại cấu trúc lớp trong phần 4.1. Các module
dụng hữu ích cho cả việc điều khiển phân phát của tín hiệu TV quảng bá và âm thanh
(đài) cũng như cho dịch vụ phân tán theo yêu cầu.
Luồng tín hiệu âm thanh, hình ảnh và dữ liệu dịch vụ được trộn thành luồng dữ
liệu MPEG-2. Giữ liệu này được gói gọn trong RTP, gói DSCP được tạo ra cho chất
lượng dịch vụ. Quá trình truyền dữ liệu MPEG-2 TS trên IP được mô tả kỹ trong phần
tiếp theo. Việc sử dụng RTCP như là gửi thông tin về trạng thái truyền tới đầu nhận và
thông tin tách hay hợp của IGMP khỏi luồng dữ liệu muticast cũng được mô tả chi tiết
trong phần sau.
Giao thức DHCP được sử dụng để cấu hình HNED với một địa chỉ IP. Các dịch
vụ đồng hồ thời gian thực hay các dịch vụ thời gian thực khác sử dụng các giao thức
tương ứng như SNTP hoặc NTP.
Trong phần này sẽ mô tả chi tiết hơn một giao thức mạng cung cấp. Giao thức
này được mang trên HTTP hoặc bảo mật HTTP trên SSL. Khi mạng cung cấp được
lựa chọn thì các HTTP cũng được sử dụng trên giao diện máy khách.
Hình 9 - Biểu đồ khối của giao thức ngăn xếp trong dịch vụ DVB-IP
Lưu Thị Thu Hiền Luận văn Thạc sỹ khoa học
24
2.2 Mô tả chi tiết hệ thống
Tất cả các hệ thống được sử dụng trong kỹ thuật DHCP để cấp địa chỉ IP và các
thông số khác để tạo thành một HNED. IP liên lạc được định tuyến trên lớp 3 của OSI
từ DNG tới HNED. IP tĩnh của các HNED được hỗ trợ bởi các phiên bản chức năng
mới của DVB-IP.
2.2.1 Hệ thống cổng mạng phân giao đơn (Single Delivery Network
Gateway Scenario)