Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự - Pdf 25


MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP BẢO
ĐẢM THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
6
1.1.
Khái niệm, đặc điểm và những nội dung cơ bản của biện
pháp bảo đảm thi hành án dân sự
6
1.1.1.
Khái niệm biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự
6
1.1.2.
Đặc điểm của các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự

2.1.3.
Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản
31
2.2.
Biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự
38
2.2.1.
Đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ
39
2.2.2.
Quyền yêu cầu, quyền áp dụng và căn cứ, thẩm quyền áp dụng
42
2.2.3.
Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp tạm giữ giấy tờ, tài sản
44
2.3.
Biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi
51

hiện trạng tài sản
2.3.1.
Đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm dừng việc đăng ký,
chuyển dịch, thay đổi hiện trạng tài sản
52
2.3.2.
Quyền yêu cầu, căn cứ và thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm
dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng tài sản
54
2.3.3.
Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp tạm dừng việc đăng ký,

Đối với các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự nói chung
71
3.2.1.2.
Đối với biện pháp phong tỏa tài khoản
76
3.2.1.3.
Đối với biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ
77
3.2.1.4.
Đối với biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay
đổi hiện trạng về tài sản
79
3.2.2.2.
Các kiến nghị về thực hiện các quy định của pháp luật về
biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự
79

KẾT LUẬN
80

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
83 1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Thi hành án dân sự là hoạt động đưa bản án, quyết định về dân sự của
Tòa án, Trọng tài thương mại, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh ra thi hành

tại của Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004. So với các văn bản pháp Luật
Thi hành án dân sự được ban hành trước, Luật Thi hành án dân sự quy định
đầy đủ, chi tiết và khoa học hơn các vấn đề về thi hành án dân sự, vì vậy đã
điều chỉnh hiệu quả hơn các quan hệ phát sinh trong thi hành án dân sự và phù
hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay. Tuy nhiên, sau hơn ba
năm triển khai thực hiện, Luật Thi hành án dân sự cũng đã bộc lộ những bất
cập, đặt ra nhiều vấn đề cần được nghiên cứu, làm rõ thêm, trong đó có quy định
về biện pháp bảo đảm thi hành án. Do đó, tác giả lựa chọn đề tài "Biện pháp
bảo đảm thi hành án dân sự" làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Đây là một nội dung hoàn toàn mới được quy định trong Luật Thi
hành án dân sự. Trước khi Luật Thi hành án dân sự được ban hành, pháp Luật
Thi hành án dân sự chưa quy định về vấn đề này. Đối với biện pháp phong tỏa
tài khoản của người phải thi hành án, trước đây được Pháp lệnh Thi hành án
dân sự năm 2004 quy định là một biện pháp cưỡng chế thi hành án. Chỉ đến
khi Luật Thi hành án dân sự được ban hành thì chế định các biện pháp bảo
đảm thi hành án dân sự mới được quy định một cách đầy đủ, cụ thể. Do đó,
cho đến nay, chỉ có một số ít công trình nghiên cứu khoa học pháp lý đề cập
đến đề tài này như:
- " Luật Thi hành án dân sự Việt Nam những vấn đề lí luận và thực
tiễn" do TS. Nguyễn Công Bình (chủ biên), Nhà xuất bản Công an nhân dân
xuất bản năm 2007.
- "Những điểm mới của Luật Thi hành án dân sự 2008", Đề tài nghiên
cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2010.

3
- "Những vướng mắc từ thực tiễn thi hành Luật Thi hành án dân sự",
Nguyễn Thị Khanh, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số 05/2010, tr. 13 - 16.
- "Bản chất pháp lí của biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự theo
Luật Thi hành án dân sự", Trần Anh Tuấn, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ một số vấn đề lý luận về
biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự, nội dung của chế định biện pháp bảo
đảm thi hành án dân sự; nhận diện được những hạn chế, bất cập của chế định
này và các tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện chúng. Từ đó, tìm ra
một số giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập, vướng mắc, tồn tại
đã nhận diện, góp phần giải quyết các khó khăn, vướng mắc đặt ra trong công
tác thi hành án dân sự hiện nay.
Với mục đích nghiên cứu như vậy, nhiệm vụ nghiên cứu được xác
định trên những khía cạnh sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về biện pháp bảo đảm thi hành án
dân sự như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, cơ sở của biện pháp bảo đảm thi
hành án dân sự.
- Phân tích, đánh giá những quy định của Luật Thi hành án dân sự về
biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự.
- Khảo sát tình hình thực hiện các biện pháp bảo đảm thi hành án dân
sự trong thực tiễn hiện nay.
- Tìm ra được một số giải pháp nhằm hoàn thiện và thực hiện pháp
luật về biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được thực hiện trên cơ sở quan điểm của Chủ nghĩa Mác-
Lênin, phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, quan điểm của
Đảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật.

5
Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn sử dụng các
phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống như phương pháp phân tích,
phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp và phương pháp thực tiễn.
6. Những điểm mới của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu có tính hệ thống những
vấn đề liên quan đến biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự, thể hiện ở các nội

trình, thủ tục về thi hành án dân sự được thực hiện từ khi cấp bản án, quyết
định, tiếp nhận, thụ lý đơn yêu cầu thi hành án, ra quyết định thi hành án và
tiến hành các tác nghiệp cụ thể cho đến khi chấm dứt việc thi hành án; quyền
và nghĩa vụ của đương sự được thực hiện trên thực tế. Trong quy trình thi
hành án dân sự, tùy theo từng vụ việc cụ thể mà Thủ trưởng, Chấp hành viên
cơ quan thi hành án dân sự có thể thực hiện các thủ tục cần thiết khác nhau.
Pháp luật về thi hành án dân sự đã có những quy định nhằm đảm bảo
quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án trong các trường hợp
người phải thi hành án chống đối, cản trở việc thi hành án. Theo đó, trong
trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện, có dấu hiệu trốn tránh
việc thi hành án thì người được thi hành án có quyền yêu cầu hoặc Chấp hành
viên tự mình áp dụng những biện pháp mang tính quyền lực nhà nước là các
biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự để buộc người
phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ thi hành án.
Luật Thi hành án dân sự đã dành hẳn Mục I Chương IV, bao gồm các
điều: từ Điều 66 đến Điều 69 để quy định về các biện pháp bảo đảm thi hành

7
án dân sự. Đây là một chế định hoàn toàn mới trong pháp luật về thi hành án
dân sự ở nước ta.
Theo Từ điển Tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Đà
Nẵng xuất bản thì biện pháp được hiểu là "cách làm, cách giải quyết một vấn đề
cụ thể" [34, tr. 64], còn khái niệm bảo đảm được hiểu là "làm cho chắc chắn
thực hiện được, giữ gìn được hoặc có đầy đủ những gì cần thiết hoặc là sự bảo
đảm thực hiện được hoặc giữ được" [34, tr. 38] và thi hành là "làm cho thành
có hiệu lực điều đã được chính thức quyết định" [34, tr. 936]. Về mặt pháp lý,
khái niệm "thi hành án" là hoạt động làm cho các bản án, quyết định đã có
hiệu lực thi hành của Tòa án được thực hiện. Nếu như kết quả của hoạt động
xét xử là "đưa ra các phán quyết (bản án, quyết định) trên cơ sở áp dụng các
điều luật cụ thể để xem xét các tình tiết đã xảy ra, thì kết quả của thi hành án

nghĩa về biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự:
Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự là biện pháp pháp lý
đặt tài sản của người phải thi hành án trong tình trạng bị hạn chế
hoặc cấm sử dụng, định đoạt nhằm ngăn chặn việc người phải thi
hành án tẩu tán, định đoạt tài sản trốn tránh việc thi hành án và đôn
đốc họ tự nguyện thực hiện nghĩa vụ thi hành án của mình do Chấp
hành viên áp dụng trước khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành
án dân sự [27, tr 187].
Có thể nói, định nghĩa nêu trên chưa hoàn toàn đầy đủ, cụ thể, chưa
phản ánh hết được các nội dung, mục đích và ý nghĩa của biện pháp bảo đảm
thi hành án dân sự. Bởivì, ngoài việc tác động đến tài sản của người phải thi
hành án thì quyền tài sản của người phải thi hành án cũng được coi là đối
tượng của các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự; khi được áp dụng biện
pháp bảo đảm thi hành án dân sự không đặt tài sản của người phải thi hành án
vào tình trạng bị cấm sử dụng, định đoạt mà chỉ là tạm thời bị cấm sử dụng,
định đoạt đối với tài sản đó. Mặt khác, biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự
được áp dụng một cách linh hoạt và trong nhiều trường hợp, được áp dụng
sau khi áp dụng biện pháp cưỡng chế như: sau khi Chấp hành viên đã kê biên

9
tài sản của người phải thi hành án nhưng tài sản bị kê biên lại thuộc diện khó
xử lý hoặc không thể xử lý được do không rõ nguồn gốc, do đang bị giải tỏa,
di dời, do đang được sử dụng để đảm bảo nghĩa vụ khác một cách hợp pháp,
số tiền thu được từ việc xử lý tài sản không đủ cho chi phí cưỡng chế và thực
hiện nghĩa vụ hoặc tài sản đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên đang có
tranh chấp với người thứ ba,… Vì vậy, nếu Chấp hành viên phát hiện được
các tài sản khác của người phải thi hành án thì có thể áp dụng biện pháp bảo
đảm thi hành án dân sự đối với tài sản này để thay thế cho tài sản đã bị kê biên.
Do đó, biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự cần được định nghĩa như sau:
Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự là biện pháp pháp lý được

tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản để đảm
bảo việc thi hành án.
- Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự được áp dụng linh hoạt, tại
nhiều thời điểm, nhiều địa điểm khác nhau trong quá trình thi hành án nhằm
ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại, trốn tránh việc thi hành án
Với mục đích cần phải ngăn chặn ngay hành vi tẩu tán, hủy hoại tài
sản hoặc trốn tránh việc thi hành án của đương sự, biện pháp bảo đảm thi
hành án dân sự có thể được áp dụng ngay tại thời điểm ra quyết định thi hành
án và trong thời hạn tự nguyện thi hành án, cũng có thể được áp dụng ngay tại
thời điểm cưỡng chế thi hành án hoặc sau khi cưỡng chế nếu phát hiện thấy
người phải thi hành án có tài sản khác đủ để thi hành nghĩa vụ hoặc có thể
thay thế cho tài sản đã bị kê biên để thuận lợi hơn cho việc thi hành án. Đồng
thời, biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự cũng được áp dụng tại nhiều địa
điểm khác nhau, tùy thuộc vào nơi có tài sản, tài khoản hoặc nơi phát hiện
được tài sản, tài khoản của người phải thi hành án.
Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự cũng có thể được Chấp hành
viên áp dụng trong trường hợp ủy thác thi hành nghĩa vụ liên đới.

11
- Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự được thực hiện với trình tự,
thủ tục linh hoạt, gọn nhẹ, ít tốn kém, có thời gian áp dụng ngắn, có tác dụng
thúc đẩy nhanh việc thi hành án
Việc áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự được Chấp
hành viên thực hiện xuất phát từ yêu cầu của người được thi hành án hoặc khi
Chấp hành viên thấy cần thiết và chủ động áp dụng. Thời gian từ khi có căn
cứ áp dụng đến khi ban hành quyết định áp dụng và thực hiện quyết định áp
dụng diễn ra một cách nhanh chóng, linh hoạt. Do việc áp dụng biện pháp bảo
đảm thi hành án dân sự mới chỉ nhằm để ngăn chặn hành vi tẩu tán, thay đổi
hiện trạng, chuyển dịch hoặc hủy hoại tài sản của người phải thi hành án mà
chưa cần phải huy động lực lượng để thực hiện việc cưỡng chế nên thời gian

cầu bằng văn bản của đương sự. Tuy nhiên, để yêu cầu được Chấp hành viên
ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự thì người yêu cầu
phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình. Trường hợp yêu
cầu áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự không đúng mà gây thiệt
hại cho người bị áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự hoặc cho
người thứ ba thì phải bồi thường. Trường hợp Chấp hành viên tự mình áp
dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự không đúng hoặc Chấp hành viên
ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự vượt quá, không
đúng theo yêu cầu của đương sự mà gây ra thiệt hại thì Chấp hành viên có
trách nhiệm phải bồi thường.
- Việc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự được thể hiện
thông qua việc ban hành quyết định của Chấp hành viên
Để việc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự được chặt chẽ,
đúng pháp luật, tránh trường hợp áp dụng một cách tùy tiện thì pháp Luật Thi
hành án dân sự quy định chỉ Chấp hành viên mới có quyền được áp dụng biện
pháp bảo đảm thi hành án dân sự. Ngoài Chấp hành viên thì các chủ thể khác
trong Cơ quan thi hành án dân sự không có quyền ra quyết định áp dụng các

13
biện pháp này. Mặt khác, việc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự
chỉ có hiệu lực pháp lý khi được Chấp hành viên quyết định dưới hình thức
văn bản quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự. Các hình
thức văn bản khác thể hiện nội dung áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án
dân sự (như công văn, thông báo hay biên bản) đều không có giá trị pháp lý
để bắt buộc phải thực hiện.
- Khiếu nại đối với quyết định áp dụng biện pháp bảo thi hành án dân
sự được giải quyết một lần và có hiệu lực thi hành
Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự có tác dụng
làm hạn chế quyền sở hữu, sử dụng tài sản mà không có tính chất làm thay
đổi, chuyển dịch về quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản đó. Mặt khác, do

Phong tỏa tài khoản; tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự và tạm dừng việc
đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản.
Biện pháp phong tỏa tài khoản được áp dụng trong trường hợp người
phải thi hành án phải thi hành khoản nghĩa vụ trả tiền hoặc tài sản trị giá được
bằng tiền và các thông tin về điều kiện thi hành án cho thấy người đó đang có
tiền trong tài khoản tại ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng, tài chính khác. Việc
áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản do Chấp hành viên tự mình thực hiện
hoặc theo yêu cầu của người được thi hành án, nhằm ngăn chặn người phải thi
hành án thực hiện việc rút toàn bộ tiền hay một khoản tiền tương ứng với
nghĩa vụ phải thi hành án. Theo đó, mọi giao dịch đầu ra tài khoản của chủ tài
khoản sẽ không thực hiện được hoặc bị hạn chế thực hiện. Việc áp dụng biện
pháp này nhằm ngăn chặn việc người phải thi hành án rút hết tiền trong tài
khoản nhằm tẩu tán tiền, trốn tránh việc thi hành án. Tuy nhiên, cần hiểu đúng
về biện pháp này là không ngăn chặn đối với các dòng tiền chuyển vào tài
khoản mà chỉ ngăn chặn đối với giao dịch đầu ra tương ứng với nghĩa vụ thi
hành án của đương sự chứ không phải là ngăn chặn, cấm giao dịch đối với
toàn bộ tiền trong tài khoản. Việc áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản

15
chính là tiền đề, là cơ sở cho việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án
dân sự khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án nếu người đó
không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình.
Biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự được Chấp hành viên
áp dụng trong việc thi hành nghĩa vụ trả vật và cũng có thể được áp dụng
nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Việc áp dụng biện pháp này nhằm
tạm giữ các tài sản, giấy tờ của đương sự để ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại
đối với các tài sản, giấy tờ này. Đây là biện pháp mang tính cấp bách và linh
hoạt, nhằm tạo điều kiện và cơ sở pháp lý cho tác nghiệp nghiệp vụ khi phát
hiện đương sự có tài sản, giấy tờ để thi hành án và áp dụng trong bất cứ giai
đoạn nào trong quá trình tổ chức thi hành án. Việc áp dụng biện pháp tạm giữ

các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự cũng được quy định rất ngắn, trong
một thời hạn nhất định, Chấp hành viên phải quyết định áp dụng tiếp biện
pháp cưỡng chế thi hành án dân sự đối với đương sự hoặc chấm dứt việc áp
dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự đã thực hiện.
1.2. Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THI HÀNH
ÁN DÂN SỰ
Với vai trò đảm bảo điều kiện thi hành án của người phải thi hành án,
các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự có ý nghĩa hết sức to lớn, đóng vai
trò quan trọng đối với kết quả tổ chức thi hành các bản án, quyết định có hiệu
lực pháp luật, cụ thể như sau:
Thứ nhất, biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự đã góp phần bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan.
Việc quy định biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự đã giúp cho Chấp
hành viên kịp thời thực hiện việc ngăn chặn người phải thi hành án thực hiện
hành vi tẩu tán, hủy hoại hoặc thay đổi hiện trạng tài sản trốn tránh việc thi
hành án để từ đó có thể bảo toàn được điều kiện thi hành án, đảm bảo được

17
quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, bảo đảm các bản án, quyết định
đã có hiệu lực được thi hành trên thực tế.
Việc ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự
chính là thực hiện bước đệm, tạo tiền đề hiệu quả cho việc áp dụng biện
pháp cưỡng chế đối với tài sản của người phải thi hành án trong trường hợp
họ không tự nguyện thi hành án. Luật Thi hành án dân sự quy định biện
pháp bảo đảm thi hành án dân sự đã tạo điều kiện cho Chấp hành viên thực
hiện hạn chế quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản của người phải thi hành
án ngay khi có thông tin về điều kiện thi hành án của họ đã khắc phục được
hạn chế trước đây của Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 là muốn hạn
chế quyền sở hữu, sử dụng tài sản của người phải thi hành án phải thực hiện
đúng trình tự, thủ tục về cưỡng chế thi hành án dân sự thì mới tác động được

chi phí khác có liên quan; đồng thời, người phải thi hành án còn mất uy tín,
danh dự đối với cộng đồng dân cư nơi người đó sinh sống. Với những hậu quả
tiêu cực có thể xảy ra, người phải thi hành án có thể sẽ lựa chọn phương án tự
nguyện thi hành án để có thể bảo toàn tài sản đã bị áp dụng biện pháp bảo
đảm thi hành án dân sự, giảm thiểu thiệt hại về kinh tế phát sinh và bảo toàn
được uy tín, danh dự đối với cộng đồng. Chính sự lựa chọn này của người
phải thi hành án sẽ góp phần thúc đẩy nhanh quá trình tổ chức thi hành án dân
sự, giảm thiểu chi phí xã hội phát sinh.
Trong trường hợp mặc dù đã bị Chấp hành viên ra quyết định áp dụng
biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự nhưng người phải thi hành án vẫn
không tự nguyện thi hành án hoặc không có phương án, thỏa thuận khác thì
đây cũng chính là cơ sở, tiền đề để Chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế
thi hành án dân sự để bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người được thi hành án; các tài sản của người phải thi
hành án đã bị đặt trong tình trạng bị hạn chế quyền sử dụng, định đoạt hoặc
tạm thời bị cấm định đoạt theo biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự trước
đây sẽ được xử lý để thi hành án.

19
Thứ ba, biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự góp phần nâng cao ý
thức của đương sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án.
Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự tuy chưa làm chấm dứt quyền
định đoạt tài sản của người phải thi hành án nhưng việc áp dụng biện pháp
này cũng đã làm cho người phải thi hành án phải gánh chịu những thiệt hại
đáng kể về kinh tế do bị khi hạn chế quyền sử dụng, định đoạt tài sản thì họ
không thể đem tài sản đó tham gia một cách trọn vẹn vào các giao dịch của
mình. Sau một thời hạn nhất định, nếu đương sự không tự nguyện thi hành án
thì Chấp hành viên sẽ đưa tài sản đó ra cưỡng chế để thi hành án.
Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh thì uy tín là một tài sản rất có
giá trị, thậm chí quyết định đến sự thành bại của thương nhân, doanh nghiệp.

1.3.1. Cơ sở lý luận
Việc pháp Luật Thi hành án dân sự quy định về biện pháp bảo đảm thi
hành án dân sự xuất phát từ những cơ sở lý luận sau đây:
Thứ nhất, từ yêu cầu của việc áp dụng kết hợp giữa biện pháp tự
nguyện thi hành án dân sự và cưỡng chế thi hành án dân sự.
Một nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt trong hoạt động thi hành án dân sự
là khuyến khích các đương sự tự nguyện thực hiện việc thi hành án. Vì vậy,
sau khi ra quyết định thi hành án, Chấp hành viên sẽ ấn định thời hạn để
người phải thi hành án tự nguyện thực hiện. Tuy nhiên, nếu người phải thi
hành án không tự nguyện thi hành thì sẽ bị áp dụng các biện pháp cần thiết để
đảm bảo thi hành bản án, quyết định. Việc áp dụng biện pháp bảo đảm thi
hành án dân sự không chỉ ngăn chặn được hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản,
trốn tránh việc thi hành án mà còn giúp người phải thi hành án nhận thức
được hậu quả của việc không tự nguyện thi hành nghĩa vụ của mình. Bởi vì,
khi đã bị áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự thì tài sản của người
phải thi hành án sẽ được bảo toàn để thi hành án và nếu họ không tự nguyện
thi hành thì sẽ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế và phải chịu mọi chi phí có

21
liên quan. Do đó, biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự chính là bước chuyển
tiếp, là cầu nối giữa việc tự nguyện tự nguyện và bị cưỡng chế thi hành án, là
cơ hội cuối cùng của người phải thi hành án trước khi bị bắt buộc thực hiện
bởi sức mạnh của quyền lực nhà nước.
Vì vậy, việc quy định biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự trong quy
trình, thủ tục thi hành án dân sự là rất cần thiết, tạo sự kết hợp hài hòa trong
việc áp dụng các biện pháp thi hành án dân sự trong quy trình, thủ tục thi
hành án dân sự. Việc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự là tiền
đề, là cơ sở cho việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, đồng
thời tạo ra sự chuyển tiếp giữa tự nguyện thi hành án dân sự và áp dụng biện
pháp cưỡng chế thi hành án dân sự.

tự nguyện thi hành thì sẽ bị Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế thi
hành án dân sự. Tuy nhiên, để áp dụng được biện pháp cưỡng chế thi hành án
dân sự thì Chấp hành viên phải tuân thủ theo một quy trình, thủ tục rất chặt
chẽ với sự phối hợp của nhiều cơ quan, tổ chức có liên quan; sự phối hợp này
đòi hỏi phải giải quyết nhiều về vấn đề và tốn thời gian. Theo đó, Chấp hành
viên phải thực hiện việc thông báo trước cho đương sự; xây dựng kế hoạch tổ
chức cưỡng chế; tổ chức họp với các cơ quan, đơn vị có liên quan, chuẩn bị
các điều kiện, phương tiện, kinh phí và lực lượng cần thiết để phục vụ cho
việc cưỡng chế. Thực tế cho thấy, từ khi hết thời hạn tự nguyện cho đến khi
áp dụng được biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là một khoảng thời gian
tương đối dài. Chính đây là thời gian mà đương sự có thể lợi dụng để thực
hiện việc tẩu tán, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản nhằm trốn tránh
nghĩa vụ thi hành án. Mặt khác, theo quy định của Pháp lệnh Thi hành án dân
sự năm 2004, nếu trong quá trình tác nghiệp, Chấp hành viên phát hiện đương
sự có tài sản để thi hành án thì không thể xử lý ngay mà vẫn phải thực hiện
trình tự, thủ tục áp biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự như đã nêu trên,
dẫn đến tình trạng khi Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế thì tài
sản đã bị tẩu tán, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng.

23
Do đó, thực tiễn đòi hỏi khi chưa thực hiện ngay được biện pháp
cưỡng chế thi hành án dân sự thì pháp luật cần có quy định để Chấp hành viên
có cơ chế ngăn chặn việc tẩu tán, định đoạt tài sản của người phải thi hành án
để thông qua đó có thể bảo toàn điều kiện thi hành án của đương sự.
Trước khi Luật Thi hành án dân sự được ban hành, Bộ Tư pháp và
Tổng cục thi hành án dân sự cũng đã chỉ đạo cơ quan thi hành án dân sự các
cấp với nội dung: khi phát hiện tài sản, tài khoản của người phải thi hành án
thì cần kịp thời có công văn đề nghị các cơ quan có thẩm quyền trong việc
quản lý tài khoản, đăng ký, chuyển dịch tài sản thực hiện việc phong tỏa, tạm
dừng các thủ tục đăng ký, chuyển dịch tài sản đó để giúp Chấp hành viên có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status