các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự - thực tiễn tại quảng bình - Pdf 13

ĐẠI HỌC HUẾ
KHOA LUẬT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT DÂN SỰ
KHÓA 2010 - 2014
CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ - THỰC TIỄN
TẠI QUẢNG BÌNH
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
ThS. Nguyễn Thị Thúy Hằng Phạm Thị Lệ Bình
Lớp: K34B Dân Sự
Huế, 03/2014





Để hoàn thành bài khóa luận này,
em xin gửi lời cảm ơn đến các Thầy
Cô và các bạn sinh viên trong Khoa Luật
- Đại học Huế đã tạo điều kiện giúp
đỡ tận tình cho em trong quá trình học
tập, nghiên cứu.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn
chân thành nhất đến cô giáo Ths.
Nguyễn Thò Thúy Hằng - người đã tận
tình dìu dắt, giúp đỡ, hướng dẫn và tạo
mọi điều kiện tốt nhất cho em trong suốt
quá trình nghiên cứu, thực hiện và hoàn
thành đề tài này.




5
GVHD: 
SVTH: 




A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công tác thi hành án nói chung và thi hành án dân sự nói riêng có ý
nghĩa hết sức quan trọng trong đời sống xã hội. Điều 106 Hiến pháp năm
2013 đã quy định rõ: “Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực
pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức,
cá nhân hữu quan nghiêm chỉnh chấp hành”. Thi hành án dân sự là hoạt
động đưa bản án, quyết định về dân sự của Tòa án, Trọng tài thương mại
thi hành trên thực tế, bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án được chấp
hành, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và pháp chế xã
hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và lợi
ích của nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường
hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước. Trong những năm qua Đảng, Nhà
nước ta đã quan tâm ban hành nhiều chủ trương, chính sách và pháp luật,
cũng như hỗ trợ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho công tác thi hành án dân
sự như Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989, Pháp lệnh thi hành án dân
sự năm 1993, Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004.
Đặc biệt, ngày 14/11/2008, Quốc hội nước ta thông qua Luật thi hành
án dân sự, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2009. Luật thi hành án dân
sự 2008 được ban hành có nhiều nội dung mới, phù hợp với yêu cầu cải

được thuận lợi, có hiệu quả và chính xác hơn. Đây chính là vấn đề của cả
nước nói chung và của tỉnh Quảng Bình nói riêng. Do đó, tác giả lựa chọn
đề tài “Các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự - Thực tiễn tại Quảng
Bình” làm đề tài khóa luận của mình với mục đích làm sáng tỏ hơn tầm
quan trọng, ý nghĩa và cơ sở pháp lý, trình tự, thủ tục trong việc áp dụng
các biện pháp bảo đảm thi hành án.
2. Tình hình nghiên cứu
7
GVHD: 
SVTH: 




Biện pháp bảo đảm được hiểu là những chế tài theo quy định của pháp
luật do Chấp hành viên tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương
sự áp dụng nhằm ngăn chặn hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh
thực hiện nghĩa vụ thi hành án. Đây là một nội dung hoàn toàn mới được
quy định trong luật thi hành án dân sự. Trước khi Luật thi hành án dân sự
2008 được ban hành, pháp luật thi hành án dân sự chưa quy định về vấn đề
này. Đối với biện pháp phong tỏa tài khoản của người phải thi hành án,
trước đây được Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 quy định là một
biện pháp cưỡng chế thi hành án. Chỉ đến khi Luật thi hành án dân sự 2008
được ban hành thì chế định các biện pháp bảo đảm thi hành án mới được
quy định một cách đầy đủ, cụ thể. Do đó, cho đến nay, chỉ có một số ít
công trình nghiên cứu khoa học pháp lý đề cập đến đề tài này như:
- “Những điểm mới của Luật Thi hành án dân sự 2008”, Đề tài nghiên
cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2010.
- “Những vướng mắc từ thực tiễn thi hành Luật Thi hành án dân sự”,
của Nguyễn Thị Khanh, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 05/2010.

nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện chế định biện pháp bảo đảm thi hành án
dân sự, đem lại hiệu quả cao hơn nữa.
Với mục đích nghiên cứu như vậy, nhiệm vụ nghiên cứu được xác
định trên những khía cạnh sau:
- Phân tích, đánh giá những quy định của Luật thi hành án dân sự
2008 về biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự.
- Khảo sát tình hình thực hiện các biện pháp bảo đảm thi hành án dân
sự trong thực tiễn ở tỉnh Quảng Bình hiện nay.
- Đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện và thực hiện pháp luật về
biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự trong cả nước nói chung và ở Quảng
Bình nói riêng.
9
GVHD: 
SVTH: 




4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về biện pháp
bảo đảm thi hành án dân sự mà cụ thể là các vấn đề như khái niệm, cơ sở lý
luận, cơ sở thực tiễn, tình hình áp dụng các biện pháp này trong hoạt động
thi hành án dân sự hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu về không gian: Khóa luận tập trung nghiên cứu
nội dung các quy định của luật thi hành án dân sự về biện pháp bảo đảm thi
hành án dân sự và thực tiễn thực hiện chúng trong những năm qua tại tỉnh
Quảng Bình.
Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Khóa luận nghiên cứu thực tiễn thực
hiện thi hành án dân sự từ năm 2009 - thời điểm Luật thi hành án dân sự
2008 có hiệu lực đến năm 2013.

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP
BẢO ĐẢM THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm và những nội dung cơ bản của biện pháp
bảo đảm thi hành án dân sự
1.1.1. Khái niệm biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những quy định của Pháp lệnh Thi hành
án dân sự năm 2004 và tổng kết thực tiễn công tác thi hành án dân sự, Luật thi
hành án dân sự 2008 đã được ban hành có nhiều nội dung mới, phù hợp với
yêu cầu cải cách tư pháp mà Đảng và Nhà nước đặt ra, đồng thời đáp ứng đòi
hỏi cấp thiết của thực tiễn công tác thi hành án trong giai đoạn hiện nay. Một
trong những điểm mới của Luật thi hành án dân sự 2008 là việc quy định các
biện pháp bảo đảm thi hành án. Trước đây, Pháp lệnh thi hành án 2004 mới
chỉ dừng lại ở quy định các biện pháp cưỡng chế nếu người thi hành án không
tự nguyện thi hành thì nay Luật thi hành án dân sự 2008 đã bổ sung nhóm
biện pháp mang tính ngăn chặn, phòng ngừa nhằm đảm bảo cho quá trình thi
hành án đạt kết quả, đó là nhóm biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự.
Luật thi hành án dân sự 2008 đã dành hẳn Mục I Chương IV, bao gồm
các điều: từ Điều 66 đến Điều 69 để quy định về các biện pháp bảo đảm thi
hành án dân sự gồm: phong tỏa tài sản; tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương
sự; tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sỡ hữu, sử dụng, thay đổi hiện
trạng tài sản.
Theo từ điển Tiếng Việt thì bảo đảm có nghĩa là làm cho chắc chắn
12
GVHD: 
SVTH: 








Thứ hai, tài sản; tài khoản của người phải thi hành án là đối tượng bị
áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự. Trong lĩnh vực thi hành án
dân sự, ngoài các nghĩa vụ mang tính nhân thân như buộc công khai xin lỗi,
buộc nhận người lao động trở lại làm việc… thì phần lớn các nghĩa vụ thi
hành án gắn liền với yếu tố tài sản. Các nghĩa vụ có tính chất tài sản chỉ
được thực hiện nếu người mang nghĩa vụ có tài sản để thi hành. Để việc thi
hành án được thuận lợi, biện pháp bảo đảm thi hành án được Chấp hành
viên áp dụng đối với đối tượng là các tài sản, tài khoản được cho là của
người phải thi hành án. Tài sản đó có thể đang do người phải thi hành án
hoặc do người khác chiếm giữ.
Với mục đích ngăn chặn người phải thi hành án thực hiện hành vi tẩu
tán, thay đổi hiện trạng hoặc hủy hoại tài sản, nhằm bảo toàn tài sản đó,
đảm bảo điều kiện thi hành án, biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự chưa
làm mất đi quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của chủ sở hữu, chủ sử
dụng mà mới chỉ làm hạn chế quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản đó của
chủ sở hữu, chủ sử dụng tài sản.
Thứ ba, việc áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự được
thực hiện một cách khá linh hoạt; trình tự, thủ tục đơn giản. Xuất phát từ
yêu cầu của người được thi hành án hoặc do Chấp hành viên chủ động áp
dụng trong trường hợp cần thiết nhằm để ngăn chặn hành vi tẩu tán, thay
đổi hiện trạng, chuyển dịch hoặc hủy hoại tài sản của người phải thi hành
án mà chưa cần phải huy động lực lượng để thực hiện việc cưỡng chế nên
thời gian thực hiện nhanh gọn, ít tốn kém kinh phí. Mặt khác, khi áp dụng
biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự, Chấp hành viên không bắt buộc phải
thực hiện việc xác minh và thông báo trước cho đương sự. Để đảm bảo tính
nhanh chóng, kịp thời, linh hoạt, nhằm ngăn chặn đương sự tẩu tán, hủy
14

pháp bảo đảm thi hành án dân sự không đúng hoặc Chấp hành viên ra quyết
định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự vượt quá, không đúng
15
GVHD: 
SVTH: 




theo yêu cầu của đương sự mà gây ra thiệt hại thì Chấp hành viên có trách
nhiệm phải bồi thường.
Thứ năm, việc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự chỉ có
hiệu lực pháp lý khi được Chấp hành viên quyết định dưới hình thức văn bản
quyết định. Mặt khác, việc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự
được thể hiện thông qua việc ban hành quyết định của Chấp hành viên. Chỉ
Chấp hành viên mới có quyền được áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án
dân sự. Ngoài Chấp hành viên thì các chủ thể khác trong cơ quan thi hành án
dân sự không có quyền ra quyết định áp dụng các biện pháp này.
Thứ sáu, quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự có
tác dụng làm hạn chế quyền sở hữu, sử dụng tài sản mà không có tính chất
làm thay đổi, chuyển dịch về quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản đó. Vì
vậy, khiếu nại đối với quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án
dân sự chỉ được xem xét, giải quyết một lần và có hiệu lực thi hành.
Nhìn chung, các biện pháp bảo đảm thi hành án vừa mang những đặc
điểm của biện pháp cưỡng chế như tác động trực tiếp đến quyền định đoạt
tài sản của người phải thi hành án và vừa mang đặc điểm của biện pháp khẩn
cấp tạm thời trong tố tụng dân sự như sự đơn giản về thủ tục, nhanh chóng
về thời gian áp dụng. Tuy nhiên, về mức độ thì biện pháp bảo đảm thi hành
án chỉ dừng ở việc hạn chế quyền tự định đoạt mà chưa tước quyền tự định
đoạt tài sản của người phải thi hành án như biện pháp cưỡng chế thi hành án.

tỏa tài khoản nhằm ngăn chặn người phải thi hành án thực hiện việc rút
toàn bộ tiền hay một khoản tiền tương ứng với nghĩa vụ phải thi hành án.
Để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án, mọi giao dịch đầu ra tài khoản của chủ
tài khoản sẽ không thực hiện được hoặc bị hạn chế thực hiện. Việc áp dụng
biện pháp này nhằm ngăn chặn việc người phải thi hành án rút hết tiền
trong tài khoản nhằm tẩu tán tiền, trốn tránh việc thi hành án. Tuy nhiên,
cần hiểu đúng về biện pháp này là không ngăn chặn đối với các dòng tiền
17
GVHD: 
SVTH: 




chuyển vào tài khoản mà chỉ ngăn chặn đối với giao dịch đầu ra tương ứng
với nghĩa vụ thi hành án của đương sự chứ không phải là ngăn chặn, cấm
giao dịch đối với toàn bộ tiền trong tài khoản.
Với biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự được áp dụng
nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại đối với các tài sản, giấy tờ này. Đây
là biện pháp mang tính cấp bách và linh hoạt, nhằm tạo điều kiện và cơ sở
pháp lý cho các Chấp hành viên khi phát hiện đương sự có tài sản, giấy tờ
để thi hành án và áp dụng trong bất cứ giai đoạn nào trong quá trình tổ
chức thi hành án.
Tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản áp
dụng nhằm ngăn chặn đương sự có hành vi hoặc có thể thực hiện hành vi
đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng về tài sản mà
pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng để trốn tránh nghĩa
vụ thi hành án. Khi áp dụng biện pháp này, mọi đăng ký, chuyển quyền sở
hữu, sử dụng đối với tài sản không được công nhận và không có giá trị
pháp lý.

nguyện thi hành án thì cơ quan thi hành án sẽ ra quyết định cưỡng chế thi
hành nhằm buộc người phải thi hành thực hiện các nghĩa vụ của họ. Biện
pháp bảo đảm thục hiện trước biện pháp cưỡng chế. Như vậy, biện pháp
bảo đảm là tiền đề, là cơ sở để thực hiện biện pháp cưỡng chế. Cụ thể
“Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phong tỏa tài
khoản, Chấp hành viên phải áp dụng biện pháp cưỡng chế quy định tại
điều 67 Luật này” [19, K3Đ62].
Thêm vào đó, xuất phát từ yêu cầu của việc đa dạng hóa các biện pháp
tổ chức thi hành án dân sự và sự khác nhau giữa biện pháp bảo đảm thi
hành án dân sự và biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự [13, tr7]. Theo
đó, điều kiện để áp dụng biện pháp bảo đảm khi có đủ 3 căn cứ: Bản án,
quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án; quyết định thi hành án của cơ
quan thi hành án; Chấp hành viên chủ động áp dụng khi thấy người phải thi
19
GVHD: 
SVTH: 




hành án có dấu hiệu tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh thực hiện nghĩa vụ
của họ hoặc đương sự có đơn yêu cầu.
Còn điều kiện để áp dụng biện pháp cưỡng chế khi có đủ các căn cứ:
Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; có quyết định thi hành án; và
sau khi người phải thi hành án nhận được hoặc được thông báo hợp lệ sau
15 ngày, người phải thi hành án có đủ điều kiện thi hành mà không thi hành
thì cơ quan Thi hành án sẽ ra quyết định cưỡng chế thi hành. Khi áp dụng
biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự, Chấp hành viên chỉ đặt tài sản của
người phải thi hành án trong tình trạng hạn chế sử dụng, định đoạt vì vậy
không cần phải báo trước cho đương sự. Trong khi đó, biện pháp cưỡng

đề và mất thời gian. Chính đây là thời gian mà đương sự có thể lợi dụng để
thực hiện việc tẩu tán, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản nhằm trốn
tránh nghĩa vụ thi hành án. Đặc biệt với tình hình kinh tế xã hội như hiện nay,
việc bùng nổ công nghệ thông tin càng là “môi trường” thuận lợi để các
đương sự thuận lợi cho việc tẩu tán, trốn tránh nghĩa vụ mà họ phải thi hành
bằng nhiều cách thức. Do đó, thực tiễn đòi hỏi khi chưa thực hiện ngay được
biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự thì pháp luật cần có quy định để Chấp
hành viên có cơ chế ngăn chặn việc tẩu tán, định đoạt tài sản của người phải
thi hành án để thông qua đó có thể bảo toàn điều kiện thi hành án của đương
sự.
Như vậy, biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự được quy định là cần
thiết, có ý nghĩa quan trọng, vừa góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của các đương sự vừa góp phần giáo dục nâng cao ý thức pháp luật
của họ và đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật trong công tác thi
hành án dân sự.
1.2.3. Ý nghĩa của biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự
Với vai trò đảm bảo điều kiện thi hành án của người phải thi hành án,
các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự có ý nghĩa hết sức to lớn, đóng
vai trò quan trọng đối với kết quả tổ chức thi hành các bản án, quyết định
21
GVHD: 
SVTH: 




có hiệu lực pháp luật, cụ thể như sau:
Thứ nhất, góp phần bảo vệ các quyền và lợi ích dân sự hợp pháp
trong bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quyền và
lợi ích dân sự hợp pháp của đương sự được ghi nhận trong bản án, quyết

Xuất phát từ sự thiếu kiên quyết của cơ quan có thẩm quyền trong việc
xử lý các hành vi cản trở của đương sự dẫn đến nhiều đương sự trong các
vụ việc thi hành án có hành vi chống đối lực lượng cưỡng chế thi hành án,
tẩu tán, hủy hoại tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án… hoặc nhiều
trường hợp Chấp hành viên phụ trách vụ việc có thông tin người phải thi
hành án có tài sản để thi hành nhưng đến khi áp dụng biện pháp cưỡng chế
thì tài sản không còn. Để khắc phục những trường hợp này Luật thi hành án
dân sự 2008 đã quy định nhóm các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự
nhằm hạn chế quyền tự định đoạt tài sản của đương sự, nhằm bảo toàn điều
kiện thi hành án của đương sự, góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động
thi hành án dân sự.
Thứ hai, góp phần nâng cao ý thức pháp luật của đương sự trong thi
hánh án.Ý thức pháp luật là một khái niệm trừu tượng, mang tính chủ quan
và phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như trạng thái tâm lý, thái độ, trình
độ nhận thức, hoàn cảnh sống của đương sự, các tác động từ phía cơ quan
thi hành án… Quá trình thi hành án sẽ gặp nhiều thuận lợi và đạt kết quả
cao nếu các đương sự có ý thức pháp luật, có tinh tần hợp tác để thi hành
bản án, quyết định. Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự tuy không làm
chấm dứt quyền định đoạt tài sản của người phải thi hành án, song đối với
người bị áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự phải gánh chịu
những ảnh hưởng đáng kể về tinh thần, uy tín và bị hạn chế về quyền tự
định đoạt tài sản. Biện pháp bảo đảm chỉ được áp dụng trong một thời gian
nhất định. Sau thời hạn đó nếu đương sự không tự nguyện thi hành án thì
cơ quan thi hành án đưa tài sản đó ra cưỡng chế để thi hành án. Do đó, việc
người phải thi hành án lựa chọn biện pháp tự nguyện thi hành án được xem
23
GVHD: 
SVTH: 



SVTH: 




tránh nghĩa vụ phải thi hành. Những giá trị kinh tế xã hội do biện pháp bảo
đảm thi hành án đem lại có thể kể đến như khi phát hiện người phải thi hành
án có tài khoản hoặc có tài sản để thi hành, Chấp hành viên áp dụng biện pháp
bảo đảm thi hành án nhằm ngăn chặn hành vi tẩu tán tài sản, hủy hoại hoặc
trốn tránh thực hiện nghĩa vụ, tạo điều kiện cho quá trình cưỡng chế diễn ra
thuận lợi hơn. Mục đích làm cho việc tổ chức thi hành án có hiệu quả, các cơ
quan thi hành án sẽ tiết kiệm được thời gian, công sức, chi phí.
Mặt khác, như đã phân tích ở trên, do tâm lý e ngại, ảnh hưởng đến danh
dự, uy tín nên người phải thi hành án sẽ tự nguyện thi hành, góp phần ổn định
các quan hệ xã hội, nâng cao ý thức pháp luật, đảm bảo trật tự xã hội.
1.3. Nội dung các quy định của pháp luật hiện hành về biện pháp
bảo đảm thi hành án dân sự
1.3.1. Biện pháp phong tỏa tài khoản
Phong tỏa được hiểu là bao vây, cô lập, cắt đứt mọi liên lạc ra vào
[14, tr230]. Từ đó có thể hiểu phong tỏa tài khoản là một biện pháp nghiệp
vụ làm cho mọi hoạt động “tiền ra” từ một tài khoản nhất định bị hạn chế
và kiểm soát. Đây là thuật ngữ nghành tài chính. Tức là tài khoản đó hoàn
toàn không được hoạt động nhận tiền chuyển vào, rút ra. Số phát sinh nợ,
có, tồn cuối kỳ (tại thời điểm cơ quan chức năng công bố phong tỏa) được
giữ nguyên hiện trạng. Như vậy, việc phong tỏa tài khoản sẽ ảnh hưởng
đến các giao dịch đầu ra của chủ tài khoản thông qua tài khoản đó. Trước
đây, đã có cách hiểu chưa đúng về việc phong tỏa tài khoản để thi hành án,
điển hình như là phong tỏa hoàn toàn tài khoản đó, dừng mọi hoạt động
“tiền ra” và “tiền vào”, chính điều này đã ảnh hưởng đến quyền lợi hợp
pháp của người phải thi hành án và tự làm bó hẹp khả năng thanh toán nợ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status