Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự trong quân đội - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT TĂNG ĐÌNH NĂM Các biện pháp cưỡng chế thi hành án
dân sự trong quân đội

luËn v¨n th¹c sÜ LUẬT
Hµ néi - 2006
1
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung
thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Tăng Đình Năm


Khái niệm, đặc điểm và nguyên tắc thi hành án dân sự
16
1.1.1
Khái niệm thi hành án dân sự
16
1.1.2
Đặc điểm thi hành án dân sự
22
1.1.2.1
Thi hành án dân sự là hoạt động mang tính chất hành chính
- tư pháp
22
1.1.2.2
Đối tượng đặc trưng của thi hành án dân sự là các nghĩa vụ
tài sản
25
1.1.3
Các nguyên tắc cơ bản của thi hành án dân sự.
26
1.1.3.1
Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết đinh của
toà án
26
1.1.3.2
Nguyên tắc thi hành án dân sự là một phương diện hoạt
động nhà nước
27
1.1.3.3
Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, tập thể và tôn
trọng quyền định đoạt của công dân

Đối tượng cưỡng chế thi hành án dân sự là tài sản hoặc
hành vi của người phải thi hành án
35
1.2.2.4
Người phải thi hành án phải chịu mọi chi phí về cưỡng chế
35
1.2.2.5
Hiệu lực của quyết định cưỡng chế
36
1.3
Các nguyên tắc và ý nghĩa của các biện pháp cưỡng chế thi
hành án dân sự
36
1.3.1
Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự được áp dụng
theo các nguyên tắc sau
36
1.3.2
ý nghĩa cũa cưỡng chế thi hành án dân sự
38
1.4
Khát quát về sự hình thành và phát triển của chế định cưỡng
chế thi hành án dân sự trong pháp luật Việt Nam qua các
thời kỳ lịch sử

38 4
1.4.1

Nam hiện hành
53
2.2
Những quy định cơ bản về các biện pháp cưỡng chế thi
hành án dân sự trong Pháp lệnh thi hành án dân sự hiện
hành

54
2.2.1
2.2.1 Khấu trừ tài khoản, trừ vào tiền, thu hồi giấy tờ có giá
của người phải thi hành án (Điều 39)
54
2.2.2
Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án (Điều 40)
59
2.2.3
Kê biên tài sản (Điều 41)
60
2.2.4
Cưỡng chế giao đồ vật (Điều 53)
61
2.2.5
Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ giao nhà, chuyên quyền sử
63 5
dụng đất (Điều 54)
2.3
Một số nguyên nhân dẫn đến áp dụng các biện pháp cưỡng

73
3.1.3.2
Khái quát hoạt động cưỡng chế thi hành án dân sự trong
quân đội
75
3.2
Thực tiễn áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân
sự trong quân đội
78
3.2.1
Một số nét về tình hình thi hành án dân sự ba năm
2003, 2004 và 2005
78
3.2.2
Những vướng mắc, bất cập trong việc áp dụng các biện
pháp cưỡng chế trong quân đội.
79 6
3.3
Kiến nghị một số giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu
quả của hoạt động cưỡng chế thi hành án dân sự
83

Kết luận
88

Phụ lục 1
90
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLDS
Bộ Luật dân sự
BLTTDS
Bộ Luật tố tụng dân sự
Nxb
Nhà xuất bản
PLTHADS
Pháp lệnh thi hành án dân sự
PLTHADS 2004
Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004
THADS
Thi hành án dân sự
TAQSKV
Toà án quân sự khu vực
TAND
Toà án nhân dân
TAQSQK
Toà án quân sự quân khu
THADS
Thi hành án dân sự
TTLT
Thông tư liên tịch
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
VKSQSQK
Viện kiểm sát quân sự quân khu
9
và xã hội với các cơ quan tư pháp ngày càng cao; các cơ quan tư pháp phải thực
sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời
phải là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh
có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm”.
Chính vì vậy, để mọi phán quyết của Toà án nhân danh nhà nước được
thực hiện trên thực tế (trong trường hợp các đương sự tự nguyện thi hành) không
có cách nào khác ngoài việc cơ quan nhà nước phải tổ chức thi hành án Điều 136
Hiến pháp năm 1992 khẳng định: “Các bản án và quyết định của Toà án nhân
dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế,
tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang và mọi công dân tôn trọng; những người và
đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”.
Thi hành án là hoạt động đảm bảo hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án
nhằm bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và
cá nhân. Hoạt động thi hành án hiệu quả thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật
và bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN). Với mục tiêu xây dựng nhà nước
pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân. Đảng và nhà nước ta đã quan tâm
đặc biệt đến tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, trong đó có các cơ
quan thi hành án dân sự. Nhà nước ta đã xây dựng được một hệ thống pháp luật
tương đối hoàn chỉnh, trong đó có pháp luật về thi hành án. Các quy định của pháp
luật về thi hành án dân sự nói chung và các biện pháp cưỡng chế thi hành án là cơ
sở pháp lý quan trọng cho việc quản lý cũng như tổ chức và hoạt động của các cơ
quan thi hành án, Chấp hành viên.
Sự nghiệp đổi mới đang đặt ra cho đất nước ta một yêu cầu cấp bách là phải
đẩy mạnh hoạt động tư pháp. Thi hành án là một trong những nội dung của hoạt
động tư pháp. Do những điều kiện lịch sử nhất định, công tác thi hành án chưa
được quản lý tập trung thống nhất, có sự phân tán, hiệu quả hoạt động chưa cao.
Đứng trước tình hình đó, đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan thi hành

thi hành án phần tài sản trong các bản án, quyết định hình sự của các Toà án quân 11
sự, đa số người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù tại các trại cải tạo,
không có tài sản để thi hành án hoặc người phải thi hành án có thu nhập thấp cơ
quan thi hành án phải để cho họ thi hành dần, mặt khác số lượng Chấp hành viên
ít, quản lý địa bàn hoạt động rất rộng cho nên kết quả thi hành án dân sự trong Bộ
Quốc phòng qua hơn 13 năm thu được không lớn nhưng đó là cả một quá trình
phấn đấu liên tục của toàn thể đội ngũ Chấp hành viên, cán bộ thi hành án, là sự
đóng góp không nhỏ công sức của toàn thể cán bộ, nhân viên ngành trong quá
trình thực hiện nhiệm vụ. Được sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của
Thủ trưởng Bộ Quốc Phòng, Tư lệnh Quân khu, Quân chủng Hải Quân, sự quản
lý, hướng dẫn, chỉ đạo chặt chẽ của Cục Thi hành án Bộ Quốc phòng cho nên đội
ngũ Chấp hành viên, cán bộ ngành thi hành án đã nhận thức được đầy đủ ý nghĩa,
mục đích, tầm quan trọng, cũng như trách nhiệm của mình đối với công tác thi
hành án dân sự. Nhìn chung đội ngũ cán bộ thật sự yêu ngành, yêu nghề, tâm
huyết với công việc được giao, vượt qua mọi khó khăn gian khổ, biết vận dụng
linh hoạt các biện pháp theo luật định để tổ chức thi hành vụ việc cụ thể đạt hiệu
quả cao nhất.
Vì vậy, để nâng cao nhận thức và góp phần hoàn thiện hơn nữa pháp luật
thi hành án dân sự, việc nghiên cứu đề tài: “Các biện pháp cưỡng chế thi hành
án dân sự trong quân đội" mang tính cấp thiết, không những về lý luận, mà còn
là một đòi hỏi thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động thi hành án nói
chung và thi hành án dân sự trong quân đội nói riêng.
2. Tình hình nghiên cứu:
Thi hành án là một vấn đề quan trọng, không thể thiếu của một nhà nước
pháp quyền. Chính vì vậy, đã được một số nhà luật học, cơ quan, tổ chức quan
tâm nghiên cứu. Trong đó, Bộ Tư pháp đã nghiên cứu và bảo vệ cấp nhà nước
năm 2005 đề tài: " Luận cứ khoa học và thực tiễn việc đổi mới tổ chức và hoạt

13
- Tìm hiểu chế định cưỡng chế thi hành án dân sự của pháp luật một số
nước.
- Phân tích một số nội dung quy định của pháp luật hiện hành về các biện
pháp pháp cưỡng chế thi hành án dân sự.
- Thực tiễn áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự trong quân
đội và một số kiến nghị.
3.3. Đối tượng nghiên cứu của luận văn:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn áp
dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự trong trong quân đội.
3.4. Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
- Nghiên cứu một cách tổng quát có hệ thống chế định cưỡng chế thi hành
án dân sự hiện hành. Trong đó đi sâu vào nội dung áp dụng chế định cưỡng chế thi
hành án dân sự trong quân đội và thông qua việc nghiên cứu này để kiến nghị
những giải pháp nhằm tăng cường công tác thi hành án dân sự trong quân đội.
- Việc tổng kết, đánh giá quá trình áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi
hành án dân sự được thực hiện trên cơ sở khảo sát, kiểm tra hoạt động của cơ quan
thi hành án dân sự trong quân đội trong thời gian 3 năm (2003, 2004 và 2005).
4. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài:
Cơ sở phương pháp luận của luận văn là chủ nhĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử. Trong khi thực hiện đề tài, các phương pháp hệ thống, phân
tích, tổng hợp, lịch sử, logíc, thống kê, so sánh pháp luật, xã hội học pháp luật,
điều tra xã hội học, khảo sát thực tiễn… đã được sử dụng để hoàn thành các nhiệm
vụ mà tác giả luận văn đặt ra.
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn :
Đây là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên trong khoa học pháp lý
Việt Nam ở cấp độ luận văn thạc sỹ luật học, nghiên cứu một cách toàn diện, có 14

- Mở đầu
- Chương 1: khái quát về thi hành án dân sự và cưỡng chế thi hành án dân
sự.
- Chương 2: Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự theo pháp luật Việt
Nam hiện hành.
- Chương 3: Thực tiễn áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự
trong quân đội và một số kiến nghị
- Kết luận
- Phụ lục
- Danh mục tài liệu tham khảo. 16
thức thi hành án. Những năm sau đó, trong hoàn cảnh gian lao, khó khăn của cuộc
kháng chiến kiến quốc, công tác thi hành án vẫn được chú trọng, hoàn thiện không
những ngày càng cụ thể về trình tự, thủ tục mà ngay cả bộ máy, con người làm
trong công tác này cũng được cũng cố và tăng cường. Để nâng cao hiệu quả công
tác thi hành án, nhằm thống nhất việc thi hành án hình, án hộ và bảo đảm sự phối
kết hợp giữa hai cơ quan: tư pháp và hành chính, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành
Thông tư số 24-BK ngày 26/4/1949 quy định về các cơ quan có nhiệm vụ chấp
hành, các cơ quan có bổn phận giúp sức thi hành án và các cách thức thi hành án
đối với án hình. Thông tư này còn quy định về nguyên tắc, thể thức chấp hành,
trách nhiệm của cơ quan, cá nhân giúp việc và cách thức thi hành, các biện pháp
cưỡng bức nhằm bảo đảm thi hành đối với án hộ. Tại Sắc lệnh số 85-SL ngày
22/5/1950 của Chủ tịch nước Việt nam dân chủ Cộng hoà về cải cách bộ máy tư
pháp và tố tụng, thẩm quyền về việc chấp hành án cũng như biện pháp bảo đảm
thi hành án đã được quy định cụ thể.
Khi Hiến pháp 1980, 1992 được ban hành, vấn đề bảo đảm tính hiệu lực
của bản án, quyết định của toà án đã được ghi nhận và trở thành một nguyên tắc
Hiến định, Điều 137 Hiến pháp 1980, Điều 136 Hiến pháp 1992 quy định rõ: các 18
bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các
cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và
mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp
hành. Trên cơ sở đó, pháp luật về thi hành án cũng ngày càng được hoàn thiện,
đánh dấu bằng các mốc son quan trọng là việc ban hành Bộ Luật tố tụng hình sự
năm 1986; Pháp lệnh thi hành án dân sự năm l989; Pháp lệnh thi hành án phạt tù
năm 1993; Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 và Pháp lệnh thi hành án dân
sự năm 2004 .
Hoạt đồng thi hành án ở nước ta hiện nay có thể nói đang ở trong tình trạng
rất phân tán cả về mặt tổ chức thực hiện và về quản lý nhà nước. Trách nhiệm

tiền, tịch thu tài sản, xử lý vật chứng, tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính,
án phí trong bản án, quyết định của Toà án về hình sự, quyết định tuyên bố phá
sản doanh nghiệp, quyết định giải quyết tranh chấp kinh tế hay thương mại của
Trọng tài có thủ tục thi hành riêng, tuỳ từng trường hợp cụ thể để xác định loại tố
tụng thi hành bản án, quyết định cho phù hợp.
Quan điểm thứ hai cho rằng, thi hành án dân sự phải được hiểu theo nghĩa
rộng, tương thích với cách hiểu khái niệm “dân sự” theo nghĩa rộng, đó là những
quan hệ không phải là hình phạt về nhân thân đối với cá nhân. ý kiến này so sánh
với pháp luật của nhiều nước trên thế giới, việc tổ chức thi hành các bản án có
nguồn gốc pháp luật về nội dung là luật tư (luật dân sự, kinh doanh, thương mại,
lao động) được thực hiện theo một thủ tục chung mà không có sự tách bạch căn
bản việc thi hành án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh tế, thương mại hay lao động.
Trên cơ sở của hai quan điểm trên theo chúng tôi đồng ý với loại quan điểm
thứ hai là phải hiểu đúng từ “dân sự” trong thi hành án theo nghĩa rộng, không chỉ
là bản án, quyết định dân sự của Toà án, mà còn là bản án, quyết định khác của
Toà án và quyết định của cơ quan tổ chức có thẩm quyền mà pháp luật quy định
do cơ quan thi hành án dân sự thi hành. Các bản án, quyết định dân sự do cơ quan 20
thi hành án dân sự thi hành không chỉ là bản án, quyết định của Toà án về vụ án
dân sự, kinh tế, lao động, phá sản doanh nghiệp, bản án, quyết định của Toà án
nước ngoài, quyết định của Trong tài nước ngoài được Toà án Việt Nam công
nhận và cho thi hành tại Việt Nam, mà còn thi hành các quyết định về dân sự, phạt
tiền, tịch thu tài sản, xử lý vật chứng, tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính,
án phí trong bản án, quyết định của Toà án về hình sự và quyết định về phần tài
sản trong bản án, quyết định của Toà án về hành chính. Ngoài ra, cơ quan thi hành
án dân sự còn được giao thi hành quyết định của tổ chức không phải là toà án, như
quyết định của trọng tài.
Như vậy, qua các quan điểm nêu trên ta có thể rút ra được khái niệm thi

tập hợp hoá, pháp điển hoá và ban hành Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2004 có hiệu
lực ngày 01/01/2005; Bộ Luật dân sự năm 2005, có hiệu lực 01/01/2006.v.v. Theo
quy định của các văn bản pháp luật này, thì trình tự thủ tục thi hành án dân sự
được áp dụng thi hành đới với:
- Bản án, quyết định của Toà án về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động,
kinh tế;
- Bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của Trong
tài nước ngoài được Toà án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;
- Quyết định về dân sự, phạt tiền, tịch thu tài sản, xử lý vật chứng, tài sản,
truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí trong bản án, quyết định của Toà án
về hình sự;
- Quyết định về phần tài sản trong bản án, quyết định của Toà án về hành
chính;
- Quyết định tuyên bố phá sản;
- Quyết định của Trọng tài thương mại Việt nam; 22
- Bản án, quyết định khác do pháp luật quy định.
Có thể nói, tháng 6/1993 trở về trước, công tác thi hành án dân sự do Toà
án nhân dân và Toà án quân sự các cấp đảm nhiệm. Toà án vừa là cơ quan xét xử
đồng thời vừa chịu trách nhiệm tổ chức thi hành án. Do Toà án chỉ chú trọng vào
công tác xét xử nên công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn này rơi vào tình
trạng rất yếu kém. Trong bối cảnh chung cơ sở vật chất hết sức khó khăn, đội ngũ
Chấp hành viên, cán bộ thi hành án vừa thiếu vừa yếu, hệ thống pháp luật không
đồng bộ. Hơn nữa, do phải tập trung vào nhiệm vụ xét xử, nên công tác thi hành
án dân sự chưa được coi trọng đúng mức.
Thực hiện Nghị quyết tại kỳ họp thứ nhất ngày 6/10/1992 của Quốc hội
khóa IX về việc bàn giao công tác thi hành án dân sự từ Toà án nhân dân các
cấp sang các cơ quan của Chính phủ. Pháp lệnh thi hành án dân sự ngày

Đây là giai đoạn kết thúc quá trình bảo vệ quyền lợi của đương sự. Việc
tách rời giai đoạn thi hành án ra khỏi tiến trình tố tụng sẽ làm mất ý nghĩa của giai
đoạn xét xử - giai đoạn có ý nghĩa quyết định trong quá trình tố tụng cũng như
toàn bộ các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng khác. Nếu hiểu theo
nghĩa rộng, thi hành án dân sự không chỉ là tổng hợp các hành vi thi hành bản án,
quyết định dân sự theo nghĩa rộng của Toà án theo quy định của pháp luật về thi
hành án, mà bao gồm cả những hành vi nhằm thi hành bản án, quyết định theo
quy định cuả các văn bản pháp luật khác. Như vậy, việc chuyển giao công tác thi
hành án từ cơ quan xét xử sang cơ quan hành chính không có nghĩa là thủ tục thi
hành án dân sự là thủ tục hành chính. Thủ tục tố tụng dân sự cũng như thủ tục tố
tụng hình sự không thể hiểu chỉ có Toà án tiến hành mà do nhiều cơ quan, tổ chức
tiến hành. Nội dung thi hành án dân sự chủ yếu mang tính tài sản, dựa trên bản án,
quyết định của toà án, nó gắn liền với việc giải quyết vụ án. Chính vì vậy, thi hành

Trích đoạn Nguyên tắc kết hợp giữa sự tự nguyện và cưỡng chế thi hành án: Khái niệm cƣỡng chế thi hành án dân sự: Đặc điểm của cƣỡng chế thi hành án dân sự Các biện pháp cƣỡng chế thi hành án dân sự đƣợc áp dụng theo các nguyên tắc sau đây: Giai đoạn trước Cách mạng tháng 8 năm 1945:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status