Biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản để thi hành án dân sự - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT



ĐINH HẠNH NGA

ẢNH HƯỞNG CỦA
NHO GIÁO ĐẾN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP
LUẬT VIỆT NAM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VỢ VÀ
CHỒNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

luận văn thạc sỹ luật học Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: pgs.ts. Hà thị mai hiên
Hà nội, 2007
1
MỤC LỤC
Mục lục 1
Bảng chữ cái viết tắt 3
Mở đầu 4
Nội dung 5
Chƣơng 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ KÊ
BIÊN TÀI SẢN ĐỂ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 6
1.1. Khái niệm biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản để thi hành án dân sự 6
1.1.1. Khái niệm kê biên tài sản 6
1.1.2. Kê biên tài sản – Biện pháp cưỡng chế để thi hành án dân sự 7
1.1.2.1. Điều kiện để chấp hành viên ra quyết định áp dụng biện pháp
cưỡng chế kê biên tài sản của người phải THA 9
1.1.2.2. Xử lý tài sản đã kê biên 9
1.1.3. Sự khác biệt giữa kê biên tài sản là một biện pháp khẩn cấp tạm
thời với kê biên tài sản – biện pháp cưỡng chế để thi hành án dân sự 12

Chƣơng 3. THỰC TIỄN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ KÊ BIÊN
TÀI SẢN ĐỂ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ HIỆN NAY 45
3.1. Những kết quả đạt được 45
3.2. Những vướng mắc gặp phải trong quá trình áp dụng biện pháp
cưỡng chế kê biên tài sản để THA 47
3.2.1. Xuất phát từ những nguyên nhân chủ quan 47
3.2.2. Xuất phát từ những nguyên nhân khách quan 48
3.2.3. Những bất cập từ các quy định về kê biên tài sản 53
3.3. Khuyến nghị 58
Kết luận 62
Danh mục tài liệu tham khảo 64
3
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT

THA
Thi hành án
THADS
Thi hành án dân sự
PLTHADS
Pháp lệnh thi hành án dân sự
PLTTGQCVADS
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
KBTS
Kê biên tài sản
CHV
Chấp hành viên
CQTHADS

nhiều khi không đạt hiệu quả, nó ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng THADS
hiện nay. Việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về biện pháp cưỡng chế
KBTS và quá trình áp dụng trong thực tế là cơ sở quan trọng cho việc hoàn
thiện về mặt pháp luật đồng thời tìm ra được những thiếu sót, vướng mắc về
mặt lý luận cũng như thực tiễn của biện pháp cưỡng chế KBTS để THADS, từ
đó nâng cao hiệu quả khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế góp phần vào việc
đẩy mạnh công tác THADS nói chung.
Hiện nay đã có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về THADS,
song riêng về các biện pháp cưỡng chế THA trong đó có biện pháp cưỡng chế
KBTS chưa có công trình nào nghiên cứu sâu sắc về vấn đề này. Để góp phần
nâng cao hiệu quả THADS thì việc nghiên cứu và hoàn thiện các quy định
của pháp luật về biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản để THA là cần thiết. 5
Chính vì thế tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu này làm Luận văn tốt
nghiệp.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật thi hành án
dân sự Việt Nam về biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản để thi hành án và
thực tiễn áp dụng các quy định đó, chủ yếu từ khi pháp lệnh THADS 1993 và
pháp lệnh THADS 2004 có hiệu lực cho đến nay. Trong đó tập trung xem xét,
nghiên cứu những tồn tại cơ bản của hoạt động cưỡng chế kê biên tài sản để
THA trong mối quan hệ với hiện trạng pháp luật như là một nguyên nhân
chính bên cạnh các nguyên nhân khác.
Mục đích nghiên cứu của đề tài: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của
biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản để THA nhằm nhận thức đúng đắn hơn
về cưỡng chế kê biên tài sản từ đó thấy được vai trò quan trọng của nó đối với
hiệu quả của hoạt động THA; đồng thời, trên cơ sở nghiên cứu tìm ra những
vướng mắc gặp phải trong quá trình áp dụng pháp luật về biện pháp cưỡng
chế kê biên tài sản và đưa ra những đề xuất cụ thể

nay chúng ta chưa có một khái niệm khát quát về tài sản mà chỉ có một định
nghĩa mang tính chất liệt kê: Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các
quyền tài sản (Điều 163 BLDS 2005)
Thuật ngữ kê biên tài sản đã được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp
luật của nước ta như pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989,
pháp lệnh thi hành án dân sự 1993, 2004… do đó, có thể thấy rằng đây là một
thuật ngữ pháp lý được sử dụng nhiều trong pháp luật tố tụng dân sự. Trong
cuốn từ điển các thuật ngữ pháp lý thông dụng cũng của nhà xuất bản Thành
phố Hồ Chí Minh năm 1999 có định nghĩa KBTS như sau: “Kê biên tài sản là
việc ghi lại từng tài sản, cấm việc tẩu tán, phá hủy, để đảm bảo cho việc xét
xử và thi hành án”.
Như vậy, kê biên tài sản là một thuật ngữ pháp lý chỉ việc tính toán và
ghi chép lại tài sản theo một trật tự nhất định nhằm mục đích cụ thể. Tài sản ở
đây có thể là vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.
Từ những năm 1989 trở về trước, trong pháp luật tố tụng dân sự nước
ta chưa có sự phân biệt rõ ràng hai khái niệm kê biên tài sản và tịch biên tài
sản. Song mỗi khái niệm về một sự vật hiện tượng luôn gắn với một hoàn
cảnh lịch sử cụ thể, trong quá trình phát triển các nhà lập pháp đã có sự phân
biệt về hai khái niệm này. Kê biên chỉ là một hình thức ghi lại tài sản theo thứ
tự và áp dụng đối với tài sản hợp pháp của một chủ thể, còn tịch biên thường 8
được áp dụng đối với tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Cũng chính vì thế
mà nó kéo theo hậu quả pháp lý khác nhau. Tài sản bị tịch biên thường bị
sung công quỹ Nhà nước, tài sản kê biên sẽ được xử lý để thực hiện nghĩa vụ
của người có tài sản bị kê biên, có nghĩa là không bị sung công quỹ Nhà
nước. Như vậy, tịch biên có thể gọi là tịch thu sung công quỹ Nhà nước
những tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp, nó có bản chất hoàn toàn khác với
kê biên.

Nếu người được THA trực tiếp trình bày yêu cầu THA bằng lời nói tại
cơ quan THA thì cơ quan THA phải lập biên bản ghi rõ nội dung yêu cầu theo
đúng hướng dẫn về đơn yêu cầu quy định tại Điều 6 Nghị định số
173/2004/NĐ-CP. sau đó, yêu cầu người yêu cầu ký vào biên bản hoặc nếu
không biết chữ thì điểm chỉ. Biên bản cũng có chữ ký của cán bộ lập biên bản,
biên bản thay cho đơn yêu cầu THA. Cán bộ lập biên bản cũng phải làm thủ
tục vào sổ nhận đơn yêu cầu và cấp cho người yêu cầu phiếu nhận đơn như
đối với trường hợp nhận đơn yêu cầu của đương sự. Thời hạn ra quyết định
thi hành án là năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định;
đối với quyết định về biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải ra ngay quyết định
thi hành án.
Sau khi có quyết định THA, Thủ trưởng cơ quan thi hành án (CQTHA)
phải phân công chấp hành viên là nhiệm vụ thi hành. Chấp hành viên bắt đầu
thủ tục THA bằng thông báo cho người được THA, người phải THA về việc
THA. Chấp hành viên cũng định cho người phải THA thời hạn không quá 30
ngày, kể từ ngày nhận được quyết định THA để tự nguyện THA (Điều 6 Pháp
lệnh THADS 2004). Nếu hết thời hạn này mà người phải THA không tự
nguyện thi hành thì chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế THA. Trong
trường hợp cụ thể CHV có quyền kê biên tài sản của người phải THA.
Như vậy, kê biên tài sản là biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, chủ
thể có quyền áp dụng là cơ quan THA dân sự mà cụ thể là chấp hành viên
được phân công trách nhiệm thi hành bản án, quyết định dân sự đó. Tài sản bị
kê biên là tài sản của người phải THA, người phải THA này có thể là cá nhân 10
hoặc tổ chức đã được xác định cụ thể, đích danh trong quyết định, bản án
được mang ra thi hành.
1.1.2.1. Điều kiện để chấp hành viên ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng
chế kê biên tài sản của người phải THA là:

sản đã kê biên được đem bán đấu giá để lấy tiền thực hiện nghĩa vụ
THA của người phải THA.
Việc bán đấu giá được tiến hành theo quy định của pháp luật, tiền bán
tài sản kê biên sau khi trừ mọi chi phí THA sẽ được thanh toán theo một thứ
tự ưu tiên nhất định. Sau khi thanh toán đầy đủ nghĩa vụ THA, nếu còn thì
CHV trả lại cho người phải THA.
Như vậy, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản là để đảm
bảo thi hành bản án, quyết định của Tòa án về tài sản. Khi áp dụng biện pháp
cưỡng chế này CHV nhân danh quyền lực Nhà nước tiến hành ghi lại từng tài
sản của người phải THA, theo một trình tự nhất định để đảm bảo thực hiện
nghĩa vụ THA về tài sản của người đó. Sau một thời gian nhất định, nếu
người phải THA không thực hiện nghĩa vụ thì tài sản này được mang bán đấu
giá để lấy tiền thi hành án.
12


Cấm hoặc buộc người phải
THA không làm hoặc làm 13

1.1.3. Sự khác biệt giữa kê biên tài sản là một biện pháp khẩn cấp tạm
thời với kê biên tài sản - biện pháp cƣỡng chế thể thi hành án dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, thẩm phán của TAND có
quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời KBTS, mặt khác trong quá trình
THA thì CHV của cơ quan THA cũng có quyền KBTS với tính chất là một
biện pháp cưỡng chế để đảm bảo cho THA.
Theo Điều 41 – PLTTGQCVADS – 1989, khi có yêu cầu của đương
sự, của Viện kiểm sát hoặc khi tự xét thấy cần thiết, Tòa án áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời “ Kê biên tài sản đang tranh chấp để tránh việc tẩu tán”.
Mặc dù vậy, biện pháp này được Thẩm phán áp dụng chỉ nhằm mục đích
“Tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự hoặc để bảo vệ bằng
chứng”. Việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong đó có KBTS
đang tranh chấp do Thẩm phán áp dụng là để chuẩn bị cho hoạt động xét xử
của Tòa án, nó khác với kê biên tài sản được quy định tại Điều 41 –
PLTHADS 2004 bởi KBTS do thẩm phán áp dụng không nhằm mục đích để
thi hành án. Sở dĩ như vật bởi vì các lý do sau:
Trước hết, về đối tượng tài sản kê biên. Tòa án chỉ tiến hành kê biên
với những tài sản mà đương sự đang có tranh chấp để tránh việc tẩu tán, trong
khi đó KBTS do CHV áp dụng để đảm bảo THA thì đối tượng tài sản ở đây là
tất cả những tài sản được phép kê biên (trong đó có tài sản đang tranh chấp)
mà người phải THA là chủ sở hữu.

kê biên để THA được khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự trong thời hạn 03
tháng để bảo vệ quyền lợi của mình, chính vì thế, nếu Hội đồng xét xử áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời KBTS mà để THA thì mặc nhiên đã tước đi
quyền khởi kiện của các đối tượng nói trên.
Như vậy, pháp luật thi hành án dân sự chưa quy định Tòa án được
quyết định KBTS để đảm bảo THA, nếu thấy cần thiết Tòa án áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời KBTS đang tranh chấp để tránh việc tẩu tán. Thẩm 1
Xem tạp chí Nhà nước và pháp luật số 4/98,trang 20,21. 15
phán ra quyết định kê biên trước khi xét xử và chuyển giao cho cơ quan THA
để thi hành. Vì thế, Tòa án không được tự mình KBTS để trực tiếp đảm bảo
cho THA bởi tính chất của biện pháp này là biện pháp khẩn cấp tạm thời, nó
được lập thành văn bản dưới dạng quyết định và cho thi hành ngay. Sau khi
có quyết định, bản án thì biện pháp này đương nhiên mất hiệu lực. Trong khi
đó, KBTS – biện pháp cưỡng chế để THA chỉ áp dụng khi đã có quyết định,
bản án của Tòa án được thi hành. CHV chỉ áp dụng khi người phải THA
không tự nguyện thi hành trong thời hạn đã ấn định, và với mục đích nhằm
đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án. Biện pháp khẩn cấp
tạm thời KBTS
Cưỡng chế KBTS
để thi hành án
Thời điểm

hành trong thời hạn
Mục đích
Đảm bảo xét xử
Giải quyết yêu cầu cấp
bách của đương sự
Đảm bảo cho THA
Đối tượng
Tài sản đang có tranh
chấp
Tài sản của người
phải THA
Tính chất
Tạm thời
Chính thức

1.1.4. Ý nghĩa của biện pháp cƣỡng chế kê biên tài sản để THA.
Cưỡng chế kê biên tài sản để THA góp phần vào bảo đảm pháp chế
XHCN bởi yêu cầu của pháp chế là sự đòi hỏi mọi chủ thể phải tuân thủ pháp
luật một cách đầy đủ, nghiêm minh và bình đẳng, mà KBTS để THA là nhằm
hiện thực hóa các quyết định, bản án dân sự của Tòa án, đây chính là một hoạt
động tích cực bảo vệ pháp luật , bảo đảm pháp chế.
Thứ hai, cưỡng chế kê biên tài sản để thi hành án đảm bảo được quyền
lợi của Nhà nước, tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đảm bảo
được sự công bằng trong xã hội. Mục đích của cưỡng chế nói chung là buộc
người phải THA thực hiện nghĩa vụ của mình trước bên có quyền – người
được THA, người được THA này có thể là Nhà nước, tập thể hoặc cá nhân
công dân, vì thế, nó chính là một biện pháp bảo đảm cho quyền của người
được THA.
Thứ ba, thông qua cưỡng chế KBTS góp phần vào tuyên truyền, giáo
dục pháp luật về THA. ở Việt Nam chúng ta ý thức pháp luật của người dân

hình thành và phát triển của chế định này luôn gắn bó và có quan hệ mật thiết
với sự hình thành và phát triển của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.
Quá trình phát triển này được chia theo các giai đoạn sau:
1.2.1. Giai đoạn từ 1945 đến 1960
Năm 1945, Cách mạng tháng 8 thành công lập nên nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa, chấm dứt chế độ cai trị của thực dân phong kiến. Song do điều 18
kiện lịch sử lúc đó, Nhà nước ta vừa hình thành chưa thể xây dựng, ban hành
ngay được một hệ thống pháp luật mới nên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban
hành sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 về việc tạm thời giữ các luật lệ hiện
hành của chế độ cũ ở Bắc, Trung, Nam bộ với điều kiện “Không trái với
nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể cộng hòa”. Vì những lẽ
đó, hoạt động THA ở nước ta vẫn do Thừa phát lại đảm nhiệm, hoạt động của
Thừa phát lại đã được hình thành ở nước ta từ năm 1910 trên cơ sở luật tố
tụng dân sự ban hành kèm theo Nghị định ngày 09/03/1910 của Toàn quyền
Đông Dương được duy trì cho đến năm 1950. Bên cạnh đó, theo sắc lệnh số
13/SL ngày 24/01/1946 có quy định: Ban tư pháp xã cũng có quyền thi hành
những mệnh lệnh của Tòa án cấp trên bao gồm cả bản án và quyết định của
Tòa án. Như vậy, trong những năm đầu của chính quyền cách mạng, tổ chức
hoạt động THADS đã hình thành và song song tồn tại hai lực lượng THA là
Thừa phát lại và Ban tư pháp xã. Đến năm 1950, theo Sắc lệnh số 85/SL ngày
22/05/1950 “Về cải cách bộ máy tư pháp và tố tụng” công tác thi hành án dân
sự được giao cho Tòa án đảm nhiệm mà cụ thể là cho Thẩm phán TAND cấp
huyện.
Tiếp theo đó Thông tư 19/VHH/HS ngày 30/06/1955 của Bộ Tư pháp,
Chỉ thị 772/TATC ngày 10/07/1957 của TANDTC thì từ thời gian này trở đi
các Tòa án không được áp dụng pháp luật của chế độ cũ nữa. Lúc này, hoạt
động THADS được tiến hành theo Thông tư 4176 – HCTP ngày 28/11/1957

của quyết định này đã quy định CHV chỉ có quyền áp dụng các biện pháp
cưỡng chế THA sau khi được sự thỏa thuận của Chánh án TAND nơi CHV
công tác.
Trong giai đoạn 1960 – 1989 về nội dung biện pháp cưỡng chế KBTS
được quy định cụ thể tại Thông tư số 04/TT - NCPL ngày 14/04/1966 của
TANDTC hướng dẫn về KBTS như sau:
 Phạm vi tài sản kê biên 20
Những tài sản có thể kê biên là tài sản của người mắc nợ, kể cả những
tài sản mà họ đang gởi giữ ở nơi khác, cho người khác mượn, đang đem đi
sửa chữa hoặc những món nợ đang cho người khác vay.
Nếu can phạm đang ở tù thì Tòa án cũng có thể kê biên những đồ vật
mà trại giam đang giữ của họ như đồng hồ, đồ trang sức… để THA.
Trong việc kê biên nhà phải được tiến hành thận trọng. Tùy trường hợp
mà có thể giải quyết chỗ ở cho họ bằng các yêu cầu họ bán nhà đi để THA, số
tiền còn lại sẽ được dùng để mua hoặc làm nhà khác rẻ hơn; nếu họ không
chịu thì kê biên.
 Những đồ vật không được kê biên
 Quần áo, chăn màn, giường chiếu… tối cần thiết cho người mắc nợ
và gia đình họ.
 Lương thực cần thiết do người mắc nợ và gia đình họ sinh sống.
 Đồ dùng để thờ cúng.
 Đồ dùng tối cần thiết cho nghề nghiệp của người mắc nợ và gia đình
họ để sinh sống.
Những thứ cần để lại cho người mắc nợ và gia đình họ sinh sống tùy
từng trường hợp cần xét một cách cụ thể như: Đối với gia đình nông dân nói
chung có thể kê biên được xe đạp, nhưng đối với những người ở thành thị đi
làm ở xa thì có thể phải để lại cho người mắc nợ xe đạp để họ đi công tác.

Thông tư số 04/TT-NCPL ngày 14/04/1966 đã hướng dẫn về cách định
giá và bán các tài sản đã bị kê biên để THA.
Sau khi trả những chi phí, tiền bán những đồ vật đã bị kê biên sẽ dùng
để thanh toán những khoản tiền phải THA, nếu còn thừa thì trả cho người mắc
nợ.
Tiền phát mại tài sản thu được sẽ được trả theo thứ tự ưu tiên sau:
 Tiền cấp dưỡng.
 Tiền bồi thường những tổn hại về sức khỏe, tính mệnh của công
dân
 Tiền công lao động 22
 Các món nợ của Nhà nước, Hợp tác xã.
 Các món nợ khác.
Như vậy, từ năm 1960 - 1989 tuy Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn
bản hướng dẫn về tổ chức và hoạt động THADS, nhưng các văn bản quy định
còn tản mạn ở nhiều Thông tư, Quyết định khác nhau, giá trị pháp lý của các
văn bản này còn thấp dẫn đến công tác cưỡng chế THA đạt hiệu quả không
cao. Để tăng cường, đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác THADS ngày
28/08/1989 Nhà nước ta đã ban hành Pháp lệnh thi hành án dân sự
(PLTHADS), đánh dấu là một sự thay đổi lớn trong tiến trình phát triển của
pháp luật về thi hành án dân sự.
1.2.3. Giai đoạn từ 1989 đến 1993
Ngày 28/08/1989, PLTHADS đầu tiên đã được ban hành tạo cơ sở
pháp lý cho việc tăng cường hoàn thiện về tổ chức và hoạt động, tạo một bước
phát triển mới trong công tác THADS. Lần đầu tiên, các nguyên tắc, trình tự,
thủ tục THADS và các biện pháp cưỡng chế THA được quy định một cách cụ
thể, chặt chẽ dưới một hình thức có giá trị pháp lý của Hội đồng Nhà nước
(nay là ủy ban thường vụ Quốc Hội). Theo pháp lệnh này từ chỗ Thẩm phán

trong quá trình THA đều thuộc thẩm quyền của Chánh án. Chính vì vậy mà
việc áp dụng cưỡng chế KBTS đôi khi không mang lại hiệu quả, hoặc đạt hiệu
quả rất thấp, công tác THA chưa nghiêm ảnh hưởng xấu đến việc giữ gìn trật
tự an toàn xã hội, gây nên sự bất bình trong quần chúng nhân dân.
2

Trước tình hình đó, Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ nhất đã thông qua
Nghị quyết về việc bàn giao công tác THA từ Tòa án nhân dân sang cơ quan
thuộc Chính phủ. Pháp lệnh THADS 1989 được thay thế bằng pháp lệnh
THADS 1993.
1.2.4. Giai đoạn từ 1993 đến 2004.
Pháp lệnh THADS 1993 là một văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao
nhất trong lĩnh vực THADS tại thời điểm ban hành có ghi nhận về biện pháp
cưỡng chế KBTS để THA. Ngoài ra, biện pháp cưỡng chế này còn được quy 2
Xem: Chuyên đề tổ chức và họat động THADS - Thực trạng và phương hướng đổi mới của Viện nghiên
cứu khoa học pháp lý –BTP, tr7

Trích đoạn Giai đoạn từ 1993 đến 2004 Giai đoạn từ 2004 đến nay Khuyến nghị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status