Xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Bình Định - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TRỌNG TÀI

XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG
HOẠT ĐỘNG KÊ BIÊN TÀI SẢN ĐỂ THI HÀNH ÁN
DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TRỌNG TÀI

XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG
HOẠT ĐỘNG KÊ BIÊN TÀI SẢN ĐỂ THI HÀNH ÁN
DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH ĐỊNH

Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số
:
838.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ
LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG KÊ BIÊN TÀI
SẢN ĐỂ THI HÀNH ÁN ................................................................................ 7
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của xử lý vi phạm hành chính trong
hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự ................................................ 7
1.2. Các yếu tố cấu thành xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực kê biên
tài sản để thi hành án dân sự ........................................................................... 15
1.3. Các yếu tố tác động đến hoạt động xử lý vi phạm hành chính trong
hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự.............................................. 30
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG HOẠT ĐỘNG KÊ BIÊN TÀI SẢN ĐỂ THI HÀNH ÁN DÂN
SỰ TỈNH BÌNH ĐỊNH ................................................................................. 37
2.1. Các đặc điểm của xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động kê biên
tài sản để thi hành án dân sự tại tỉnh Bình Định ............................................. 37
2.2. Quy định pháp luật hiện hành về xử lý vi phạm hành chính trong hoạt
động kê biên tài sản để thi hành án dân sự...................................................... 42
2.3. Thực tiễn xử lý vi phạm hành chính trong hoat động kê biên tài sản để
thi hành án dân sự tại tỉnh Bình Định ............................................................. 45
CHƯƠNG 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG KÊ BIÊN
TÀI SẢN ĐỂ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ...................................................... 64
3.1. Nhu cầu nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động
kê biên tài sản để thi hành án dân sự ............................................................... 64
3.2. Quan điểm nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính trong hoạt
động kê biên tài sản để thi hành án dân sự...................................................... 66


3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm trong hoạt động kê biên tài
sản để thi hành án dân sự ................................................................................ 68


Thi hành án dân sự

UBND

Ủy ban nhân dân

VKSND

Viện kiểm sát nhân dân

XLVPHC

Xử lý vi phạm hành chính

XHCN

Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Tổng số vụ việc bị áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản
của người phải thi hành án từ năm 2015 – 2017 ............................................. 40
Bảng 2.2. Số vụ việc vi phạm và số đối tượng bị xử phạt vi phạm hành
chính từ năm 2015 đến 2017 ........................................................................... 49
Bảng 2.3. Kết quả thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính từ năm
2015 đến năm 2017 ......................................................................................... 50
Bảng 2.4. Tổng số Quyết định XPVPHC và số tiền xử phạt từ năm 2015
đến 2017 .......................................................................................................... 59



có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các hoạt động THADS, nhất là trong
hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự còn chưa cao; tại nhiều địa
phương, đã để xảy ra tình trạng chống đối cơ quan thi hành án dân sự bằng
nhiều hình thức như tẩu tán hoặc làm hư hỏng tài sản thuộc diện kê biên để
không thực hiện nghĩa vụ thi hành án, thậm chí là phá huỷ niêm phong, huỷ
hoại tài sản đã kê biên... Thực tế đó đã chứng tỏ vi phạm hành chính trong
lĩnh vực này hàng năm không những chưa giảm mà còn có xu hướng ngày
càng nhiều hơn và phức tạp hơn.
Mặt khác, thực tế cho thấy, các qui định về XPVPHC trong hoạt động
kê biên tài sản để thi hành án dân sự thời gian qua vẫn chưa phát huy hiệu
quả, việc phòng ngừa, xử lý vi phạm vẫn còn nhiều hạn chế, nhiều hành vi vi
phạm trong THADS diễn ra phổ biến nhưng chưa được xử lý kịp thời. Người
có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của cơ quan THADS còn “ngại”
việc xử phạt vi phạm hành chính, chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm trong
việc xử phạt. Thống kê cho thấy một số địa phương trong nhiều năm không
thực hiện việc XPVPHC trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân
sự; Chấp hành viên và các cơ quan THADS không thực hiện việc XPVPHC
hoặc né tránh XPVPHC do ngại phải tổ chức thi hành quyết định XPVPHC.
Nhiều hành vi vi phạm xảy ra thường xuyên nhưng rất ít khi bị xử lý hành
chính, điển hình như những hành vi: Đã nhận giấy báo, giấy triệu tập lần thứ
hai nhưng không đến địa điểm mà không có lý do chính đáng, không cung cấp
thông tin, không thực hiện quyết định khấu trừ thu nhập của người có thẩm
quyền… Ngoài ra còn có quan điểm còn cho rằng nếu ra quyết định XPVPHC
thì việc xử phạt không có tính khả thi, số tiền phải thi hành tăng dẫn đến
người phải thi hành án sẽ tiếp tục chống đối, cản trở việc thi hành án, không
thực hiện quyết định XPVPHC, trong khi việc tổ chức cưỡng chế để thi hành
quyết định XPVPHC không hề dễ dàng …
Để góp phần giải pháp những đòi hỏi của thực tiễn công tác XLVPHC
2



- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Đậu Thị Thủy "Quản lý nhà nước
về thi hành án dân sự qua thực tế ở Thanh Hóa", (Viện Nhà nước và Pháp luật,
2008);
- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Nguyễn Thế Ánh về "Thực hiện
pháp luật về thi hành án dân sự qua thực tiễn tỉnh Hưng Yên” (Học viện khoa
học Xã hội, 2011);
- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Trần Phương Hồng về "Hoàn thiện
pháp luật thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp", (Học viện khoa học
Xã hội, 2012).
- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Lê Văn Hữu về ”Quản lý Nhà nước về
công tác Thi hành án dân sự thực tiễn tại tỉnh Quảng Nam”, (Học viện khoa học xã
hội năm 2014).
Bên cạnh đó là Giáo trình môn Luật tố tụng dân sự, Giáo trình chuyên
ngành Luật Hành chính của trường Đại học Luật Hà Nội và các trường Đại
học có chuyên ngành luật; Sổ tay Nghiệp vụ THADS của Tổng Cục THADS
và một số bài viết đăng trên các Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Luật
học, Tạp chí Nhà nước và pháp luật…
Các công trình nêu trên đã có nội dung nghiên cứu về THADS ở những
góc độ, khía cạnh và mức độ khác nhau. Tuy nhiên chưa có một công trình
nào nghiên cứu về XLVPHC trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án
dân sự, luận văn này tập trung nghiên cứu vấn đề đó qua thực tiễn ở tỉnh Bình
Định để đề xuất các biện pháp thực hiện có hiệu quả hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn XLVPHC trong
hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự ở tỉnh Bình Định, luận văn đề
xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động XLVPHC trong lĩnh vực kê
biên tài sản để thi hành án dân sự ở tỉnh Bình Định.

chủ nghĩa xã hội; về đấu tranh với vi phạm hành chính.
5


5.2. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong luận văn:
Phương pháp luật học so sánh, phương pháp xã hội học, phương pháp thống
kê, phương pháp tổng hợp ...
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần hệ thống các vấn đề lý luận về XLVPHC liên quan
đến khái niệm, đặc điểm của việc thực hiện, đảm bảo thực hiện và các yêu
cầu, yếu tố ảnh hưởng đến việc đảm bảo thực hiện pháp luật XLVPHC trong
hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn góp phần hoàn thiện cơ chế thực hiện và bảo vệ pháp luật,
giáo dục pháp luật theo chủ trương, đường lối của Đảng. Luận văn có thể
được sử dụng làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu xây dựng pháp luật
XLVPHC trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự ở Việt Nam
hiện nay; đồng thời, bổ sung những tài liệu cần thiết cho cán bộ, sinh viên
trong công tác, học tập và nghiên cứu khoa học; Luận văn có thể là tài liệu
tham khảo của các cơ quan quản lý THADS, cơ quan THADS.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có
cơ cấu như sau:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về xử lý vi phạm hành chính trong
hoạt động kê biên tài sản để thi hành án.
Chương 2. Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động kê
biên tài sản để thi hành án dân sự tỉnh Bình Định.
Chương 3. Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm

khác so với hoạt động tố tụng, hoạt động tố tụng mang tính quyền lực Tư
pháp, không thể xã hội hóa [49, tr.10,11].

7


Như vậy, THA có thể được hiểu là thực hiện bản án, quyết định của TA
trên thực tế. Bản án, quyết định của TA được hiểu là là văn bản pháp lý của
TA nhân danh Nhà nước tuyên tại phiên tòa, giải quyết về các vấn đề trong vụ
án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính. Việc
thực hiện bản án, quyết định của TA có hiệu quả, một mặt bảo đảm thực hiện
quyền tư pháp của Nhà nước, thể hiện sự tôn trọng của xã hội và công dân đối
với phán quyết của cơ quan nhân danh Nhà nước là TA, mặt khác nó là biện
pháp hữu hiệu để khôi phục các quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức
và công dân bị xâm hại.
Từ sự phân tích ở trên, có thể THADS là hoạt động hành chính - Tư
pháp do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ
tục do pháp luật qui định để đưa bản án, quyết định của TA hoặc các quyết
định khác theo qui định của pháp luật, được thực hiện trên thực tế, nhằm bảo
đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của các công dân, tổ chức,
bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Đối với lĩnh vực THADS, có thể hiểu THADS là thực hiện các bản án,
quyết định dân sự của TA hoặc các quyết định khác do pháp luật quy định,
trên thực tế. Về nguyên tắc, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của
TA được những người, đơn vị liên quan, còn gọi là những người được THA
và người phải THA tự nguyện thi hành. Trường hợp các đương sự không tự
nguyện, bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật sẽ được cơ quan THADS thi
hành theo quy định của pháp luật THADS.
Các bản án, quyết định được cơ quan THADS đưa ra thi hành đó là Bản
án, quyết định dân sự; hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu

1.1.1.2. Khái niệm kê biên tài sản để thi hành án dân sự
Hoạt động thi hành án là công đoạn cuối cùng, bảo đảm cho bản án,
quyết định của Toà án được chấp hành, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh
của pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp
của tổ chức, cá nhân và Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã
hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước. Quá trình tổ chức thi

9


hành án, Chấp hành viên cơ quan Thi hành án dân sự sử dụng nhiều biện pháp
theo quy định của pháp luật, trong đó có các biện pháp cưỡng chế nói chung
và biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản của người phải thi hành án nói riêng,
nhằm mục đích đảm bảo cho việc thi hành án, mang lại quyền và lợi ích hợp
pháp cho các bên có quyền và nghĩa vụ liên quan.
Cưỡng chế thi hành án là một biện pháp thi hành án thể hiện rõ nhất
bản chất của việc Nhà nước sử dụng quyền lực của mình mà cụ thể là thông
qua hoạt động của Chấp hành viên cơ quan Thi hành án dân sự để tác động
đến người phải thi hành án để đảm bảo hiệu lực trên thực tế của các Bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
Từ những nội dung phân tích trên, có thể khái niệm: Kê biên tài sản để
thi hành án dân sự là một trong các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự,
là cơ chế thi hành án do pháp luật quy định, theo đó Chấp hành viên của Cơ
quan Thi hành án dân sự sử dụng quyền lực Nhà nước để buộc bên phải thi
hành án thi hành nghĩa vụ mà bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên hoặc
các quyết định của cơ quan tài phán khác.
1.1.1.3. Khái niệm xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động kê biên
tài sản để thi hành án dân sự
Vào những năm đầu của thập kỷ 90, các quy định của Pháp lệnh Xử lý
vi phạm hành chính năm 1989, sửa đổi, bổ sung 1995 và các văn bản pháp

pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm
hành chính theo quy định của pháp luật về XPVPHC. XPVPHC Trong hoạt
động kê biên tài sản để thi hành án dân sự, là một trong những chế định quan
trọng của pháp luật nhằm đấu tranh phòng và chống các vi phạm hành chính,
giữ vững an ninh, trật tự an toàn xã hội, góp phần đưa các bản án, quyết định
có hiệu lực của Toàn án được thực thi trên thực tế, bảo đảm quyền và lợi ích
hợp pháp cho cá nhân, tổ chức.
1.1.2. Đặc điểm của xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động kê
biên tài sản để thi hành án dân sự
XLVPHC trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự có các
11


đặc điểm như sau:
Thứ nhất, XLVPHC là việc áp dụng trách nhiệm pháp lý do Nhà nước
quy định đối với các loại vi phạm pháp luật khác nhau tuỳ theo tính chất, mức
độ của vi phạm và được Nhà nước bảo đảm thực hiện. Cưỡng chế hành chính
là biện pháp cưỡng chế Nhà nước do cơ quan, người có thẩm quyền quyết
định áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính hoặc đối
với một số cá nhân, tổ chức nhất định nhằm mục đích ngăn chặn hay phòng
ngừa, vì lý do an ninh quốc phòng hoặc vì lợi ích quốc gia.
Thứ hai, XLVPHC là việc áp dụng trách nhiệm hành chính (bao gồm
xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả) đối với đối
tượng vi phạm hành chính do chủ thể nhất định áp dụng theo trình tự, thủ tục
được pháp luật quy định. Chủ thể có thẩm quyền áp dụng các chế tài xử phạt
hành chính hoặc các biện pháp xử lý hành chính là những chức danh thuộc cơ
quan hành chính Nhà nước do pháp luật quy định cụ thể. Vi phạm hành chính
mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn tội phạm, do đó các biện pháp, chế tài
áp dụng có mức độ nghiêm khắc thấp hơn.
Thứ ba, việc áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm pháp luật hành chính

tài sản để thi hành án dân sự
XLVPHC có vai trò hết sức quan trọng, vì nó là phương tiện, công cụ
không thể thiếu để duy trì, bảo vệ trật tự xã hội (trong đó có trật tự, an toàn
giao thông), tạo điều kiện và định hướng cho sự phát triển xã hội. Vai trò của
XLVPHC trong lĩnh vực hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự, thể
hiện trên những điểm sau:
Thứ nhất, XLVPHC có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ các quy
tắc, trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự, được xác định trong
các quy phạm pháp luật hành chính. Ví dụ: Hành vi vi phạm quy định trong
hoạt động thi hành án dân sự, được quy định tại Điều 52 Nghị định số
67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015 Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 14/9/2013 của Chính phủ quy định xử
13


phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ Tư pháp, hành chính tư pháp,
hôn nhân và gia đình, Thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã,
với rất nhiều hình thức khác nhau (cảnh cáo, phạt tiền, biện pháp khắc phục
hậu quả), mức độ khác nhau phù hợp với các vi phạm hành chính trong
THADS rất đa dạng.
Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động thi hành án
dân sự nói chung và trong hoạt động kê biên tài sản để thi hành án dân sự nói
riêng, nếu cá nhân, tổ chức vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt
chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền; tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân,
tổ chức có hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động Thi hành án dân sự
còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung; ngoài hình
thức xử phạt chính, xử phạt bổ sung, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính còn
có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả.
Thứ hai, thông qua việc áp dụng các biện pháp XLVPHC có tác dụng
tuyên truyền giáo dục pháp luật, nhằm răn đe, giáo dục ý thức pháp luật cho

1.2.1. Vi phạm hành chính
Khi đề cập đến pháp luật xử phạt vi phạm hành chính thì một trong
những vấn đề cần được quan tâm hàng đầu là cơ sở của việc xử phạt hành
chính. Cơ sở của việc xử phạt vi phạm hành chính là có hành vi vi phạm hành
chính được pháp luật quy định. Việc nghiên cứu về khái niệm hành vi vi
phạm hành chính vừa có ý nghĩa lý luận quan trọng vừa mang tính thực tiễn
sâu sắc, bởi lẽ, chỉ khi định nghĩa được đúng về hành vi vi phạm hành chính
mới có thể xác định được các vi phạm hành chính cụ thể trong từng lĩnh vực
quản lý nhà nước. Xác định được đúng hành vi vi phạm hành chính, tức là xác
định đúng cơ sở xử phạt, thì việc thực hiện xử phạt hành chính mới bảo đảm
chính xác, bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của tổ
chức và cá nhân, phát huy được hiệu quả và mục đích của việc xử phạt hành
chính là nhằm lập lại trật tự quản lý Nhà nước bị xâm hại, góp phần giáo dục,
người vi phạm và răn đe, phòng ngừa vi phạm trong tương lai, tránh được sự
tuỳ tiện trong xử phạt hành chính.
Ở một số nước trên thế giới, vi phạm hành chính thường được hiểu
15


chung là các hành vi vi phạm pháp luật mà không phải là tội phạm, bị xử phạt
bằng các chế tài hành chính. Ví dụ Pháp lệnh của Hội đồng bang Milaca,
Minnesota (Bang Minesota, Hoa Kỳ) định nghĩa VPHC là hành vi vi
phạm quy định của Pháp lệnh này và phải chịu các hình thức xử phạt hành
chính theo quy định…”. Luật về xử phạt hành chính của Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa năm 1996 (Điều 3) định nghĩa vi phạm hành chính là “hành vi vi
phạm trật tự hành chính của công dân và pháp nhân hoặc các tổ chức khác,
bị áp dụng các hình thức phạt hành chính được quy định bởi pháp luật theo
quy định của Luật này và các hình thức xử phạt này được giao cho các cơ
quan hành chính áp dụng theo thủ tục do Luật này quy định” [28]. Trong khi
đó, theo quy định của Bộ luật xử phạt vi phạm hành chính của Cộng hòa liên

các quan hệ xã hội được pháp luật hành chính bảo vệ. Tính xâm hại các quy
tắc QLNN là một dấu hiệu của vi phạm hành chính. Điều này thể hiện rõ ý chí
của Nhà nước trong quan niệm về vi phạm hành chính, nó nói lên tính giai
cấp, tính xã hội của pháp luật hành chính trong việc đưa ra các quy định về xử
phạt vi phạm hành chính.
- Tính có lỗi của vi phạm hành chính: Lỗi là trạng thái tâm lý, thái độ
của người vi phạm đối với hành vi, hậu quả của hành vi đó tại thời điểm thực
hiện hành vi. Những người bình thường đạt tới độ tuổi nhất định đều có khả
năng điều khiển, nhận thức được tính chất nguy hại cho xã hội. Không có lỗi
thì không coi là vi phạm hành chính. Như vậy, lỗi là dấu hiệu cơ bản trong
mặt chủ quan của vi phạm hành chính, là dấu hiệu bắt buộc phải có trong mọi
hành vi do cá nhân thực hiện. Hành vi vi phạm được coi là có lỗi thể hiện ở ý
thức của người vi phạm tức là người vi phạm biết được tính xâm hại cho quan
hệ xã hội của hành vi trái pháp luật. Nếu không nhận thức được tính xâm hại
cho cho quan hệ xã hội của hành vi thì không có lỗi.
- Tính trái pháp luật hành chính: Là hành động thực hiện ngược lại với
quy định của pháp luật, hành động bị pháp luật cấm thực hiện hoặc không
thực hiện hành động mà pháp luật hành chính buộc phải thực hiện. Hay nói
cách khác: Vi phạm hành chính là hành vi xâm hại các quy tắc quản lý Nhà
nước các quy tắc này do pháp luật hành chính quy định. Do đó, vi phạm hành
17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status