VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN GIANG NAM
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI
TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN GIANG NAM
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI
TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG BÌNH
Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số
:
60.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TRONG THI
HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH .................................................35
2.1. Khái quát về thi hành án dân sự tại tỉnh Quảng Bình ........................................35
2.2. Thực tiễn khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong thi hành án dân sự tại tỉnh
Quảng Bình ...............................................................................................................37
2.3. Đánh giá chung về giải quyết khiếu nại trong thi hành án dân sự tại tỉnh
Quảng Bình ...............................................................................................................47
CHƯƠNG 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI
QUYẾT KHIẾU NẠI TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG BÌNH .............................................................................................57
3.1. Quan điểm nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại trong thi hành án dân sự ...57
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại trong thi hành dân sự từ
thực tiễn tỉnh Quảng Bình .........................................................................................58
KẾT LUẬN ..............................................................................................................74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CHV
: Chấp hành viên
THADS
: Thi hành án dân sự
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Thông qua công tác giải quyết khiếu
nại, Đảng và Nhà nước kiểm tra tính đúng đắn, sự phù hợp của đường lối, chính
sách, pháp luật do mình ban hành, từ đó có cơ sở thực tiễn để hoàn thiện sự lãnh
đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước. Vì vậy, giải quyết khiếu nại
của công dân là một vấn đề được Đảng, Nhà nước và nhân dân đặc biệt quan tâm.
Để việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại đúng pháp luật, góp phần phát huy dân
chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức và tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, vững
chắc hơn trong giải quyết khiếu nại, Nhà nước ta đã ban hành Luật Khiếu nại năm
2011. Để phát huy và nâng cao trách nhiệm trong giải quyết khiếu nại, tố cáo của cả
hệ thống chính trị, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số: 35/CT-TW ngày 26/5/2014
về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp dân và giải quyết khiếu
nại, tố cáo.
Thi hành án dân sự (THADS) là một trong những hoạt động quan trọng
nhằm khôi phục và bảo vệ các quan hệ xã hội bị xâm phạm. Do đó, thi hành dứt
điểm các Bản án, Quyết định đã có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp
luật nhưng được thi hành ngay trên thực tế có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong
việc bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Để đảm bảo hiệu lực của Bản án, Quyết định
trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm ban hành nhiều chủ trương,
chính sách và pháp luật, cũng như hỗ trợ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho công tác
1
THADS. Các cơ quan quản lý THADS, cơ quan THADS và toàn thể cán bộ, công
chức ngành THADS đã nỗ lực phấn đấu để nâng cao kết quả và hiệu quả của công
tác THADS. Nhờ có sự quan tâm và cố gắng trên, nhiều Bản án, Quyết định của
Tòa án đã được thi hành dứt điểm, đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà
nước, của cơ quan, tổ chức và các cá nhân góp phần vào việc ổn định tình hình an
ninh chính trị, tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên
công tác THADS là công tác phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau
điển hình sau:
- Nguyễn Thanh Thủy (2008), Hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự ở
Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sỉ Luật học tại Học viện Chính trị - Hành chính
quốc gia Hồ Chí Minh.
- Hoàng Thế Anh (2013), Giám sát thi hành án dân sự, Luận án Tiến sỉ Luật
học tại Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Lê Thị Tuyết Thanh (2015), Kiểm sát thi hành án dân sự từ thực tiễn thành
phố Hải Phòng, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Nguyễn Thanh Mai (2013), Các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả
tiền, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
- Nguyễn Văn Công (2012), Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả thi hành án dân sự ở tỉnh Bắc Giang, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
- Phan Huy Hiếu (2012), Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự, Luận văn
Thạc sỹ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
- Học viện Tư pháp (2010), Giáo trình kỷ năng thi hành án dân sự, NXB
Thống kê, Hà Nội.
Bên cạnh đó còn có một số bài viết đăng trên tạp chí Dân chủ và pháp luật,
cụ thể:
- Hồ Xuân Chính (2011), Một số vấn đề về kê biên góp vốn theo Luật Thi
hành án dân sự năm 2008, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 5/2011, tr 53-59.
- Hồ Xuân Chính (2011), Vài suy nghĩ về thời hạn áp dụng biện pháp bảo
đảm thi hành án, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 7/2011, tr 30-32.
- Lê Thị Lệ Duyên (2012), Bàn về quan hệ phối hợp giữa cơ quan thi hành
3
án với các cơ quan hữu quan trong thi hành án dân sự, Tạp chí Dân chủ và Pháp
luật, số 10/2012, tr 28-30.
Các công trình nêu trên đã có nội dung nghiên cứu về thi hành án dân sự ở
những góc độ, khía cạnh và mức độ khác nhau nhưng chưa có công trình nào nghiên
khiếu nại trong THADS, đánh giá thực trạng giải quyết khiếu nại trong THADS tại
tỉnh Quảng Bình, đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại trong
THADS từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương, quan điểm của
Đảng cộng sản Việt Nam; chính sách, pháp luật của Nhà nước về giải quyết khiếu
nại trong thi hành án dân sự.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu bao gồm: Phương pháp phân
tích - tổng hợp, phương pháp thống kê, cụ thể:
Chương 1 sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp các tài liệu để nghiên
cứu lý luận và pháp luật về giải quyết khiếu nại trong thi hành án dân sự, đồng thời
tổng hợp các yếu tố tác động đến hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại trong thi
hành án dân sự.
Chương 2 sử dụng phương pháp phân tích và phương pháp thống kê để đánh
giá thực trạng giải quyết khiếu nại trong thi hành án dân sự tại tỉnh Quảng Bình, từ
đó đưa ra đánh giá chung về công tác giải quyết khiếu nại trong thi hành án dân sự
tại tỉnh Quảng Bình.
Chương 3 sử dụng phương pháp phân tích các yêu cầu hoàn thiện pháp luật
về giải quyết khiếu nại trong thi hành án dân sự. Đồng thời, từ những vướng mắc
của các quy định pháp luật và thực trạng giải quyết khiếu nại trong thi hành án dân
sự tại tỉnh Quảng Bình, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công
tác này trong thời gian tới.
5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
1.1.1. Khái niệm khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong thi hành án dân
sự
1.1.1.1. Khái niệm thi hành án dân sự
Thi hành án dân sự là một giai đoạn nhằm thực hiện những bản án, quyết
định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật vào trong cuộc sống, biến các quyết định
của Tòa án trong những bản án, quyết định đó được thi hành trong thực tiễn. Tuy
nhiên, thi hành án dân sự là một thủ tục tố tụng dân sự hay thủ tục hành chính đã có
nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này.
Quan điểm thứ nhất cho rằng thi hành án dân sự không phải là một thủ tục tố
tụng dân sự, mà là một hoạt động mang tính chất chấp hành và điều hành, như vậy
thi hành án dân sự là một thủ tục hành chính.
Quan điểm thứ hai cho rằng thi hành án dân sự là một thủ tục tố tụng dân sự.
Đây là giai đoạn tiếp theo của giai đoạn xét xử không thể thiếu trong quá trình bảo
vệ quyền lợi của đương sự.
Quan điểm thứ ba cho rằng thi hành án dân sự là một thủ tục tố tụng đặc biệt
bởi nó vừa mang tính chất của thủ tục tố tụng dân sự lại vừa là thủ tục hành chính.
Cả ba quan điểm trên đều có điểm hợp lý nhưng quan điểm thứ hai là phù
hợp hơn bởi những lý do sau:
Thứ nhất: Khi tranh chấp dân sự phát sinh, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình, các đương sự phải nhờ vào sự can thiệp của nhà nước mà cụ thể là
Tòa án. Sau khi thụ lý vụ việc, Tòa án tiến hành thẩm tra, xác minh, hòa giải, xét xử
để đưa ra phán quyết của mình. Việc giải quyết vụ việc lúc này mới là giai đoạn đầu
của quá trình tố tụng. Ở giai đoạn này, Tòa án mới giải quyết được về nội dung của
7
vụ án, phân định quyền và nghĩa vụ của các bên. Nếu phán quyết đó không được
đưa ra thi hành thì lợi ích của đương sự chưa được bảo vệ, hiệu lực của bản án,
quyết định của Tòa án không được bảo đảm. Việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của đương sự là cả một quá trình và trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Chỉ khi nào
Vì vậy, thi hành án dân sự là hoạt động tố tụng dân sự nhằm thi hành bản án,
quyết định của Tòa án. Giai đoạn thi hành án dân sự là giai đoạn kết thúc bảo vệ
quyền lợi của đương sự, trong đó bản án, quyết định của Tòa án được đưa ra thi
hành trên thực tế.
1.1.1.2. Khái niệm khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong thi hành án dân sự
Theo từ điển Tiếng Việt thì khiếu nại là: Đề nghị cơ quan có thẩm quyền xét
một việc làm mà mình không đồng ý, cho là trái phép hay không hợp lý.
Tại Khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 quy định: “Khiếu nại là việc
công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do luật này quy
định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành
chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm
quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ công
chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm
phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình” [27, tr.1].
Điều 30 Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
quy định rõ:
“1. Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu
nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và
phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật.
3. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền
khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác” [29, tr.7].
Quyền khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân, được Hiến
pháp, pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện. Đó là hiện tượng phát sinh trong đời
sống xã hội như là một phản ứng của con người trước một quyết định, hành vi nào
đó mà người khiếu nại cho rằng quyết định hay hành vi đó là không phù hợp với các
9
như sau: Khiếu nại về THADS là việc đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến việc thi hành án đề nghị người có thẩm quyền xem xét lại quyết định,
hành vi của Thủ trưởng cơ quan THADS, CHV khi có căn cứ cho rằng quyết định,
hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Cùng với quyền khiếu nại của các bên đương sự, người có quyền lợi và nghĩa
vụ liên quan là nghĩa vụ giải quyết khiếu nại của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có
thẩm quyền giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật. Làm tốt công tác giải
quyết khiếu nại trong THADS không những bảo vệ quyền lợi chính đáng của các
bên đương sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan mà còn góp phần nâng cao
hiệu quả hoạt động THADS, bảo đảm cho tất cả các Bản án, Quyết định của Tòa án
có hiệu lực thi hành trên thực tế, tạo niềm tin của xã hội đối với hoạt động THADS,
tin tưởng vào những phán quyết của Tòa án.
Giải quyết khiếu nại trong THADS cũng mang đầy đủ bản chất, mục đích,
nội dung, ý nghĩa của công tác giải quyết khiếu nại nói chung. Giải quyết khiếu nại
trong THADS về bản chất đó là việc cá nhân, cơ quan có thẩm quyền tiến hành các
hoạt động cần thiết nhằm làm rỏ việc khiếu nại có đúng hay không. Cụ thể là xác
định xem quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan THADS hoặc CHV có trái
pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hay không. Tính
chất, mức độ, hậu quả của sự xâm phạm đó như thế nào, từ đó đưa ra kết luận về
từng vấn đề liên quan, làm cơ sở cho việc ban hành quyết định giải quyết khiếu nại.
Trong quá trình giải quyết khiếu nại, cơ quan hoặc người có thẩm quyền giải quyết
khiếu nại một mặt sử dụng những tài liệu, chứng cứ tiếp nhận từ người khiếu nại,
mặt khác có thể tổ chức xác định, thu thập thêm thông tin, tài liệu để làm căn cứ cho
việc kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại một cách chính xác. Từ đó kết
luận nội dung khiếu nại là đúng, đúng một phần hoặc sai toàn bộ. Trên cơ sở đó ra
quyết định giải quyết khiếu nại theo hướng giữ nguyên, sửa đổi, hủy bỏ hoặc yêu
cầu sửa đổi, hủy bỏ hoặc yêu cầu sửa đổi, hủy bỏ một phần quyết định, hành vi bị
khiếu nại hoặc buộc chấm dứt việc thực hiện quyết định, hành vi bị khiếu nại, đồng
nại. Vì vậy, quá trình giải quyết khiếu nại phải tuân theo các bước đã được quy định
cụ thể trong Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Thứ ba, thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong thi hành án dân sự thuộc về
12
thủ trưởng cơ quan đơn vị nơi quản lý, sử dụng người bị khiếu nại hoặc là thủ
trưởng cơ quan đơn vị cấp trên trực tiếp nếu người bị khiếu nại là thủ trưởng cơ
quan đơn vị đó.
Để quá trình giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự được chính xác,
khách quan, Luật THADS được sữa đổi, bổ sung năm 2014 và các văn bản hướng
dẫn thi hành đã quy định rất cụ thể thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong thi hành
án dân sự. Theo đó thủ trưởng cơ quan đơn vị nơi quản lý, sử dụng người bị khiếu
nại hoặc là thủ trưởng cơ quan đơn vị cấp trên trực tiếp nếu người bị khiếu nại là
thủ trưởng cơ quan đơn vị đó có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Quy định như vậy
bảo đảm cho việc giải quyết khiếu nại được khách quan, đúng pháp luật, việc giải
quyết khiếu nại được diễn ra công tâm, điều đó khác với thẩm quyền giải quyết
khiếu nại của các cơ quan hành chính nhà nước khác. Luật khiếu nại năm 2011 quy
định cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu là chính cơ quan đã có
quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại. Quy định như vậy có thể
dẫn đến tình trạng người giải quyết khiếu nại lần đầu giải quyết không công tâm, vô
tư, không nhận ra được cái sai trong quyết định, hành vi bị khiếu nại bởi vì quyết
định hành chính, hành vi hành chính đó là của chính bản thân mình.
Thứ tư, giải quyết khiếu nại trong thi hành án dân sự phản ánh mối quan hệ
giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực thi hành án dân sự với đương
sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án dân sự.
Trong quan hệ này cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét quyết định, hành vi
trái pháp luật bị khiếu nại từ đó đi đến kết luận nội dung khiếu nại là đúng, đúng
một phần hoặc sai toàn bộ. Quyết định giữ nguyên, sửa đổi, hủy bỏ hoặc yêu cầu
sửa đổi, hủy bỏ một phần quyết định, hành vi bị khiếu nại hoặc buộc chấm dứt việc
Thông qua công tác giải quyết khiếu nại trong THADS, quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án
khi bị xâm hại được khôi phục, vì vậy đã hạn chế được tình trạng khiếu nại kéo dài,
gây bức xúc trong dư luận, góp phần ổn định trật tự an toàn xã hội.
Mặt khác, thực hiện tốt công tác giải quyết khiếu nại trong THADS còn giúp
phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm đối với những sai phạm, tiêu cực, tham nhũng
nếu có của Thủ trưởng cơ quan THADS và CHV, góp phần cũng cố niềm tin của
14
nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và tính nghiêm minh của pháp luật.
Ba là, giải quyết khiếu nại trong THADS góp phần tăng cường vào pháp chế
xã hội chủ nghĩa
Pháp chế là một phạm trù rộng lớn không chỉ chứa đựng nội dung pháp luật
mà còn chứa đựng những nội dung chính trị, xã hội và con người. Vì vậy bảo đảm
cho pháp chế được cũng cố, tăng cường và hoàn thiện là yêu cầu khách quan của
quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì
dân, đó cũng là yêu cầu khách quan của quá trình hoàn thiện các quyền của con
người trong xã hội.
Pháp chế xã hội chủ nghĩa là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị - xã
hội, trong đó tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, xã hội, lực lượng vũ
trang, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước và mọi công dân đều phải tôn trọng
và thực hiện pháp luật. Như vậy, pháp chế xã hội chủ nghĩa liên quan mật thiết với
pháp luật xã hội chủ nghĩa. Pháp chế là một phạm trù thể hiện những yêu cầu và sự
đòi hỏi đối với các chủ thể pháp luật, buộc các chủ thể này phải tôn trọng và triệt để
thực hiện pháp luật. Pháp luật chỉ có thể phát huy được hiệu lực của mình khi được
dựa trên cơ sở vững chắc của nền pháp chế và ngược lại pháp chế chỉ có thể được
cũng cố và tăng cường khi có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh.
Với ý nghĩa đó, công tác giải quyết khiếu nại trong THADS được các chủ thể
quán triệt, thống nhất thực hiện một cách nghiêm minh không những góp phần bảo
quyền ấy một cách tràn lan, lợi dụng quyền khiếu nại để trốn tránh nghĩa vụ pháp
luật buộc phải thực hiện.
Như vậy, thông qua hoạt động thực hiện pháp luật về giải quyết khiếu nại
trong THADS; đương sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến việc thi
hành án sẽ hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật về THADS nói chung, pháp luật
giải quyết khiếu nại về THADS nói riêng. Từ đó nâng cao hơn nữa ý thức chấp
hành pháp luật của họ.
Đối với công chức cơ quan THADS, thông qua công tác giải quyết khiếu nại
Thủ trưởng cơ quan THADS, CHV có điều kiện đánh giá, kiểm điểm lại tính đúng
đắn, tính phù hợp pháp luật của các quyết định, hành vi của mình. Từ đó rút kinh
nghiệm, tăng cường ý thức trách nhiệm, nâng cao hiệu quả công tác, hạn chế bị
16
khiếu nại.
1.2. Chủ thể, đối tượng, nội dung và thủ tục giải quyết khiếu nại trong
thi hành án dân sự
1.2.1. Chủ thể giải quyết khiếu nại trong thi hành án dân sự
Theo quy định của Luật Khiếu nại năm 2011, người có thẩm quyền giải
quyết khiếu nại là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại.
Theo quy định của Luật THADS được sữa đổi, bổ sung năm 2014 thì những
người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong THADS bao gồm: Thủ trưởng cơ
quan THADS (Chi cục trưởng Chi cục THADS, Cục trưởng Cục THADS), Thủ
trưởng cơ quan quản lý THADS (Tổng cục trưởng Tổng cục THADS), Bộ trưởng
Bộ Tư pháp.
Giải quyết khiếu nại trong THADS được thực hiện theo quy trình giải quyết
hai cấp. Mỗi cấp có quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại riêng. Cụ thể như
sau:
Thứ nhất, thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu trong THADS
Theo quy định tại điều 142 Luật THADS được sữa đổi, bổ sung năm 2014 thì
quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái pháp luật của Cục trưởng Cục
THADS.
Thứ hai, thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai trong THADS
Giải quyết khiếu nại lần hai chỉ thuộc thẩm quyền của Cục trưởng Cục
THADS, Tổng cục trưởng Tổng cục THADS và Bộ Tư pháp.
Một là: Thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Cục trưởng Cục THADS.
Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 142 Luật THADS được sữa đổi, bổ
sung năm 2014 thì Cục trưởng Cục THADS có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối
với quyết định giải quyết khiếu nại của Chi cục trưởng Chi cục THADS. Như vậy,
khi tiếp nhận đơn khiếu nại cần phải kiểm tra xem vụ việc đã được Chi cục trưởng
Chi cục THADS ra quyết định giải quyết khiếu nại hay chưa.
Hai là: Thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Tổng cục trưởng Tổng cục
THADS.
Theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 142 Luật THADS được sữa đổi, bổ
sung năm 2014 thì Tổng cục trưởng Tổng cục THADS có thẩm quyền giải quyết
18
khiếu nại đối với quyết định giải quyết khiếu nại của Cục trưởng Cục THADS. Như
vậy, khi tiếp nhận đơn khiếu nại cần kiểm tra xem có phải vụ việc đã được Cục
trưởng Cục THADS ra quyết định giải quyết khiếu nại hay không. Trong thực tế, có
nhiều trường hợp sau khi có quyết định giải quyết khiếu nại của Chi cục trưởng Chi
cục THADS, người khiếu nại đã gửi đơn khiếu nại lần hai lên Tổng cục THADS mà
không gửi đơn đến Cục THADS. Trong trường hợp này, Tổng cục THADS không
thể thụ lý đơn khiếu nại mà sẻ chuyển đơn khiếu nại và hướng dẫn đương sự khiếu
nại đến đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết là Cục THADS.
Ba là: Thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ Tư pháp
Theo quy định tại điểm a, b khoản 4 Điều 142 Luật THADS được sữa đổi, bổ
sung năm 2014 thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối
với: “Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Tổng cục trưởng Tổng cục