Tổ chức và hoạt động Thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Bình Định - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC - XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ XÃ HỘI

VÕ CÔNG HOÀNG

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC - XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ XÃ HỘI

VÕ CÔNG HOÀNG

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH ĐỊNH

Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số
:
60.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

2.2. Thực trạng tổ chức thi hành án dân sự tại tỉnh Bình Định .................................34
2.3. Thực trạng hoạt động thi hành án dân sự tại tỉnh Bình Định .............................36
2.4. Những kết quả đạt được trong tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự tại
tỉnh Bình Định và nguyên nhân ................................................................................40
2.5. Những hạn chế trong tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự tại tỉnh Bình
Định và nguyên nhân ................................................................................................44
CHƢƠNG 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC VÀ
HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ..............................................................53
3.1. Quan điểm hoàn thiện về tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự...................53
3.2. Giải pháp hoàn thiện về tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự .....................59
KẾT LUẬN ..............................................................................................................74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Tên viết tắt

Tên đầy đủ

CHV

Chấp hành viên

CNH

Công nghiệp hóa

CNTT


THADS

Thi hành án dân sự

THAHC

Thi hành án hành chính

TPL

Thừa phát lại

TTHC

Tố tụng hành chính

UBND

Ủy ban nhân dân

VKSND

Viện Kiểm sát nhân dân

XHCN

Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG

về dân sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật
nhưng được thi hành ngay; quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý
vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành và phán quyết,
quyết định của Trọng tài thương mại (gọi chung là phán quyết của Tòa án) thi hành
trên thực tế. Thông qua thi hành án dân sự, những phán quyết của Tòa án về mặt
dân sự sẽ được thi hành, nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp
pháp của các tổ chức và mọi công dân, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội, góp phần giữ vững kỷ cương, phép nước, tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa. Đây là một nguyên tắc Hiến định, được qui định xuyên suốt trong các Hiến
pháp của Việt Nam. Tại Điều 106 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Bản án, quyết
định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá
nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”
[53, tr.17].
Sau hơn hai mươi bốn năm, kể từ khi nhiệm vụ quản lý và tổ chức thi hành án
dân sự được chuyển từ Tòa án nhân dân sang Chính phủ (tháng 7 năm 1993), cơ
quan Thi hành án dân sự đã được hình thành và thực thi nhiệm vụ được giao, đáp
ứng các yêu cầu của nhà nước và xã hội trong từng giai đoạn cụ thể. Kể từ khi được
thành lập đến nay, công tác thi hành án dân sự đã đạt được những kết quả đáng ghi
nhận; hiệu lực pháp luật của bản án, quyết định của Toà án được bảo đảm thực hiện,
tạo được lòng tin đối với nhân dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội,
góp phần cho sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Đáng chú ý, công tác tổ chức,
cán bộ của cơ quan THADS đã được Đảng và nhà nước quan tâm kiện toàn cả về số
lượng, lẫn chất lượng; nhiều vụ việc phức tạp, tồn đọng kéo dài nhiều năm không
giải quyết được đã được tổ chức thi hành dứt điểm. Một số án đặc biệt lớn, tính chất
hết sức phức tạp, có ảnh hưởng lớn về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cũng
1


đã được Đảng và nhà nước quan tâm chỉ đạo giải quyết dứt điểm. Kết quả đạt được
nói trên, phản ánh sự cố gắng, nỗ lực của toàn thể đội ngũ cán bộ, công chức làm

THADS, quản lý THADS được thực hiện và công bố rộng rãi trong toàn quốc, cụ
thể là:
- Đề tài cấp bộ: "Những cơ sở lý luận và thực tiễn về chế định Thừa phát lại",
mã số 95-98-114/ĐT do Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp phối hợp
với Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh chủ trì;
- Đề tài cấp bộ: "Mô hình quản lý thống nhất công tác thi hành án", mã số:
96-98-027/ĐT do Cục Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp (nay gọi là Tổng Cục thi
hành án dân sự) chủ trì năm 1996;
- Đề tài cấp nhà nước: “Luận cứ khoa học của việc đổi mới tổ chức và hoạt

động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới” do Bộ Tư pháp chủ trì, năm
2000;
- Đề tài cấp bộ: “Thi hành án dân sự, thực trạng và hướng hoàn thiện” của

Dự án VIE/98/001” do Bộ Tư pháp chủ trì năm 1998;
- Luận văn thạc sỹ luật học “Quản lý nhà nước trong lĩnh vực THADS” của

tác giả Hoàng Kim Chiến;
- Luận văn thạc sỹ Luật học: "Xã hội hóa một số nội dung thi hành án dân

sự", tác giả Lê Xuân Hồng, năm 2002;
- Luận văn thạc sỹ Luật học: "Thi hành quyết định trọng tài tại Việt Nam" của

tác giả Trần Anh Tuấn, năm 2002;
- Luận văn thạc sỹ Luật học: “Quản lỷ nhà nước về THADS từ thực tiễn thành

phố Nẵng” của tác giả Mai Đăng Hòa;
- Luận văn thạc sỹ Luật học: “Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự” của

tác giả Nguyễn Thanh Thủy, năm 2001;


hội chủ nghĩa ” của TS. Nguyễn Văn Nghĩa;
Ngoài các công trình nghiên cứu nói trên, còn có Giáo trình Luật Tố tụng dân
sự, Luật Hành chính của Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật TP.
Hồ Chí Minh, các công trình nghiên cứu, các bài viết được công bố trên sách, báo,
tạp chí; một số bài viết liên quan đến thi hành án dân sự được đăng trên Tạp chí Dân
chủ và pháp luật, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Tạp chí Luật học.... Các công
trình nghiên cứu nêu trên có nội dung nghiên cứu về THADS ở những góc độ, khía
cạnh khác nhau, chưa có công trình nghiên cứu toàn diện về thực trạng và giải pháp
để hoàn thiện, nâng cao tổ chức và hoạt động THADS nói chung và đặc thù của tỉnh
Bình Định nói riêng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự,
luận văn nêu ra những giải pháp mang tính hệ thống về tổ chức và hoạt động thi
hành án dân sự từ thực tiễn của tỉnh Bình Định một cách khách quan, chính xác,
góp phần hoàn thiện, nâng cao hiệu quả công tác THADS trên địa bàn tỉnh Bình
4


Định nói riêng và công tác THADS nói chung.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, tác giả luận văn đã đặt ra để giải quyết các
nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động của THADS;

những quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của THADS;
- Đánh giá thực trạng, tình hình tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự từ
thực tiễn tỉnh Bình Định, những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân
trong tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự;

mình vào sự phát triển của kho tàng lý luận về khoa học thi hành án dân sự và tổng
kết nghiên cứu thực tiễn về tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự. Ngoài ra, đề tài
còn góp phần hệ thống hóa các vấn đề về lý luận về tổ chức và hoạt động thi hành
án dân sự.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy,
nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực THADS. Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp
phần nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động của cơ quan THADS nói chung và của
THADS tỉnh Bình Định nói riêng; góp một phần vào công cuộc cải cách hành
chính, cải cách nền Tư pháp ở nước ta.
7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung
của Luận văn gồm có 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về tổ chức và hoạt động thi hành
án dân sự
Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự tỉnh Bình
Định
Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động thi hành
án dân sự

6


CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC VÀ
HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò tổ chức và hoạt động thi hành án dân
sự
1.1.1. Khái niệm về tổ chức và hoạt động của thi hành án dân sự

thể xây dựng hành lang pháp lý để thực hiện xã hội hóa hoạt động này. Đây là điểm
khác so với hoạt động tố tụng, hoạt động tố tụng mang tính quyền lực tư pháp,
không thể xã hội hóa [67, tr.10-11].
Cùng quan điểm trên, TS. Đinh Trung Tụng cho rằng: Thi hành án không
mang tính tố tụng thuần túy mà có nhiều tính chất của giai đoạn mang tính hành
chính-tư pháp. Ở đây có nhiều điểm khác nhau giữa tố tụng và quá trình thực hiện
thi hành án. Hoạt động thi hành án là hoạt động đặc thù mà chủ thể thực thi không
phải là Tòa án. Các thủ tục trong quá trình thi hành án mang nặng tính hành chính tư pháp hơn (đặc biệt là trong thi hành án kinh tế, tuyên bố phá sản doanh nghiệp,
lao động và một phần của thi hành án hình sự đối với loại hình phạt không phải là
hình phạt tù…) [67, tr.12].
Các quan điểm trên đều có hạt nhân hợp lý và đều dựa trên những luận cứ
khoa học nhất định, nhưng về vấn đề này, tôi đồng tình với quan điểm thứ hai, tức
là thi hành án dân sự là hoạt động mang tính hành chính- tư pháp.
Từ sự phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm về thi hành án và thi hành án
dân sự như sau:
Thi hành án là hoạt động hành chính - tư pháp do cơ quan, tổ chức, người
có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật qui định để đưa bản án,
quyết định của Tòa án hoặc các quyết định khác theo qui định của pháp luật, được
thực hiện trên thực tế, nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp
của các công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Khái niệm về thi hành án dân sự: Thi hành án dân sự là hoạt động hành
chính - tư pháp do cơ quan Thi hành án dân sự tiến hành theo trình tự, thủ tục do
pháp luật qui định nhằm đưa bản án, quyết định về dân sự của Tòa án hoặc các
8


quyết định khác theo qui định của pháp luật được thực hiện trên thực tế, bảo đảm
lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của các công dân, tổ chức, bảo vệ
trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.
1.1.1.2. Khái niệm về tổ chức thi hành án dân sự

đa dạng trên phương diện ngôn ngữ còn thể hiện ở việc thuật ngữ tổ chức được
dùng với các chức năng khác nhau như: là danh từ, là động từ, là tính từ.
Vậy, từ khái niệm THADS và khái niệm “tổ chức”, chúng ta có thể hiểu khái
niệm về tổ chức THADS như sau: Tổ chức THADS là cơ quan thuộc bộ máy nhà
nước, được quản lý theo hệ thống dọc, thống nhất từ trung ương đến địa phương;
có các công chức như: Chấp hành viên, thẩm tra viên, thư ký và các công chức
khác, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
được thực hiện theo qui định của pháp luật về THADS (các cơ quan THADS thuộc
cơ quan hành chính - tư pháp).
1.1.1.3. Khái niệm hoạt động thi hành án dân sự
Quan điêm thứ nhất cho rằng, hoạt động THADS là một hoạt động tư pháp.
Theo quan điểm này thì hoạt động THADS là giai đoạn nằm trong quá trình giải
quyết vụ án và nó được ghi nhận trong Bộ luật Tố tụng dân sự, là giai đoạn thực thi
các phán quyết của Tòa án trên thực tế. Tuy nhiên, quan điểm này không lý giải
được một vấn đề thực tiễn pháp lý đang thừa nhận đó là cơ quan THADS không
phải là cơ quan tiến hành tố tụng.
Quan đỉêm thứ hai cho rằng, hoạt động THADS là hoạt động mang tính hành
chính vì bản chất, mục đích của THADS khác hoàn toàn với tố tụng dân sự. Bỡi lẽ,
bản chất và mục đích của tố tụng dân sự là xác định sự thật khách quan của các vụ
án dân sự, việc dân sự để đưa ra các phán quyết đúng theo luật định. Đối với hoạt
động THADS là tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án hoặc các quyết
định khác do pháp luật quy định. Trên cơ sở bản án, quyết định, cơ quan THADS
ban hành một quyết định hành chính mang tính cá biệt để tổ chức thực hiện bản án
trên thực tế, yêu cầu các tổ chức, cá nhân, các đối tượng có nghĩa vụ và các chủ thể
khác có liên quan thực hiện. Hơn nữa, hoạt động THADS là hoạt động hành chính
vì bản chất của nó thể hiện rõ nét tính chấp hành và điều hành và toàn bộ hoạt động
THADS nhằm thực hiện những nội dung được ghi trong bản án, quyết định của Tòa
10



trên thực tế để thi hành những phán quyết về dân sự của Tòa án, nhằm bảo đảm lợi
12


ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của các công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự
pháp luật của Nhà nước.
Thứ tư, THADS là giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử; bản án, quyết định
của Toà án có hiệu lực pháp luật là cơ sở để tiến hành các hoạt động thi hành án dân
sự. Nếu không có hoạt động xét xử thì không có hoạt động thi hành án. Do đó,
THADS có mối quan hệ mật thiết, đan xen với các giai đoạn tố tụng trước đó nhưng
lại có tính độc lập tương đối, thể hiện ở chỗ hoạt động này được bắt đầu bằng quyết
định của Thủ trưởng cơ quan THADS mang tính bắt buộc chấp hành đối với các
chủ thể có trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan đến việc THADS.
Thứ năm, trong quá trình thi hành án, bằng các qui định của pháp luật, cơ
quan thi hành án tác động tới đối tượng phải thi hành án nhiều biện pháp để họ tự
nguyện thi hành hoặc áp dụng các biện pháp khác buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ
đã được xác định trong bản án, quyết định của Toà án. Qua đó, giáo dục họ và
những người liên quan về ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng lợi ích của tập thể và
cá nhân, tôn trọng kỷ cương của nhà nước. Để thực hiện được điều đó, yêu cầu của
hoạt động thi hành án phải có tính kế hoạch, tổ chức, đôn đốc, kiểm tra... đó là
những tính chất của hoạt động quản lý.
Thứ sáu, trong thi hành án dân sự, việc thi hành phần dân sự trong bản án,
quyết định của Toà án chỉ phát sinh khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi
hành án. Điều đó có nghĩa là, sau khi tranh chấp đã được Toà án xét xử, các bên
vẫn có quyền tiếp tục tự thoả thuận với nhau về hình thức, thời gian thực hiện
quyền và nghĩa vụ trong suốt quá trình thi hành án. Cơ quan THADS có trách
nhiệm theo dõi, giám sát và ghi nhận việc tự thoả thuận thi hành của các bên đương
sự. Đây là một đặc điểm của thi hành án dân sự, xuất phát từ nguyên tắc tự nguyện,
tự thỏa thuận của các bên trong giao lưu dân sự được qui định trong Bộ luật dân sự.
Từ chính đặc điểm này, làm cơ sở để nhà nước thực hiện chủ trương xã hội hoá một

lực các bản án, quyết định của Tòa án được đảm bảo. THADS còn là giai đoạn kiểm
nghiệm qua thực tiễn những phán quyết của Tòa án đối với tính đúng dắn, khách
quan, trung thực, chất lượng và hiệu quả của hoạt động xét xử. Thực tế cho thấy,
nhiều vụ việc khi cơ quan Thi hành án tổ chức thi hành, đương sự không những
14


không tự nguyện thi hành mà còn khiếu nại, tố cáo vượt cấp, kéo dài do không đồng
tình với bản án, quyết định của tòa án. Việc này cho thấy, chất lượng xét xử của Tòa
án có vấn đề, do chưa đảm bảo tính khách quan, công bằng trong quá trình xét xử
[44, tr.16].
Thứ ba, THADS góp phần nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân. THADS
thường có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan THA, các cơ quan có liên quan và
chính quyền địa phương để động viên, thuyết phục tự nguyện thi hành án. Thông
qua sự phối hợp này, tuyên truyền, động viên, giáo dục ý thức của người phải thi
hành án và nhân dân chấp hành các qui định của pháp luật. Thực tế thi hành án,
nhiều trường hợp không chỉ là hoạt động của cơ quan THADS, mà còn phải thuyền
xuyên phối hợp với cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, đoàn thể xã hội và mọi
thành viên trong cộng đồng động viên, thuyết phục tự nguyện thi hành án.
Thứ tư, THADS là việc đưa ra thi hành trên thực tế các bản án, quyết định có
hiệu lực pháp luật của Tòa án và cơ quan có thâm quyền, do đó, THADS là một
hoạt động không thể thiếu được trong quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của đương sự. Ngoài ra, cơ quan THADS còn tổ chức THADS trên cơ sở yêu cầu
của người phải THA, người được THA, đó là việc tôn trọng và đảm bảo cho các bên
đương sự thực hiện quyền thỏa thuận và tự nguyện THA [44, tr.17].
1.2. Tổ chức và hoạt động của Thi hành án dân sự trƣớc khi có Luật thi
hành án dân sự
1.2.1. Tổ chức của Thi hành án dân sự trước khi có Luật thi hành án dân sự
Cùng với sự ra đời và phát triển của Nhà nước Việt Nam qua từng thời kỳ, tổ
chức THADS cũng có thay đổi nhất định cho phù hợp với sự phát triển chung của

các thừa phát lại theo yêu cầu của đương sự thi hành bản án này, các ông chưởng lý
và biện lý kiểm sát việc thi hành án, cai thị chỉ huy binh lực giúp đỡ mỗi khi đương
sự chiếu luật yêu cầu”. Cuối năm 1950 theo sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về
“Cải cách Tư pháp và tố tụng”, công tác THADS được giao cho Tòa án cấp huyện
đảm nhận.
Sau khi Hiến pháp năm 1959 ra đời, Luật tổ chức TAND năm 1960 do Quốc
hội khóa I thông qua ngày 24/10/1960 đã xác định rõ nhiệm vụ của nhân viên chấp
hành án trong Tòa án, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức và hoạt động
16


của THADS. Ngày 13/10/1972, Chánh án TAND tối cao đã ra Quyết định số
186/TC và Thông tư số 187/TC của TAND tối cao về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn
của CHV (thay thế nhân viên chấp hành án), tên gọi “CHV” ra đời từ đó và tồn tại
cho đến nay. Chánh án TAND địa phương có trách nhiệm quản lý, chỉ đạo CHV của
Tòa án mình và có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra, hướng dẫn công tác THA của
Tòa án cấp dưới; chỉ đạo công tác thống kê, sơ tổng kết, giải quyết khiếu nại về
THA và xây dựng bồi dưỡng đội ngũ CHV.
Ngày 28/8/1989, Pháp lệnh THA đầu tiên được ban hành có hiệu lực từ ngày
01/01/1990 nhằm tăng cường, hoàn thiện tổ chức và hoạt động THADS. Từ chỗ
Thẩm phán vừa làm nhiệm vụ xét xử, vừa tổ chức thực hiện nhiệm vụ THADS, nay
đội ngũ cán bộ THADS đã được chuyên môn hóa, tiêu chuẩn hóa và chịu trách
nhiệm trước Nhà nước về thực hiện các phán quyết của Tòa án. Tuy nhiên về cơ chế
quản lý, THADS vẫn do Tòa án trực tiếp quản lý và chỉ đạo nghiệp vụ. Mặt khác,
nhiệm vụ trọng tâm của Tòa án là xét xử, nên trong một thời gian dài hoạt động
THADS chưa được quan tâm đầy đủ, số cán bộ có năng lực thường bố trí làm Thẩm
phán. Cán bộ làm công tác THADS thường bị xáo trộn, thay đổi, không được quy
hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, vừa thiếu về số lượng vừa yếu về trình độ, chất lượng.
Sau một thời gian thực hiện pháp lệnh, công tác THADS có những bước phát triển
hơn, tuy nhiên do Tòa án vừa là cơ quan xét xử, vừa là cơ quan làm nhiệm vụ

của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Hệ thống cơ quan THADS được đổi tên, ở Trung ương
vẫn gọi là Cục Thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp, ở cấp tỉnh từ Phòng THA đổi
tên thành: THADS tỉnh, ở cấp huyện: Đội THADS đổi tên thành: THADS huyện.
Trong Quân đội, Cục THA thuộc Bộ Quốc phòng được thành lập thay thế Phòng
quản lý THADS, Phòng THA cấp Quân khu đổi tên thành: THADS Quân khu.
Về công tác tổ chức cán bộ: từ tháng 7/1993, các Toà án địa phương chính thức
bàn giao công tác thi hành án sang các cơ quan thuộc Chính phủ với số lượng 1.126
người, trong đó có 700 Chấp hành viên. Phần lớn số cán bộ ở thời điểm bàn giao chưa
bảo đảm đủ tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định. Đến hết năm
2002, các cơ quan THADS trong toàn quốc có 4.357 công chức trên tổng số 5.183 biên
chế được phân bổ (trong đó có: 1.920 Chấp hành viên với 306 Chấp hành viên cấp tỉnh,
1.614 Chấp viên cấp huyện và 2.437 công chức làm nghiệp vụ). Trong số 4.357 công
18


chức thì có 2.929 người có trình độ đại học; 582 người có trình độ cao đẳng; 102 người
có trình độ cử nhân chính trị; 410 người có trình độ trung cấp chính trị...
Từ 2004 - 2008 là giai đoạn vừa nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, chấp
hành viên vừa tiếp tục hoàn thiện cơ cấu ngạch công chức các cơ quan THADS.
Nhờ thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ nên đến năm 2008, cả nước có 8.308 biên
chế, trong đó có 2.801 Chấp hành viên (gồm 387 Chấp hành viên cấp tỉnh và 2.414
Chấp hành viên cấp huyện); 64 cơ quan THADS cấp tỉnh và 676 cơ quan THADS
cấp huyện.
1.2.2. Hoạt động thi hành án dân sự trước khi có Luật thi hành án dân sự
Trong giai đoạn trước năm 1993, hoạt động THADS sự vẫn còn là một quy
trình khép kín trong Tòa án và phụ thuộc vào sự chỉ đạo của Chánh án Tòa án nhân
dân địa phương. Trong nhiều năm, do trọng tâm của Tòa án là xét xử nên trong một
thời gian dài hoạt động thi hành án chưa được quan tâm đầy đủ. Từ năm 1993, công
tác THADS được chuyển giao hoàn toàn từ Tòa án nhân dân các cấp sang các cơ
quan thuộc Chính phủ thông qua việc Quốc hội Khóa IX ban hành Nghị quyết về việc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status