hợp đồng mua bán tài sản theo pháp luật dân sự việt nam qua thực tiễn tại tỉnh thừa thiên huế - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRẦN THẾ HỆ HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN
THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
(QUA THỰC TIỄN TẠI TỈNH THỪA THIÊN - HUẾ)Chuyên ngành: Luật Dân sự
Mã số: 60 38 30 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS. TSKH ĐÀO TRÍ ÚC HÀ NỘI - 2012LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn

1.2. Những quy định về hợp đồng mua bán tài sản theo pháp luật dân
sự Việt Nam 16
1.2.1. Nguyên tắc giao kết hợp đồng mua bán tài sản 16
1.2.2. Chủ thể của hợp đồng mua bán tài sản 18
1.2.3. Mục đích và nội dung của hợp đồng mua bán tài sản 21
1.2.4. Hình thức và hiệu lực của hợp đồng mua bán tài sản 26
1.2.5. Quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể trong việc thực hiện hợp
đồng mua bán tài sản 37
1.2.6. Trình tự, thủ tục giao kết hợp đồng mua bán tài sản 39
1.2.7. Hợp đồng mua bán tài sản vô hiệu 44
1.2.8. Tranh chấp và giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản 46
Chƣơng 2: THỰC TIỄN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN TẠI
TỈNH THỪA THIÊN - HUẾ TỪ NĂM 2007 ĐẾN NĂM 2011 48
2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Thừa Thiên - Huế ảnh
hƣởng đến hoạt động mua bán tài sản 48
2.2. Thực trạng áp dụng pháp luật về hợp đồng mua bán tài sản tại tỉnh
Thừa Thiên - Huế 50
2.2.1. Nguyên tắc và chủ thể của hợp đồng mua bán tài sản 50
2.2.2. Hình thức, nội dung và hiệu lực của hợp đồng mua bán tài sản 56
2.2.3. Hợp đồng mua bán tài sản vô hiệu 65
2.3. Thực tiễn tranh chấp về hợp đồng mua bán tài sản tại các tòa án
của tỉnh Thừa Thiên - Huế 66
2.3.1. Tình hình tranh chấp về hợp đồng mua bán tài sản tại các tòa án
của tỉnh Thừa Thiên - Huế 66
2.3.2. Nguyên nhân tranh chấp về hợp đồng mua bán tài sản 67
2.3.3. Các dạng tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản tại Thừa Thiên - Huế 70
Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VỀ HỢP
ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN 77
3.1. Phƣơng hƣớng hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp đồng
mua bán tài sản 77

biết đến là loại HĐ thông dụng nhất, phổ biến nhất và có số lƣợng giao dịch
nhiều nhất khi các chủ thể tham gia vào lĩnh vực này. HĐMBTS nhằm đáp
ứng các điều kiện về vật chất, tinh thần cho các chủ thể, thúc đẩy sản xuất,
kinh doanh phát triển.
Bên cạnh đó, HĐMBTS từ những quy định của pháp luật đến thực tiễn
có nhiều vấn đề bất cập nảy sinh. Về phía những quy định của pháp luật dân
sự về HĐMBTS và những văn bản pháp luật khác liên quan đến HĐMBTS
còn nhiều điều bất cập, chƣa đồng bộ, nhiều quy định khó đƣợc áp dụng hoặc
chƣa phát huy tính hiệu lực của nó trong thực tiễn. Bên cạnh đó, có nhiều
quan hệ về HĐMBTS lại chƣa có pháp luật điều chỉnh dẫn tới khi có tranh
chấp xảy ra rất khó giải quyết. Về phía các chủ thể thiếu hiểu biết và nhận
thức không đúng đắn khi tham gia vào một số HĐMBTS chƣa tuân thủ các
quy định của pháp luật dẫn đến nhiều vi phạm, tranh chấp trong quá trình giao
kết và thực hiện HĐ. Việc phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động giải
quyết tranh chấp về HĐMBTS hiện nay là điều rất quan trọng để nhìn nhận rõ
hơn về tính hiệu quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hiện hành,
đồng thời qua tình hình thực hiện HĐMBTS, từ đó đƣa ra các giải pháp cụ thể
nhằm hoàn thiện khung pháp lý cho HĐMBTS theo quy định của pháp luật
2
Việt Nam trên cơ sở thực tiễn là những tranh chấp về HĐMBTS tại tỉnh Thừa
Thiên - Huế. Xuất phát từ vai trò quan trọng của HĐMBTS trong đời sống xã
hội, tác giả chọn đề tài: “Hợp đồng mua bán tài sản theo pháp luật dân sự
Việt Nam qua thực tiễn tại tỉnh Thừa Thiên - Huế” để làm đề tài luận văn thạc
sĩ chuyên ngành Luật dân sự.
2. Tình hình nghiên cứu
Luật Dân sự là một ngành luật có vị trí, vai trò quan trọng trong hệ
thống pháp luật Việt Nam. Vì vậy, từ trƣớc đến nay có rất nhiều công trình
nghiên cứu về Luật Dân sự. Có thể chia các công trình nghiên cứu về Luật
Dân sự thành ba nhóm lớn dƣới đây:
- Nhóm luận văn, luận án, đề tài khoa học: Ở nhóm này có thể liệt kê

chọn đề tài “Hợp đồng mua bán tài sản theo pháp luật dân sự Việt Nam
(qua thực tiễn tại tỉnh Thừa Thiên - Huế)” để làm luận văn là không trùng
lặp với các công trình khoa học đã đƣợc công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Mục đích
Từ việc nghiên cứu quy định của pháp luật về HĐ nói chung và
HĐMBTS theo pháp luật dân sự Việt Nam nói riêng đến thực tiễn tại tỉnh
Thừa Thiên - Huế nhằm đƣa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống
pháp luật dân sự và các hệ thống pháp luật khác trong lĩnh vực HĐMBTS
ở Việt Nam.
Việc nghiên cứu của đề tài là phân tích các quy định của pháp luật Việt
Nam hiện hành về HĐMBTS, trên cơ sở đó tìm hiểu những quy định còn bất
cập của pháp luật hình thức và nội dung.
Nghiên cứu các quan hệ về HĐMBTS ở địa bàn tỉnh Thừa Thiên - Huế,
4
từ đó đƣa ra những vƣớng mắc trong áp dụng pháp luật. Bên cạnh đó, đƣa ra
quan điểm của bản thân về việc hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực HĐMBTS
theo pháp luật dân sự ở nƣớc ta hiện nay.
* Nhiệm vụ
Để thực hiện đƣợc mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật về HĐMBTS theo pháp luật
dân sự Việt Nam hiện hành.
- Phát hiện những hạnh chế, vƣớng mắc, bất cập trong quá trình thực
hiện và áp dụng pháp luật về HĐMBTS.
- Thực trạng những quan hệ về HĐMBTS theo quy định của pháp luật
dân sự tại tỉnh Thừa Thiên - Huế.
- Từ những quy định của pháp luật tới thực tiễn thi hành còn nhiều
vƣớng mắc, bất cập, từ đó có các giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý và
thực tiễn áp dụng.
* Đối tượng

làm sáng tỏ các vấn đề cần trình bày trong luận văn.
5. Những điểm mới của luận văn
So với các công trình nghiên cứu về HĐ trƣớc đây luận văn có những
điểm mới nhƣ sau:
- Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về HĐ nói chung và
HĐMBTS nói riêng theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam, đã chỉ ra
đƣợc những điểm hạn chế, bất cập, chƣa đồng bộ theo quy định hiện hành.
- Luận văn nghiên cứu việc áp dụng quan hệ HĐMBTS và những tranh
6
chấp về HĐMBTS tại tỉnh Thừa Thiên - Huế với đặc thù riêng của địa
phƣơng so với các tỉnh khác trong phạm vi toàn quốc.
- Luận văn đƣa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định HĐMBTS.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Với tƣ cách là một công trình khoa học nghiên cứu toàn bộ nội dung
của chế định HĐMBTS theo quy định của pháp luật dân sự. Kết quả nghiên
cứu của đề tài sẽ mang lại đóng góp cả về mặt khoa học và thực tiễn.
* Ý nghĩa khoa học
- Trƣớc hết, luận văn góp phần phân tích những quy định của pháp luật
về HĐMBTS theo pháp luật dân sự nhằm làm rõ các quy định của pháp luật
hiện hành.
- Trên cơ sở các quy định của pháp luật dân sự hiện hành về HĐMBTS
chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quá trình áp dụng vào thực tiễn.
- Chỉ ra các tranh chấp từ HĐMBTS trong quan hệ dân sự tại địa
phƣơng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết, hoàn thiện chế định
HĐ nói chung và trong lĩnh vực mua bán tài sản nói riêng. Những ý kiến này
có thể đƣợc sử dung tham khảo trong quá trình sửa đổi, bổ sung BLDS năm
2005 trong thời gian tới.
- Luận văn là cơ sở tham khảo cho các công trình nghiên cứu khoa học
sau này về HĐMBTS.
* Ý nghĩa thực tiễn

Ngày nay, HĐ là công cụ pháp lý quan trọng và phổ biến để con ngƣời
thực hiện các giao dịch nhằm thỏa mãn hầu hết mọi nhu cầu của mình. Tuy
vậy, trong lịch sử lập pháp của nhân loại, để tìm ra đƣợc một thuật ngữ chính
xác, nhƣ thuật ngữ “hợp đồng” đang đƣợc sử dụng trong pháp luật của hầu
hết các quốc gia ngày nay, là việc không dễ dàng. Nhiều luật gia cho rằng
thuật ngữ “hợp đồng” (contractus) đƣợc hình thành từ động từ “contrahere”
trong tiếng La-tinh, có nghĩa là “ràng buộc” và xuất hiện lần đầu tiên ở La
Mã vào khoảng thế kỷ V - IV TCN [31]. Ban đầu, ngƣời La Mã cũng không
có khái niệm chung “contractus” mà sử dụng các thuật ngữ riêng biệt để chỉ
các HĐ cụ thể phổ biến nhƣ mua bán (sponsio), vay mƣợn (mutuum), gửi giữ
(depositum), ủy thác (mandatum). Mãi đến thời của luật gia La-be-ôn (thế kỷ I
sau CN), ngƣời La Mã mới chính thức sử dụng thuật ngữ “contractus” trong
luật, và quan hệ HĐ đƣợc pháp luật công nhận và bảo vệ dƣới thời Justinnian
9
[22]. Sau này, pháp luật các nƣớc phƣơng tây đã kế thừa và phát triển quan
niệm pháp lý từ thời La Mã và đã sử dụng chính thức thuật ngữ “hợp đồng”
mà trong tiếng Anh đƣợc viết là “contract”, và trong tiếng Pháp là “contrat”.
Ở Việt Nam, trong thực tế đời sống, có nhiều thuật ngữ khác nhau đƣợc
sử dụng để chỉ về HĐ: khế ước, giao kèo, văn tự, văn khế, cam kết, tờ giao
ước, tờ ưng thuận… Trong cổ luật, dựa vào các cứ liệu lịch sử còn lại cho đến
ngày nay, thuật ngữ “văn tự” hay “văn khế”, hay mua, bán, cho, cầm đã
đƣợc sử dụng khá sớm, trong Bộ Quốc triều hình luật [65]. Sau này, thuật ngữ
“khế ước” mới đƣợc sử dụng chính thức trong Sắc lệnh ngày 21/7/1925
(đƣợc sửa đổi bởi Sắc lệnh ngày 23/11/1926 và Sắc lệnh ngày 06/9/1927) ở
Nam phần thuộc Pháp, trong Bộ Dân luật Bắc kỳ 1931 và trong Bộ Dân luật
Trung kỳ 1936 - 1939. Thuật ngữ “khế ước” cũng đƣợc sử dụng ở Điều 13
trong Sắc lệnh 97/SL của nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đƣợc Hồ Chủ
tịch ký ban hành ngày 22/5/1950. Thuật ngữ “khế ước” cũng đƣợc sử dụng ở
Điều 653 trong Bộ Dân luật 1972 của chế độ Việt Nam Cộng hòa ở miền
Nam trƣớc 30/4/1975. Ngoài ra, trong Dân luật Bắc kỳ 1931, Dân luật Trung

hiện HĐ dân sự phải tuân theo nguyên tắc giao kết HĐ, đƣợc quy định tại Điều
389 BLDS năm 2005. HĐ dân sự chấm dứt trong các trƣờng hợp đƣợc quy
định tại Điều 424 BLDS năm 2005. Quy định trên của pháp luật Việt Nam có
sự thừa kế của Pháp luật La Mã. Theo pháp luật La Mã HĐ đƣợc coi là căn cứ
phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ dân sự. Bởi vì, thứ nhất, nó có sự
thoả thuận giữa các chủ thể. Thứ hai, xuất phát từ đặc thù của HĐ, sự thoả
thuận đó xuất phát từ mục đích nhất định mà các bên muốn đạt đƣợc. HĐ là
phƣơng tiện đạt đƣợc mục đích, mục đích là cơ sở vật chất của HĐ, mục đích
có thể là mong muốn tặng cho, tiếp nhận một nghĩa vụ hoặc bảo đảm thực hiện
một nghĩa vụ, hay nói cách khác là mong muốn đạt đƣợc mục đích pháp lý nào
11
đó. Không có sự mong muốn đạt đƣợc một mục đích nào đó thì không thể có
một ý chí đích thực để xác định HĐ. Mặt khác HĐ sẽ không có hiệu lực nếu
mục đích của HĐ đó bị pháp luật cấm hoặc trái với đạo đức xã hội.
Cũng xuất phát từ những mục đích pháp lý khác nhau của HĐ dân sự
mà ngƣời ta có thể phân loại các HĐ dân sự thông dụng khác nhau nhƣ
HĐMBTS, HĐ thuê tài sản, HĐ vay tài sản… Trong đó, BLDS năm 2005 xây
dựng HĐMBTS nhƣ là một HĐ phổ biến nhất và quan trọng nhất của giao lƣu
dân sự, không chỉ áp dụng cho HĐ dân sự đơn thuần mà còn có thể áp dụng
cả với các loại HĐ về mua bán tài sản trong hoạt động sản xuất, kinh doanh,
thƣơng mại.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm pháp lý của hợp đồng mua bán tài sản
1.1.2.1. Khái niệm về hợp đồng mua bán tài sản
Trong lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội có hai hình thức sản
xuất là sản xuất tự cung tự cấp và sản xuất hàng hoá. sản xuất tự cung tự cấp
là hình thức sản xuất mà sản phẩm lao động chỉ dùng để thoả mãn nhu cầu
của ngƣời sản xuất trong nội bộ kinh tế. Đối lập với hình thức sản xuất này là
sản xuất hàng hoá, sản xuất hàng hoá là sản phẩm của xã hội, trong đó mối
quan hệ sản xuất giữa ngƣời sản xuất biểu hiện ra thị trƣờng, thông qua việc
mua bán, trao đổi sản phẩm và dịch vụ. Hàng hoá có thể thoả mãn nhu cầu

nhau nhƣ những ngƣời mà ý chí nằm trong các vật đó” [38]. Chỉ khi ý chí của
các bên không bị lừa dối hay cƣỡng ép mà hoàn toàn tự nguyện đƣợc thể hiện
thống nhất thì quan hệ HĐ mới đƣợc hình thành. Song HĐ đó có hiệu lực hay
không còn phụ thuộc vào nội dung thoả thuận của các bên có hợp pháp hay
không. Trong HĐMBTS các bên thoả thuận nhằm làm chấm dứt quyền sở
hữu của ngƣời bán đối với tài sản đó, và xác lập quyền sở hữu tài sản đối với
13
ngƣời mua. Việc chuyển quyền sở hữu tài sản này phải hợp pháp, không vi
phạm điều cấm của pháp luật thì HĐMBTS mới có hiệu lực.
Thứ hai, HĐMBTS là một dạng HĐ cụ thể của HĐ dân sự. Nên có thể
thấy HĐMBTS có hai đặc tính gắn liền với nhau. Đặc tính thứ nhất, đối tƣợng
chủ yếu của HĐMBTS là quyền sở hữu đối với tài sản chứ không phải là
chiếm hữu tài sản. Theo ngôn ngữ thông thƣờng quyền sở hữu một vật đƣợc
đồng hoá với vật đó, nên khi nói mua bán một vật thực chất là mua bán quyền
sở hữu vật đó. Điều này lý giải tại sao thông thƣờng ngƣời bán phải là chủ sở
hữu của tài sản. Và tại Điều 163 BLDS năm 2005 đã quy định: “Tài sản bao
gồm: Vật, tiền, giấy tờ có giá trị và các quyền tài sản” [44].
Nhƣ vậy, trong HĐMBTS đối tƣợng chủ yếu của nó là quyền sở hữu tài
sản. Theo quy định tại Điều 164 của BLDS năm 2005 thì: “Quyền sở hữu bao
gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở
hữu theo quy định của pháp luật” [44].
Để thỏa mãn là chủ sở hữu thì cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác phải có
đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản. Bên
cạnh quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu thì đối tƣợng của HĐMBTS còn
xác lập các quyền nhƣ quyền sở hữu đòi nợ, quyền sở hữu công nghiệp,
quyền tác giả.
Đặc tính thứ hai, trong HĐMBTS luôn có sự chuyển giao một số tiền từ
ngƣời mua sang ngƣời bán đó là chỉ số giá cả. Nếu chỉ có đặc tính thứ nhất
tức là có sự chuyển giao quyền sở hữu mà không gắn liền với việc chuyển
giao một số tiền thì HĐ đó không phải là HĐMBTS mà chuyển thành HĐ

đền bù này là yếu tố phân biệt giữa HĐMBTS với HĐ tặng cho tài sản không
có tính đền bù.
HĐMBTS có mục đích là chuyển quyền sở hữu tài sản từ bên bán sang
15
bên mua. Hay nói cách khác HĐMBTS là một căn cứ pháp lý làm kế tục
quyền sở hữu tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác. Do đó, chủ thể kế tục
quyền sở hữu tài sản phải tôn trọng các quyền đối với vật trên tài sản mà chủ
sở hữu trƣớc đã cho ngƣời thứ ba đƣợc hƣởng. Tức là cùng với việc chuyển
quyền sở hữu thì các nghĩa vụ gắn liền với các tài sản của chủ sở hữu trƣớc
cũng đƣợc chuyển giao cho ngƣời mua. Ví dụ, tại Khoản 3 Điều 453 BLDS
năm 2005 quy định về nghĩa vụ của ngƣời mua nhà ở nhƣ sau: “Trong trƣờng
hợp mua nhà đang cho thuê, thì phải đảm bảo quyền, lợi ích của ngƣời thuê
nhƣ đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê khi thời hạn thuê còn hiệu lực” [44].
1.1.3. Ý nghĩa của hợp đồng mua bán tài sản
Nguyên tắc tự do giao kết HĐ đƣợc quy định tại Điều 389 BLDS năm
2005 là nguyên tắc chung cho mọi HĐ, trong đó có HĐMBTS. Vì vậy, ý
nghĩa pháp lý quan trọng trƣớc hết của HĐMBTS là phƣơng tiện pháp lý để
các chủ thể thực hiện quyền tự do trong giao lƣu dân sự để thoả mãn nhu cầu
của mình. Khi tham gia HĐMBTS, các chủ thể hƣớng tới những mục đích
khác nhau. Cho dù nhằm mục đích gì thì cũng phải thông qua HĐ để đạt đƣợc
mục đích đó. Vì vậy, HĐMBTS là phƣơng tiện để đạt đƣợc mục đích, đó
chính là cái đích cuối cùng mà các chủ thể mong muốn đạt đƣợc khi thực hiện
quyền tự do giao kết HĐ.
Bên cạnh đó, trong HĐ dân sự, nguyên tắc cao nhất là nguyên tắc tôn
trọng sự thoả thuận giữa các chủ thể. Chính điều này đã tạo cho các giao dịch
dân sự phát triển, hàng hóa lƣu thông tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất hàng
hóa đáp ứng nhu cầu kinh tế thị trƣờng. Bên cạnh ý nghĩa kinh tế đó còn có ý
nghĩa xã hội to lớn. Đó là việc tạo ra công ăn việc làm cho ngƣời lao động;
đáp ứng nhu cầu vật chất, tinh thần của các chủ thể; tạo điều kiện thuận lợi
cho công dân thực hiện các quyền của mình trong đời sống dân sự. Chế định

chức nào đƣợc lợi dụng ý chí tự do để biến những HĐMBTS thành phƣơng
tiện bóc lột. Bên cạnh việc bảo đảm lợi ích của mình, các chủ thể phải chú
ý tới quyền, lợi ích của ngƣời khác, của toàn xã hội; tự do của mỗi chủ thể
không đƣợc trái pháp luật, đạo đức xã hội. Lợi ích của cộng đồng, của toàn
xã hội đƣợc quy định bởi pháp luật và đạo đức xã hội trở thành giới hạn
cho sự tự do ý chí của các chủ thể khi tham gia giao kết HĐ nói riêng, và
trong mọi hành vi của chủ thể nói chung.
1.2.1.2. Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng
Nguyên tắc này đƣợc quy định nhằm bảo đảm trong việc giao kết HĐ
không ai bị cƣỡng ép hoặc bị những cản trở trái với ý chí của mình, đồng thời
thể hiện bản chất của quan hệ pháp luật dân sự. Quy luật giá trị đòi hỏi các
bên chủ thể khi tham gia các quan hệ trao đổi phải bình đẳng với nhau; không
ai đƣợc viện lý do khác biệt về hoàn cảnh kinh tế, thành phần xã hội, dân tộc,
giới tính hay tôn giáo… để tạo ra sự bất bình đẳng trong quan hệ dân sự. Hơn
nữa, ý chí tự nguyện của các bên chủ thể tham gia HĐMBTS chỉ đƣợc bảo
đảm khi các bên bình đẳng với nhau trên mọi phƣơng diện. Chính vì vậy,
pháp luật không thừa nhận những HĐMBTS đƣợc giao kết thiếu sự bình đẳng
và ý chí tự nguyện của một trong các bên chủ thể. Tuy nhiên, trên thực tế thì
việc đánh giá một HĐMBTS có đƣợc giao kết bảo đảm ý chí tự nguyện của
các bên hay chƣa, trong một số trƣờng hợp lại là một công việc hoàn toàn
không đơn giản và khá phức tạp bởi nhiều nguyên nhân chủ quan và khách
quan khác nhau.
Nhƣ chúng ta đã biết, ý chí tự nguyện là sự thống nhất giữa ý chí chủ
quan bên trong và sự bày tỏ ý chí ra bên ngoài của chủ thể. Chính vì vậy, sự
thống nhất ý chí của chủ thể giao kết HĐMBTS với sự bày tỏ ý chí đó trong
nội dung HĐMBTS mà chủ thể này đã giao kết chính là cơ sở quan trọng để
xác định một HĐMBTS đã đảm bảo nguyên tắc tự nguyện hay chƣa. Hay nói
18
cách khác, việc giao kết HĐMBTS chỉ đƣợc coi là tự nguyện khi hình thức
của HĐMBTS phản ánh một cách khách quan, trung thực mong muốn,

giá khởi điểm cho tài sản đó.
Bên mua là ngƣời có nhu cầu mua tài sản và đã thoả thuận thống
nhất ý chí với bên bán về việc mua tài sản, trừ trƣờng hợp pháp luật có
quy định khác.
Bên bán và bên mua có thể là cá nhân hoặc pháp nhân, ngoài ra hộ gia
đình và tổ hợp tác cũng là những chủ thể đặc biệt, không phải cá nhân cũng
không phải pháp nhân. Đối với hộ gia đình có thể coi là chủ thể hạn chế, vì
theo quy định của BLDS năm 2005 họ chỉ trở thành chủ thể của quan hệ
HĐMBTS trong một số quan hệ nhất định. Điều 106 BLDS năm 2005 quy
định: “Những hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp
công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngƣ nghiệp
hoặc một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ
thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này” [44].
Nếu chủ thể là cá nhân thì bên bán và bên mua phải có đầy đủ năng lực
hành vi dân sự tức là phải từ đủ 18 tuổi trở lên, có khả năng nhận thức và điều
khiển hành vi của mình. Đối với ngƣời từ đủ 15 tuổi trở lên đến chƣa đủ 18
tuổi, nếu có tài sản riêng đủ để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ, thì trong một
số trƣờng hợp có thể tự mình xác lập thực hiện HĐMBTS, còn đối với ngƣời
đủ 6 tuổi đến chƣa đủ 15 tuổi, ngƣời bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, khi
thực hiện giao dịch nhỏ nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày phù hợp
với lứa tuổi thì có thể tự mình xác lập. Đối với ngƣời chƣa đủ 6 tuổi, ngƣời
mất năng lực hành vi dân sự thì mọi giao dịch đều do ngƣời đại diện xác lập,
thực hiện đƣợc quy định rõ tại Điều 22 và Điều 23 BLDS năm 2005.

Trích đoạn Nguyên nhân tranh chấp về hợp đồng mua bán tài sản Các dạng tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản tại Thừa Thiên Huế Quy định về nguyên tắc và chủ thể của hợp đồng mua bán tài sản Hoàn thiện pháp luật Các giải pháp khác
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status