Pháp luật về bình đẳng giới và vấn đề phòng chống bạo lực giữa vợ chồng qua thực tiễn tại thành phố Đà Nẵng - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM THỊ NGỌC LÝ
PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
VÀ VẤN ĐỀ PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIỮA VỢ CHỒNG
QUA THỰC TIỄN TẠI TP ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành: Luật dân sự
Mã số: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN PHƢƠNG LAN

HÀ NỘI - 2012

Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4. Phương pháp nghiên cứu 3
5. Tính mới và những đóng góp của đề tài 4
6. Kết cấu của luận văn 4
Chƣơng 1: BẠO LỰC GIỮA VỢ CHỒNG VÀ VIỆC THỰC HIỆN
BÌNH ĐẲNG GIỚI 6
1.1. Khái niệm chung về bạo lực giữa vợ và chồng 6
1.1.1. Bạo lực giữa vợ và chồng là một dạng BLGĐ 6
1.1.2. Các dạng bạo lực giữa vợ và chồng 8
1.1.3. Đặc điểm hành vi bạo lực giữa vợ và chồng 12
1.1.4. Hậu quả của hành vi bạo lực giữa vợ và chồng 14
1.2. Bạo lực giữa vợ và chồng xâm phạm quyền bình đẳng giới 17
1.2.1. Khái niệm chung về bình đẳng giới 17
1.2.2. Bạo lực giữa vợ và chồng là bạo lực trên cơ sở giới 22
1.2.3. Bạo lực giữa vợ và chồng thể hiện sự phân biệt đối xử về giới 25
1.3. Sự cần thiết của việc phòng, chống, và xử lý hành vi bạo lực giữa
vợ và chồng nhằm thực hiện bình đẳng giới 32Chƣơng 2: HÀNH VI BẠO LỰC GIỮA VỢ CHỒNG VÀ BIỆN
PHÁP XỬ LÝ HÀNH VI BẠO LỰC NHẰM THỰC HIỆN
BÌNH ĐẲNG GIỚI THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 35
2.1. Các hành vi bạo lực giữa vợ và chồng vi phạm pháp luật về bình
đẳng giới trong gia đình 35
2.1.1. Bạo lực về thể chất 35
2.1.2 Bạo lực tình dục 37


BLGĐ
Bạo lực gia đình
BLDS
Bộ luật Dân sự
BLHS
Bộ luật Hình sự
BĐG
Bình đẳng giới
Luật HN&GĐ
Luật Hôn nhân và gia đình
Luật PCBLGĐ
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình
TAND
Toà án nhân dân
UBND
Uỷ ban nhân dân

1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hiện nay, vấn đề BĐG và BLGĐ đang được cộng đồng quốc tế đặc biệt
quan tâm. Bởi vì, thực tế tình trạng bất BĐG và BLGĐ đã và đang diễn ra phổ
biến, là một trong những nguyên nhân hạn chế quá trình phát triển kinh tế, xã
hội. Những nước có chỉ số phát triển giới (GDI) cao thường ít xảy ra BLGĐ
đồng thời đạt được tốc độ phát triển kinh tế cao và bền vững hơn.
Thực trạng bất BĐG, khoảng cách giới, phân biệt đối xử về giới ở Việt
Nam vẫn đang tồn tại trong đời sống xã hội, biểu hiện ở những khía cạnh như:
bất bình đẳng về vị trí, vai trò giữa nam và nữ trong các lĩnh vực đời sống xã hội

tổng thể và toàn diện nhằm thực hiện được bình đẳng giới thực chất giữa
vợ và chồng.
Từ những suy nghĩ trên, tôi chọn đề tài “Pháp luật về bình đẳng giới
và vấn đề phòng chống bạo lực giữa vợ chồng qua thực tiễn tại thành phố
Đà Nẵng” làm luận văn thạc sĩ luật học.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ ảnh hưởng của hành vi bạo
lực giữa vợ và chồng đến việc thực hiện quyền BĐG giữa vợ và chồng trên cơ
sở nghiên cứu các quy định của pháp luật về BĐG và phòng, chống BLGĐ
đồng thời tìm hiểu thực trạng bạo lực giữa vợ và chồng tại Thành phố Đà
Nẵng, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm phòng, chống, xử lý kịp thời, có
hiệu quả hành vi bạo lực giữa vợ và chồng để thực hiện mục tiêu BĐG.
* Để thực hiện mục đích trên, đề tài có những nhiệm vụ sau
- Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, những quy định của pháp luật điều
chỉnh về BĐG và BLGĐ.

3
- Tìm hiểu, phân tích, đánh giá thực trạng bạo lực giữa vợ và chồng
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong những năm gần đây và ảnh hưởng của
nó đến việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng, đến BĐG giữa
vợ và chồng.
- Tìm hiểu, phân tích một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng
BLGĐ giữa vợ, chồng và đánh giá hậu quả của bạo lực giữa vợ và chồng
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế tình trạng BLGĐ giữa vợ
chồng ở thành phố Đà Nẵng và các biện pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh
vấn đề BLGĐ, nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật về phòng, chống BLGĐ để
thực hiện BĐG giữa vợ và chồng trong thực tế.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
- Một số vấn đề lý luận chung về BĐG và BLGĐ.

thành phố Đà Nẵng; phân tích, làm rõ nguyên nhân của thực trạng đó và hậu
quả của nó.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp có tính khả thi nhằm hạn chế vấn đề
bạo lực giữa vợ, chồng tại Đà Nẵng đồng thời góp phần phòng, chống BLGĐ
tại Việt Nam nhằm thực hiện BĐG thực chất giữa vợ và chồng.
- Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu có tính chuyên sâu những
khía cạnh lý luận và thực tiễn về bạo lực giữa vợ và chồng dưới góc độ BĐG.
Qua kết quả nghiên cứu, luận văn nhằm khẳng định bạo lực giữa vợ và chồng
là nguyên nhân và biểu hiện của sự bất BĐG, và ngược lại không thể đạt được
mục tiêu BĐG thực chất khi còn tồn tại bạo lực giữa vợ và chồng.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần đặt vấn đề, kết luận vấn đề, danh mục tài liệu tham khảo và
phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 3 chương.

5
Chương 1. Bạo lực giữa vợ chồng và việc thực hiện bình đẳng giới.
Chương 2. Hành vi bạo lực giữa vợ - chồng và biện pháp xử lý hành vi
bạo lực nhằm thực hiện bình đẳng giới theo pháp luật hiện hành.
Chương 3. Thực trạng bạo lực giữa vợ chồng và việc phòng, chống bạo
lực giữa vợ chồng nhằm đảm bảo bình đẳng giới tại thành phố Đà Nẵng.


do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh
các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau [26].

7
Xuất phát từ khái niệm về gia đình theo khoản 10 Điều 8 Luật HN&GĐ
2000, có thể hiểu thành viên gia đình gồm: vợ với chồng (có quan hệ hôn
nhân hợp pháp); cha mẹ với con; ông bà với cháu; anh, chị, em với nhau (có
quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng).
Tuy nhiên, đây là cách hiểu về khái niệm gia đình theo nghĩa hẹp. Bởi
vì, khi tìm hiểu về khái niệm gia đình và thành viên gia đình, cần phải xem
xét đến các yếu tố về tình cảm, sự gắn bó giữa các thành viên với nhau. Nếu
chỉ xem những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng mới là
các thành viên gia đình theo như quy định của pháp luật hiện nay thì chưa đầy
đủ, vô tình đã loại bỏ ra nhiều thành viên khác mà đáng lẽ ra họ phải được coi
các thành viên gia đình với nhau, đó là: bố, mẹ chồng với con dâu; bố, mẹ vợ
với con rể; bố dượng, mẹ kế với con riêng; anh, chị, em họ; cô, dì, chú, bác
với các cháu… Những người này có thể sống hoặc không sống cùng nhau
trong một gia đình, mối quan hệ giữa họ là mối quan hệ giữa những gia đình
nhỏ với nhau trong một đại gia đình lớn và họ chính là những người có “quan
hệ gần” với những thành viên gia đình chính thống mà pháp luật đã quy định.
Ví dụ: bố chồng và con dâu được coi là thành viên gia đình bởi con dâu là
người có quan hệ hôn nhân với con trai là người có quan hệ huyết thống với
bố chồng. Các mối quan hệ thường có sự đan xen lẫn nhau, vì vậy, xét trên
yếu tố tình cảm, nhân thân, sự gắn bó thì họ phải được coi là các thành viên
gia đình với nhau.
Vì vậy, thành viên gia đình nên được hiểu gồm những người có quan
hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng và những người có quan hệ họ hàng
huyết thống khác.
Từ những cách nhìn nhận trên, có thể hiểu BLGĐ là bất kỳ hành vi bạo
lực hay đe dọa có hành vi bạo lực xảy ra giữa các thành viên trong gia đình


9
ngược đãi về thân thể, ngược đãi về lời nói, ngược đãi về tình cảm, ngược đãi
liên quan đến tình dục [13].
- Theo nghiên cứu của Bùi Thu Hằng thì có năm loại BLGĐ [7, tr.27] gồm:
+ Cưỡng bức thân thể: gồm các hành vi như đấm đá, bạt tai gây tổn
thương về thể xác.
+ Cưỡng bức tình dục: gồm việc ép phải quan hệ tình dục hoặc bắt xem
những hình ảnh khiêu dâm mà không được sự đồng ý của phụ nữ.
+ Cưỡng bức về tâm lý và tình cảm: gồm việc buộc nạn nhân sống
trong bầu không khí bị đe dọa và so sánh họ với người khác với lời lẽ mạt sát.
+ Cưỡng bức về mặt xã hội: gồm việc cắt đứt các mối quan hệ giữa
người phụ nữ với người thân trong gia đình và bạn bè.
+ Cưỡng bức về tài chính: là người chồng hoặc vợ hoàn toàn kiểm soát
về mặt tài chính đối với người kia.
Như vậy, trong các cách phân loại này có một số nét tương đồng: bạo
lực nhìn thấy được có thể bao gồm bạo lực thân thể, bạo lực tình dục, trong đó
bạo lực thân thể có thể gồm nhiều hành vi như đánh, tát, dùng vũ lực, tạt
axit, và bạo lực không nhìn thấy được có thể bao gồm các hành vi nhằm tác
động tới tâm lý, tình cảm, tinh thần khác. Tuy nhiên, giữa các loại bạo lực
không có ranh giới rõ ràng, bởi có những loại bạo lực vừa nhìn thấy được, thể
hiện qua các tác động về cơ thể, sức khỏe, vừa không nhìn thấy được, thể hiện
qua những tổn thương về tinh thần, tình cảm, ví dụ như bạo lực tình dục.
Theo LPCBLGĐ 2007 thì BLGĐ gồm các hành vi gây tổn hại hoặc có
khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế và được thể hiện bằng
những hành vi sau:
- Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến
sức khoẻ, tính mạng;
- Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;


quan tâm Loại bạo lực này thường có sức tàn phá rất mạnh, nó khiến nạn
nhân bị dày vò, đau khổ, héo mòn về tinh thần, tổn thương về tình cảm.
- Dựa vào đối tượng tác động của hành vi bạo lực thì có thể phân thành
4 loại:
+ Bạo lực thể chất: là hành vi gây ra thương tích, thiệt hại về thân thể,
tính mạng như đánh đập, ngược đãi, hành hạ về mặt thể xác khiến nạn nhân
đau đớn, tật nguyền hoặc có thể tử vong.
+ Bạo lực tình dục: là cưỡng ép quan hệ tình dục; có hành vi xâm phạm
đến đời sống tình dục vợ chồng mà người vợ hoặc chồng không đồng ý,
cưỡng ép có con, cưỡng ép không được sử dụng biện pháp tránh thai
+ Bạo lực tinh thần: là hành vi sỉ nhục, lăng mạ, nhạo báng, chỉ trích,
đe dọa, ghen tuông, gây lo lắng, căng thẳng, sợ hãi diễn ra trong quan hệ vợ
chồng; hoặc thực hiện hành vi gây áp lực thường xuyên về tâm lý cho vợ hoặc
chồng như: buộc cắt đứt quan hệ với người thân, bạn bè; cô lập, cắt điện
thoại, không cho đi đâu và giao tiếp với bất cứ ai; ngoại tình…
+ Bạo lực kinh tế: là hành vi chiếm đoạt, hủy hoại, làm hư hỏng
tiền, giấy tờ có giá và các tài sản khác là tài sản riêng hoặc tài sản chung
của vợ chồng; cản trở vợ hoặc chồng thực hiện quyền hợp pháp của chủ
sở hữu đối với tài sản; hoặc cưỡng ép vợ hoặc chồng lao động quá sức,
đóng góp tài chính quá khả năng; kiểm soát thu nhập nhằm tạo tình trạng
phụ thuộc về tài chính.
Tóm lại, sự phân loại bạo lực giữa vợ và chồng chỉ có tính chất tương
đối. Nhưng dù ở dạng này hay dạng khác thì bạo lực trong quan hệ vợ chồng
vẫn đang tồn tại và mang lại nhiều nguy cơ cho bản thân vợ chồng và gia
đình. Tuy có những cách phân loại hành vi bạo lực giữa vợ và chồng khác
nhau nhưng tất cả các học giả đều nhận thấy tác động và hậu quả to lớn của
bạo lực trong quan hệ vợ chồng. Bạo lực giữa vợ, chồng làm sâu sắc hơn tình

12
trạng BĐG, điều đó đòi hỏi phải thúc đẩy công cuộc đấu tranh phòng chống

hứa sẽ thay đổi, thuyết phục nạn nhân rằng những hứa hẹn này là chân thật.
Chính điều này làm nhiều nạn nhận của bạo lực bị cuốn vào vòng xoáy không
dứt ra được.
- Về chủ thể, có thể do cả vợ, chồng là người có hành vi bạo lực, nhưng
nhìn chung bạo lực do người chồng gây ra cho vợ là chủ yếu. Các nghiên cứu
đã chỉ ra rằng số nạn nhân là phụ nữ chiếm tới 95% tổng số các vụ BLGĐ
[30]. Nếu xem xét đến cả ba hình thức bạo lực chính trong đời sống vợ chồng
- thể xác, tình dục và tinh thần, thì có hơn một nửa (58%) phụ nữ Việt Nam
cho biết đã từng là nạn nhân của ít nhất một hình thức BLGĐ kể trên. Các kết
quả nghiên cứu cũng cho thấy khả năng phụ nữ bị chồng mình lạm dụng
nhiều hơn gấp ba lần so với khả năng họ bị người khác lạm dụng [44].
- Bạo lực giữa vợ, chồng thường bị chi phối bởi sự lệ thuộc hoặc ràng
buộc lẫn nhau. Sự lệ thuộc, ràng buộc lẫn nhau có thể là về con, kinh tế, chỗ
ở, … Nhiều người vợ dù phải gánh chịu nhiều hậu quả do hành vi bạo lực của
chồng nhưng vẫn không tố giác, chấp nhận duy trì hôn nhân để con có được
một gia đình đầy đủ cả cha lẫn mẹ; hoặc vì không có việc làm, thu nhập, chỗ
ở nên đành âm thầm chịu đựng bạo lực do chồng gây ra.
- Bạo lực giữa vợ và chồng gây ra nhiều hậu quả nặng nề cho các
bên vợ chồng. Trở thành nguyên nhân và nguy cơ làm tan vỡ, suy giảm sự
bền vững của gia đình, gây mất an toàn trong đời sống xã hội, làm giảm
lòng tin, ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của trẻ em và đặc biệt
càng làm sâu sắc hơn tình trạng bất bình đẳng giới. Bởi những biểu hiện
của hành vi bạo lực giữa vợ, chồng và hậu quả của chúng đã thể hiện sự
bất BĐG trong gia đình; hạn chế vai trò, cơ hội phát triển, khả năng thụ
hưởng thành quả của nạn nhân.

14
1.1.4. Hậu quả của hành vi bạo lực giữa vợ và chồng
Tình hình BLGĐ nói chung, bạo lực giữa vợ và chồng nói riêng đang
xảy ra khá phổ biến tại khắp các vùng miền trên cả nước. Hành vi bạo lực

phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng thành quả của sự phát
triển. Trong trường hợp, nạn nhân là người vợ thì hành vi bạo lực còn cản trở,
triệt tiêu khả năng hưởng thụ các lợi ích của người phụ nữ; xâm phạm nghiêm
trọng nhân phẩm, cản trở sự phát triển của người phụ nữ… Từ đó, cản trở việc
thực hiện quyền BĐG, làm sâu sắc hơn tình trạng bất BĐG trong gia đình.
- Ảnh hưởng đến gia đình:
Bạo lực trong quan hệ vợ chồng có ảnh hưởng xấu đến gia đình nói
chung và các thành viên gia đình nói riêng. Quan hệ vợ chồng được xem là
quan hệ trung tâm của gia đình, vì vậy, những hành vi bạo lực giữa vợ chồng
khiến gia đình không thể thực hiện tốt các chức năng quan trọng của mình.
Một gia đình không thể cùng nhau phấn đấu xây dựng, phát triển kinh tế khi
vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, đánh đập, không yêu thương, tôn trọng
lẫn nhau. Gia đình không thực hiện được chức năng chăm sóc, giáo dục con
cái khi bản thân cha mẹ lại không đối xử tốt với nhau. Những đứa con sống
trong môi trường gia đình như vậy rất dễ bị tổn thương, chúng thường sống
trong tâm trạng lo lắng, bất an, khó hòa nhập cuộc sống, từ đó nảy sinh tư
tưởng chán đời, học hành sa sút, dễ mắc các bệnh trầm cảm, tệ nạn xã hội…
Điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ.
Nguy hiểm hơn, đây chính là mảnh đất để ươm mầm những hành vi BLGĐ
trong tương lai, khi mà những đứa trẻ trưởng thành cũng có xu hướng sử dụng
bạo lực để giải quyết các mâu thuẫn trong gia đình. Đây cũng là một lý do dẫn
các trẻ em này vào con đường phạm pháp.
Cũng phải nói thêm rằng, trong những gia đình có bạo lực, ngoài các

16
chi phí chăm sóc y tế để chữa trị thương tích và rối loạn tâm lý liên quan đến
bạo lực, còn có các chi phí khác về thời gian dành cho việc chữa trị và các
hoạt động pháp lý khác mà lẽ ra thời gian đó nạn nhân và gia đình họ có thể
sử dụng để kiếm thêm thu nhập.
Bạo lực giữa vợ chồng cũng làm phát sinh nguy cơ gây tan vỡ và suy

hưởng xấu đến xã hội, để lại cho xã hội những gánh nặng.
1.2. Bạo lực giữa vợ và chồng xâm phạm quyền bình đẳng giới
Bình đẳng nam nữ là tư tưởng được hình thành từ lâu trong lịch sử lập
pháp của nước ta. Tuy nhiên, vấn đề BĐG lại mới được đề cập, nghiên cứu,
điều chỉnh trong một hai thập niên gần đây. Bạo lực giữa vợ chồng là xâm
phạm nghiêm trọng đến quyền BĐG. Để thấy rõ hơn điều đó, cần hiểu rõ một
số khái niệm và lý luận chung về bình đẳng giới.
1.2.1. Khái niệm chung về bình đẳng giới
* Khái niệm giới tính và giới
“Giới tính là những đặc điểm chung phân biệt nam với nữ, giống đực
với giống cái” [17, tr.405]. Theo quan điểm xã hội học trong cuốn “Xã hội
học về giới và phát triển” của hai tác giả Lê Ngọc Hùng và Nguyễn Thị Mĩ
Lộc, “Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ trong tất cả các mối
quan hệ xã hội” [10, tr.6]. Với tác giả Lê Thị Chiêu Nghi thì “giới tính là sự
khác biệt giữa phụ nữ và nam giới về mặt y - sinh học” [19, tr.77].
Dưới góc độ khoa học pháp lý, khái niệm giới tính lần đầu tiên được
quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 5 Luật BĐG, theo đó: “Giới tính chỉ các đặc
điểm sinh học của nam, nữ”.
Như vậy, khái niệm giới tính chỉ đặc điểm sinh học tự nhiên do bẩm
sinh di truyền của nam hoặc nữ, do đó, đặc điểm về giới tính là không thể
thay đổi được. “Giới là lớp người trong xã hội phân theo một đặc điểm rất

18
chung nào đó, về nghề nghiệp, địa vị xã hội” [17, tr.405]. Theo định nghĩa của
tác giả Lê Thị Chiêu Nghi thì: “Giới bao gồm các mối quan hệ và tương quan
về địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới trong một môi trường xã hội cụ thể,
hay nói cách khác, giới là sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong quan
hệ xã hội” [19, tr.71]. Ngoài ra, theo tác giả Lê Ngọc Hùng và Nguyễn Thị
Mĩ Lộc thì: “Giới dùng để chỉ các đặc điểm, vị trí, vai trò và mối quan hệ xã
hội giữa nam và nữ. Hay nói cách khác, giới là khái niệm dùng để chỉ những

chính sách đối với phụ nữ một cách hợp lý. Hay nói cách khác, BĐG là sự
thừa nhận, sự coi trọng ngang nhau đối với các đặc điểm giới tính và sự thiết
lập các cơ hội, điều kiện ngang nhau đối với nữ và nam trong xã hội để nam -
nữ có thể thực hiện và hưởng thụ ngang nhau các quyền của mình.
Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, các thuật ngữ “bình đẳng nam nữ”,
“nam nữ bình quyền” đã được sử dụng trong các văn bản pháp luật để thể
hiện sự bình đẳng về địa vị pháp lý của nam và nữ trong các quan hệ pháp
luật cụ thể. Tuy nhiên việc nam nữ bình đẳng về địa vị pháp lý không bao
hàm sự bình đẳng của nam và nữ trong tất cả các quan hệ xã hội. “Bình đẳng
giới” là thuật ngữ được quy định tại khoản 3 Điều 5 Luật BĐG. Theo đó,
BĐG được hiểu “là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều
kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng,
của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”.
BĐG là mục tiêu và thước đo tiến độ phát triển của một xã hội. BĐG
được thể hiện ở nhiều phương diện, cụ thể như: nữ và nam có điều kiện ngang
nhau để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong muốn của mình; nữ và
nam có cơ hội ngang nhau để tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực
của xã hội trong quá trình phát triển; nữ và nam có các quyền lợi ngang nhau
trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Trích đoạn Xử lý hành chính Xử lý theo pháp luật hình sự Xử lý theo pháp luật dân sự Thực trạng bạo lực giữa vợ chồng tại thành phố Đà Nẵng Vấn đề phòng, chống bạo lực giữa vợ chồng và áp dụng pháp luật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status