Bài tập lớn, sơ lược CHUNG về THUẾ XUẤT – NHẬP KHẨU - Pdf 25

0

KHOA KINH TẾ
BỘ MÔN THUẾ TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
BÀI TẬP NHÓM
CHỦ ĐỀ:
XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ
XUẤT – NHẬP KHẨU Nha Trang, tháng 11 năm 2012
1
DANH SÁCH NHÓM 2
1. PHẠM PHƯƠNG MAI
2. NGUYỄN THỊ TÂM
3. NGUYỄN THỊ QUYẾT

2.1.3. Hàng hóa mua bán, trao đổi khác được coi là hàng hóa xuất khẩu,
nhập khẩu.
2.2 Đối tượng không chịu thuế
Hàng hóa trong các trường hợp sau đây là đối tượng không chịu thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu:
2.2.1. Hàng hóa vận chuyển quá cảnh hoặc chuyển khẩu qua cửa khẩu Việt
Nam theo quy định của pháp luật.
3

2.2.2. Hàng hóa viện trợ nhân đạo, hàng hóa viện trợ không hoàn lại của
các Chính phủ, các tổ chức thuộc Liên hợp quốc, các tổ chức liên Chính phủ, các
tổ chức quốc tế, các tổ chức phi Chính phủ nước ngoài (NGO), các tổ chức kinh tế
hoặc cá nhân người nước ngoài cho Việt Nam và ngược lại, nhằm phát triển kinh
tế - xã hội, hoặc các mục đích nhân đạo khác được thực hiện thông qua các văn
kiện chính thức giữa hai Bên, được cấp có thẩm quyền phê duyệt; các khoản trợ
giúp nhân đạo, cứu trợ khẩn cấp nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh, thiên tai,
dịch bệnh.
2.2.3. Hàng hóa từ khu phi thuế quan xuất khẩu ra nước ngoài; hàng hóa
nhập khẩu từ nước ngoài vào khu phi thuế quan và chỉ sử dụng trong khu phi thuế
quan; hàng hóa đưa từ khu phi thuế quan này sang khu phi thuế quan khác.
2.2.4. Hàng hóa là phần dầu khí thuộc thuế tài nguyên của Nhà nước khi
xuất khẩu.
2.3 Đối tượng nộp thuế; đối tượng được ủy quyền, bảo lãnh và nộp thay thuế
2.3.1. Đối tượng nộp thuế theo quy định tại Điều 4 của Luật Thuế xuất
khẩu, Thuế nhập khẩu, bao gồm:
a. Chủ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;
b. Tổ chức nhận ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa;
c. Cá nhân có hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu khi xuất cảnh, nhập cảnh; gửi
hoặc nhận hàng hóa qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam.
2.3.2. Đối tượng được ủy quyền, bảo lãnh và nộp thay thuế, bao gồm:

+ Giá tính thuế đối với hàng hoá xuất khẩu là giá bán cho khách hàng tại cửa khẩu
xuất (FOB), không gồm chi phí vận tải (F), phí bảo hiểm (I) theo hợp đồng bán
hàng.
+ Giá tính thuế đối với hàng hoá nhập khẩu là giá mua cuả khách hàng tại cửa
khẩu nhập, bao gồm cả chi phí vận tải (F), phí bảo hiểm (I) theo hợp đồng mua
hàng, tức là giá CIF.
+ Ðối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu nếu có hợp đồng mua bán và có đủ các
chứng từ hợp lệ đủ điều kiện để xác định giá tính thuế thì giá tính thuế được xác
định theo hợp đồng.
+ Trong trường hợp hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo phương thức khác hoặc
giá ghi trên hợp đồng quá thấp so với giá mua bán tối thiểu thực tế tại cửa khẩu thì
giá tính thuế áp dụng theo biểu giá do Chính phủ quy định. Giá tính thuế tính bằng
đồng Việt Nam. Ngoại tệ được quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá mua vào do
Ngân hàng nhà nước công bố.
5 * Thuế suất:
- Thuế suất thuế xuất khẩu: Thuế suất đối với hàng hoá xuất khẩu được quy định
cụ thể cho từng mặt hàng tại Biểu thuế xuất khẩu do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban
hành.
- Thuế suất thuế nhập khẩu: Thuế suất đối với hàng hoá nhập khẩu được quy
định cụ thể cho từng mặt hàng, bao gồm thuế suất ưu đãi, thuế suất ưu đãi đặc biệt
và thuế suất thông thường

2. Xác định trị giá tính thuế
2.1 Nguyên tắc xác định trị giá tính thuế
2.1.1 Trị giá tính thuế nhằm mục đích tính thuế được xác định theo trình tự
các phương pháp của WTO ( Hiệp định Xác định trị giá)
2.1.2 Trị giá tính thuế phục vụ mục đích thống kê được xác định theo

đã được điều chỉnh các khoản phải cộng, phải trừ.
 Trị giá tính thuế của hàng hoá nhập khẩu trước hết phải được xác định theo
trị giá giao dịch. Trị giá giao dịch là tổng số tiền người mua đã thực trả hay sẽ phải
trả, trực tiếp hoặc gián tiếp cho người bán để mua hàng hoá nhập khẩu, sau khi đã
cộng thêm và/hoặc trừ ra một số khoản điều chỉnh.
 Trị giá giao dịch bao gồm các khoản sau đây:
K1. Giá mua ghi trên hoá đơn:
 Trường hợp giá mua ghi trên hoá đơn có bao gồm các khoản giảm giá cho lô hàng
nhập khẩu thì các khoản này được trừ ra để xác định trị giá tính thuế, với điều kiện
việc giảm giá được lập thành văn bản trước khi xếp hàng lên phương tiện vận
chuyển và có số liệu, chứng từ hợp pháp, hợp lệ để tách khoản giảm giá này ra
khỏi giá hoá đơn và các chứng từ đó phải nộp cùng với tờ khai hải quan.
K2. Các khoản tiền người mua phải thanh toán nhưng chưa tính vào giá mua ghi
trên hoá đơn thương mại, bao gồm: Tiền trả trước, tiền đặt cọc cho việc sản xuất,
mua bán, vận chuyển, bảo hiểm hàng hoá;
K3. Các khoản thanh toán gián tiếp cho người bán như: khoản tiền người mua trả
cho người thứ ba theo yêu cầu của người bán; khoản tiền được thanh toán bằng
cách bù trừ nợ.
 Điều kiện áp dụng phương pháp trị giá giao dịch:
 Người mua không bị hạn chế quyền định đoạt hoặc sử dụng hàng hoá
sau khi nhập khẩu,
 Giá cả hoặc việc bán hàng không phụ thuộc vào những điều kiện hay
các khoản thanh toán mà vì chúng không thể xác định được trị giá của hàng
hoá cần xác định trị giá tính thuế;
 Sau khi bán lại hàng hoá, người nhập khẩu không phải trả thêm bất kỳ
khoản tiền nào từ số tiền thu được do việc định đoạt hoặc sử dụng hàng hoá
7

mang lại, không kể các khoản điều chỉnh quy định tại điểm d khoản 1 Điều 13
Nghị định 40/2007/NĐ-CP.

 Lô hàng nhập khẩu giống hệt được xuất khẩu đến Việt Nam vào cùng ngày hoặc
trong vòng 60 ngày trước hoặc sau ngày xuất khẩu của lô hàng đang được xác
định trị giá tính thuế;
8

 Lô hàng nhập khẩu giống hệt có giao dịch mua bán ở cùng cấp độ hoặc đã được
điều chỉnh về cùng cấp độ bán buôn hoặc bán lẻ; có cùng số lượng hoặc đã được
điều chỉnh về cùng số lượng với lô hàng đang được xác định trị giá tính thuế;
 Lô hàng nhập khẩu giống hệt có cùng khoảng cách và phương thức vận chuyển
hoặc đã được điều chỉnh về cùng khoảng cách và phương thức vận chuyển giống
như lô hàng đang được xác định trị giá tính thuế.
* Lưu ý:
 Nếu không có lô hàng nhập khẩu được sản xuất bởi cùng một nhà sản xuất thì
mới xét đến hàng hoá được sản xuất bởi nhà sản xuất khác, nhưng phải đảm bảo
các quy định về hàng hoá nhập khẩu giống hệt.
 Khi xác định được từ hai trị giá giao dịch của hàng hoá nhập khẩu giống hệt trở
lên thì trị giá tính thuế là trị giá giao dịch thấp nhất.
2.2.3 Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu tương tự.
 “Hàng hoá nhập khẩu tương tự” là những hàng hoá mặc dù không giống nhau về
mọi phương diện nhưng có các đặc trưng cơ bản giống nhau, được làm từ các
nguyên, vật liệu giống nhau; có cùng chức năng và có thể hoán đổi cho nhau trong
giao dịch thương mại; được sản xuất ở cùng một nước, bởi cùng một nhà sản xuất
hoặc nhà sản xuất khác theo sự uỷ quyền của nhà sản xuất đó, được nhập khẩu vào
Việt Nam.
 Điều kiện áp dụng
 Lô hàng nhập khẩu tương tự được xuất khẩu đến Việt Nam vào cùng ngày hoặc
trong vòng 60 ngày trước hoặc sau ngày xuất khẩu của lô hàng đang được xác
định trị giá tính thuế;
 b) Lô hàng nhập khẩu tương tự có giao dịch mua bán ở cùng cấp độ hoặc đã được
điều chỉnh về cùng cấp độ bán buôn hoặc bán lẻ, có cùng số lượng hoặc đã được

lượng; lô hàng có cùng cấp độ thương mại nhưng khác nhau về số lượng thì lựa
chọn lô hàng nhập khẩu khác nhau về cấp độ thương mại nhưng cùng số lượng, sau
đó điều chỉnh trị giá giao dịch của lô hàng nhập khẩu tương tự về cùng cấp độ
thương mại với lô hàng đang xác định trị giá tính thuế.
 Nếu không tìm được lô hàng nhập khẩu có cùng cấp độ thương mại và số
lượng; lô hàng có cùng cấp độ thương mại nhưng khác nhau về số lượng; lô hàng
khác cấp độ thương mại nhưng có cùng số lượng thì lựa chọn lô hàng nhập khẩu
khác nhau cả về cấp độ thương mại và số lượng, sau đó điều chỉnh trị giá giao dịch
của lô hàng nhập khẩu tương tự về cùng cấp độ thương mại và số lượng với lô hàng
đang xác định trị giá tính thuế.
 Trường hợp lô hàng nhập khẩu tương tự được hưởng chiết khấu thương
mại, chiết khấu số lượng, chiết khấu thanh toán mà lô hàng nhập khẩu đang xác
định trị giá tính thuế không được hưởng thì không được trừ các khoản chiết khấu
này ra khỏi trị giá giao dịch. Trường hợp lô hàng nhập khẩu tương tự không được
hưởng chiết khấu thương mại, chiết khấu số lượng mà lô hàng nhập khẩu đang xác
định trị giá tính thuế được hưởng thì được trừ các khoản chiết khấu này ra khỏi trị
giá giao dịch.
 Điều kiện về quãng đường và phương thức vận tải, bảo hiểm:
10

 Lô hàng nhập khẩu tương tự có cùng quãng đường và phương thức vận tải,
hoặc đã được điều chỉnh về cùng quãng đường và phương thức vận tải với lô hàng
đang xác định trị giá.
 Nếu có sự chênh lệch đáng kể về phí bảo hiểm thì có thể điều chỉnh về cùng
điều kiện bảo hiểm với lô hàng đang xác định trị giá tính thuế.
 Khi áp dụng phương pháp trị giá giao dịch của hàng hoá nhập khẩu tương
tự, nếu không tìm được hàng hoá nhập khẩu tương tự được sản xuất bởi cùng một
nhà sản xuất hoặc nhà sản xuất khác được uỷ quyền thì mới xét đến hàng hoá được
sản xuất bởi nhà sản xuất khác và phải có cùng xuất xứ.
 Khi xác định trị giá tính thuế theo phương pháp này mà xác định được từ

 Các khoản thuế, phí và lệ phí phải nộp ngân sách nhà nước khi nhập khẩu và bán
hàng nhập khẩu mà theo quy định của pháp luật hiện hành được hạch toán vào
doanh thu bán hàng, giá vốn và chi phí bán hàng nhập khẩu;
 Chi phí quản lý chung liên quan đến việc bán hàng nhập khẩu;
 Lợi nhuận bán hàng sau khi nhập khẩu.
* Lưu ý:
 Số liệu phục vụ cho tính toán trị giá khấu trừ do người nhập khẩu cung cấp.
 Việc khấu trừ khoản lợi nhuận và chi phí chung phải dựa trên cơ sở các số liệu
khách quan và định lượng được.
 Phải được ghi chép và phản ánh trên sổ sách kế toán phù hợp với quy định của
pháp luật về kế toán.
2.2.5 Phương pháp trị giá tính toán
 Phương pháp trị giá tính toán bao gồm các khoản sau:
a. Giá thành hoặc trị giá của nguyên vật liệu, chi phí của quá trình sản xuất hoặc quá
trình gia công khác của việc sản xuất hàng hoá nhập khẩu, bao gồm:
 Các chi phí;
 Trị giá của các hàng hoá hay dịch vụ, nếu những hàng hoá hay dịch vụ đó do
người mua cung cấp trực tiếp hay gián tiếp để sử dụng cho quá trình sản xuất hàng
nhập khẩu.
b. Chi phí, lợi nhuận để bán hàng hoá nhập khẩu;
c. Các chi phí điều chỉnh.
*Lưu ý:
 Việc xác định trị giá tính toán phải dựa trên các số liệu của nhà sản xuất cung
cấp phù hợp với các nguyên tắc kế toán của nước sản xuất hàng hoá, trừ khi các số
liệu này không phù hợp với số liệu thu thập được tại Việt Nam.
2.2.6 Phương pháp suy luận xác định trị giá tính thuế
 Phương pháp suy luận là áp dụng tuần tự, linh hoạt các phương pháp xác định trị
giá tính thuế và dừng ngay tại phương pháp xác định được trị giá tính thuế và phải
12


ýu ðãi do Bộ trýởng Bộ tài chính ban hành
Ngýời nộp thuế tự khai và chịu trách nhiệm trýớc pháp luật và xuất xứ hàng hóa
ðể làm cõ sở xác ðịnh mức thuế suất nhập khẩu ýu ðãi.
13

VD: 1 DN Việt Nam nhập khẩu 500 chai Rýợu Vang Pháp Chateau Saint, nồng ðộ
cồn 13% với giá 65USD/chai/liter
 Trị giá tính thuế (giả sử sau khi ðã cộng và trừ các khoản liên quan qui ðịnh) =
65USD
 Áp dụng thuế suất ýu ðãi cho sản phẩm này là: 52%
 Thuế nhập khẩu = 500 x 65 x 52% = 16.900 USD
b. Thuế suất ýu ðãi ðặc biệt: Áp dụng cho hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ
nýớc, nhóm nýớc hoặc vùng lãnh thổ thực hiện ýu ðãi ðặc biệt về thuế nhập
khẩu với Việt Nam. Ðýợc quy ðịnh cụ thể cho từng mặt hàng tại các quyết ðịnh
của bộ trýởng bộ tài chính, ðýợc hýớng dẫn thực hiện tại Thông tý 47/2007/TT-
BTC ngày 07/05/2007
VD: Campuchia nhập khẩu vào Việt Nam 2 tấn hạt ðiều týõi với ðõn giá là
9000USD/tấn.
_thuế nhập khẩu của lô hàng này = 2x9000x0% =0 USD
Trong ðó:
-Số lýợng ðõn vị là 2 tấn
-Trị giá tính thuế: 9.000USD/Tấn
-Thuế suất ýu ðãi ðặc biệt: 0%

c. Thuế suất thông thường: Áp dụng cho hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ nước
không có thoả thuận đối xử tối huệ quốc hoặc không thực hiện ưu đãi đặc biệt về
thuế nhập khẩu trong quan hệ thương mại với Việt Nam. Thuế xuất thong thường
được áp dụng thống nhất bằng 150% mức thuế suất ưu đãi của từng mặt hàng tương
ứng quy định tại biểu thuế nhập khẩu ưu đãi)
Thuế suất thông thýờng= thuế suất ýu ðãi x 150%

Khi nền kinh tế suy thoái, tức là khi đầu tư ngừng trệ, sản xuất và tiêu dùng đều
giảm thì nhà nước dùng thuế để kích thích đầu tư và khuyến khích tiêu dùng.
Bằng việc giảm thuế đánh vào sản xuất, giảm thuế đối với hàng sản xuất ra để
khuyến khích tạo lợi nhuận, kích thích việc đầu tư vào sản xuất.
Bằng việc giảm thuế đánh vào tiêu dùng nhằm khuyến khích tiêu dùng.
15

Để hạn chế và gây áp lực đối với việc lưu giữ vốn không đưa vào đầu tư, có thể
tăng thuế đánh vào thu nhập về tiền gửi tiết kiệm và thu nhập về tài sản dự trữ, từ
đó sẽ khuyến khích việc đưa vốn vào đầu tư, sản xuất kinh doanh.
 Thuế góp phần bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hội.
Hệ thống thuế được áp dụng thống nhất ở các ngành nghề, các thành phần kinh tế,
các tầng lớp dân cư để đảm bảo sự bình đẳng và công bằng xã hội.
Người có thu nhập cao phải đóng thuế nhiều hơn người có thu nhập thấp. Thuế
phải đánh cùng một tỷ lệ vào các công dân có điều kiện như nhau. Giữa các công
dân có điều kiện khác nhau, thì thuế suất cũng cần khác nhau (vì thông thường
người có điều kiện tốt hơn có xu hướng tiêu dùng hàng hóa công cộng nhiều hơn).
Tuy nhiên phải để người có thu nhập cao chính đáng được hưởng thành quả lao
động của mình thì mới khuyến khích họ phát triển sản xuất kinh doanh , tránh lạm
thu để đảm bảo công bằng và bình đẳng xã hội.
Phải có những biện pháp chống thất thu về thuế đối với đối tượng nộp thuế, về căn
cứ tính thuế, tổ chức quản lý thu thuế, chế độ miễn giảm thuế, kiểm tra, xử lí
nghiêm minh đối với vi phạm trốn thuế.
2. Hạn chế của thuế xuất, nhập khẩu ở việt nam
- Thuế nhập khẩu hiện nay với chức năng bảo vệ cho sản xuất trong nước đã
thường xuyên được điều chỉnh thuế suất cho phù hợp với những mặt hàng trong
nước đã sản xuất được, do đó nó đã góp phần hỗ trợ tích cực cho sản xuất trong
thời kỳ đầu phát triển. Nhưng chính điều này đã tạo ra những lệch lạc trong
định hướng đầu tư trong nước, đặc biệt là thu hót đầu tư nước ngoài.
Trong những năm qua, đầu tư nước ngoài đã được thu hót vào những ngành

để hình thành doanh nghiệp thì được miễn thuế, còn đối với các doanh nghiệp
trong nước nhập khẩu máy móc, thiết bị để hình thành donh nghiệp lại phải
đóng thuế.
Như vậy, các doanh nghiệp trong nước vốn thì không lớn, khả năng cạnh
tranh yếu lại phải nép thuế, còn đối với các doanh nghiệp nước ngoài vốn lớn,
khả năng cạnh tranh mạnh lại không phải đóng thuế. Thiết nghĩ đây là mâu
thuẫn lớn cần đượcxem xét và sớm giải quyết.Trong tổ chức thực hiện chính sách
thuế xuất nhập khẩu còng còn nhiều bất cập như:
- Việc tính thuế còn tuỳ tiện,đặc biệt ở một số cửa khẩu biên giới phía
Bắcnhư: Kalong (Móng cái , Quảng ninh ), Chi ma (Léc Bình,lạng Sơn) đặc biệt
là tình trạng Hải Quan có “quyền” ,”hành” doanh nghiệp. Hải Quan mỗi nơi áp
dụng một mức thuế suất khác nhau chẳng hạn nhu đối với một số phụ tùng của
máy móc, phương tiện vận tải, được quy định tại biểu thuế nhập khẩu thu
lộcnhiều mã (chương ,nhóm) khác nhau lại tuỳ ý áp mã số thuế. Nếu doanh nghiệp
tự khai thuế mà lỡ áp sai mã số thuế thì hải quan “đè cổ” ra lập biên bản, xử
phạt hành vi trèn thuế. Ngược lại nếu doanh nghiệp đi kiện (doanh nghiệp
đúng) thì hải quan cười trừ hay nhận lỗi do trình độ nghiệp vụ của anh em còn
hạn chế.
- Theo Luật Thuế hiện hành, thuế suất đối với hàng nhập khẩu gồm
thuế suất thông thường, thuế suất đặc biệt và thuế suất ưu đãi đặc biệt. Hiện
nay, ta đã ký hiệp định thương mại với nhiều nước trong đó đều có các điều
khoản ưu đãi tối huệ quốc về thuế nhập khẩu nhưng không ghi rõ từng mặt
hàng với số lượng cụ thể. Vì vậy, trên thực tế chưa áp dụng được thuế suất ưu
đãi và thuế suất ưu đãi đặc biệt với bất kỳ nước nào.

IV. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ & GIẢI PHÁP

17

Khi gia nhập WTO, Việt Nam đã phải tiến hành cắt giảm thuế Nhập khẩu theo

cảm và có ảnh hưởng đến mở việc rộng quan hệ thương mại quốc tế.
18

Khi áp dụng giá tính thuế theo hiệp định GATT/WTO thì gian lận qua giá sẽ
trở nên phổ biến nhất là trong điều kiện quan hệ thương mại quốc tế mở rộng.
Tổng cục Hải quan đã có thông báo về một số trường hợp gian lận qua giá rất
nghiêm trọng như: có doanh nghiệp nhập khẩu xe BMW khai báo giá tính thuế tại
cửa khẩu vào khoảng 22.000-25.00 USD, trong khi đó giá bán ô tô loại này ở thị
trường trong nước lên đến 200.000-220.000 USD hoặc có doanh nghiệp nhập khẩu
rượu Remy Martin 40
0
loại VSOP 70cl/chai do Pháp sản xuất chỉ khai báo giá tính
thuế là 1USD/chai, thậm chí có lúc chỉ khai 0,4USD/chai.
Thông thường gian lận qua giá là đơn vị nhập khẩu sẽ kê khai giá tính thuế
thấp hơn giá mua thực tế, do đó, việc nắm bắt thông tin liên quan đến thương mại
quốc tế như giá mua, giá bán các mặt hàng trên thế giới, các mối quan hệ của
người mua, người bán để từ đó hình thành nên một ngân hang dữ liệu về giá của
hàng hoá nhập khẩu để cơ quan hải quan có thể tham vấn so sánh, đối chiếu với
giá do nhà nhập khẩu khai báo là quan trọng. Căn cứ vào giá tham vấn sẽ có thể
phát hiện ra các trường hợp gian lận về thuế nhập khẩu của doanh nghiệp nhập
khẩu hoặc phát hiện sự móc ngoặc giữa của nhân viên hải quan với người nhập
khẩu để chiếm đoạt tiền thuế của Nhà nước.
Nguồn thông tin chủ yếu được cơ quan Hải quan sử dụng trong việc kiểm tra
đối chiếu là từ giá chào hang trên internet, giá thị trường, hệ thống thông tin về dữ
liệu giá trong nội bộ ngành Hải quan. Tuy nhiên, việc xây dựng ngân hang dữ liệu
về giá của hang hoá nhập khẩu của ngành Hải Quan chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra,
dữ liệu về giá còn sơ sài, chưa cập nhật kịp thời nên gây trở ngại cho công tác
tham vấn về giá.
Hiện nay Việt Nam đã hội nhập sâu rộng trong quan hệ thương mại quốc tế thì
số lượng, chủng loại hang hoá nhập khẩu ngày càng đa dạng nên áp lực càng tăng

mã số theo danh mục HS ngày càng bộc lộ nhiều điểm chưa thống nhất. Chỉ một
sản phẩm nhưng có thể các cơ quan chức năng lại xác định khác nhau. Để hạn chế
tình trạng cùng một loại hang hoá nhập khẩu nhưng lại có nhiều cách áp mã khác
nhau thì biểu thuế nhập khẩu cần được cập nhật bổ sung chi tiết, cụ thể phù hợp
với danh mục HS trong điều kiện hang hoá nhập khẩu ngày càng nhiều.
* Kê khai nộp thuế:
Với mục tiêu khuyến khích xuất khẩu, khuyến khích sản xuất, thu hút vốn đầu
tư, trong thời gian tới nên nâng cao hiệu quả cơ chế tự khai tự nộp thuế. Theo kinh
nghiệm của các nước tiên tiến, nếu thực hiện triệt để cơ chế tự khai, tự nộp thuế sẽ
nâng cao ý thức tự giác, đề cao trách nhiệm trước pháp luật của đối tượng nộp
thuế, giảm bớt chi phí thôgn báo thuế, rút ngắn thủ tục hành chính, tạo khung pháp
lý minh bạch và thuận tiện đối với hoạt động XNK, bởi vì một trong những yếu tố
gây cản trở lớn và làm giảm đi tính hấp dẫn là sự kém minh bạch trong chính sách
và việc mất quá nhiều thời gian trong việc giải quyết các vấn đề thủ tục hành
chính, đây là thuộc nhóm vấn đề các rào cản vô hình và tạo ra những chi phí cơ
hội, chi phí không đoán trước đối với doanh nghiệp. Cùng với thực hiện cơ chế tự
khai tự nộp đòi hỏi phải tăng cường công tác tuyên truyền, cung cấp các dịch vụ
hỗ trợ thuế, tăng cường công tác thanh tra kiểm tra việc chấp hành chính sách thuế
để ngăn ngừa và trừng phạt kịp thời các trường hợp lợi dụng cơ chế tự khai tự nộp
để gian lận thuế.
20

Theo quy định hiện hành, để khuyển khích nhập khẩu máy móc, thiết bị,
nguyên vật liệu… phục vụ cho sản xuất xuất khẩu quy định hiện hành cho phép
một số trường hợp đơn vị nhập khẩu được nợ thuế nhập khẩu từ 30 đến 270 ngày,
thực chất đây là hình thức Nhà nước tài trợ cho doanh nghiệp thông quan phương
thức cho vay vốn nhưng không thu lãi để doanh nghiệp tạm thời không mất đi một
khoản vốn lưu động để nộp thuế Nhập khẩu, quy định này đã tạo điều kiện thuận
lợi cho doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, một số
doanh nghiệp đã lợi dụng quy định này để nhập khẩu hàng hoá về tiêu thụ rồi bỏ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status