Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình theo luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ THỊ THU HÀ
QUAN HỆ TÀI SẢN
GIỮA CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH
THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Thị Mai Hiên HÀ NỘI – 2010

1
MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục


trong gia đình
15
1.2.2.
Phân loại chế độ pháp lý về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong
gia đình
20
1.2.2.1.
Dựa trên chủ thể của từng loại quan hệ tài sản
21
1.2.2.2.
Dựa trên đối tượng của từng loại quan hệ tài sản
24
1.3.
Khái quát một số nét cơ bản về quan hệ tài sản giữa các thành viên
trong gia đình trong pháp luật các nước
25

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ QUAN
HỆ TÀI SẢN GIỮA CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA
ĐÌNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
32
2.1.
Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình trong Luật Hôn nhân
32 2
và gia đình năm 2000
2.1.1.
Quan hệ sở hữu

2.1.3.2.
Quan hệ thừa kế giữa bố mẹ và con
74
2.1.3.3.
Quan hệ thừa kế giữa ông bà và các cháu, giữa anh chị em, giữa các
thành viên khác trong gia đình
75
2.2.
Thực tiễn thi hành, áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của toà
án đối với các vụ việc liên quan đến tài sản giữa các thành viên trong
gia đình
76

Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH VỀ QUAN HỆ
TÀI SẢN GIỮA CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH
TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000
82
3.1.
Một số định hướng của việc hoàn thiện chế định về quan hệ tài sản
giữa các thành viên trong gia đình
82
3.2.
Một số giải pháp hoàn thiện chế định về quan hệ tài sản giữa các
thành viên trong gia đình trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
84
3.2.1.
Sửa đổi, bổ sung một số chế định về quan hệ sở hữu giữa các thành
viên trong gia đình trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
84
3.2.1.1.

91
3.2.1.9.
Trường hợp một bên vợ hoặc chồng bị tòa án tuyên bố là đã chết nay
quay trở về
93
3.2.2.
Sửa đổi, bổ sung một số chế định về quan hệ cấp dưỡng giữa các
thành viên trong gia đình trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
94
3.2.3.
Sửa đổi, bổ sung một số chế định về quan hệ thừa kế giữa các thành
viên trong gia đình trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
97
3.2.3.1.
Điều kiện thừa kế
97
3.2.3.2.
Thừa kế giữa ông bà và cháu trường hợp cháu chết trước ông, bà
98

KẾT LUẬN
100

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
102
đặc biệt là trong mỗi gia đình - tế bào của xã hội - và hạn chế được nhiều mâu
thuẫn tiềm tàng. 5
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, Đảng và Nhà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy
định liên quan đến quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình như:
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ luật Dân sự, Luật
Hôn nhân và Gia đình Với việc ban hành Bộ luật Dân sự năm 2005 và các
đạo luật khác về dân sự, các quan hệ tài sản trong lĩnh vực hôn nhân gia đình
được xác định là một bộ phận thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự.
Những quy định của pháp luật hiện hành đã phần nào đáp ứng được yêu cầu,
đòi hỏi của xã hội trong giai đoạn hiện nay nhưng vẫn còn tản mạn, chưa
đồng bộ. Quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về việc chia tài sản chung
của vợ chồng đã tạo ra sự biệt lập về tài sản vợ và chồng nhưng lại chưa có
quy định về cơ sở tài sản chung cho gia đình khi thực hiện mục tiêu chung.
Bên cạnh đó, đặc thù chế độ sở hữu tài sản trong gia đình thuộc các nhóm dân
cư khác nhau ở thành phố và nông thôn chưa được ghi nhận. Một số nội dung
đang nổi cộm hiện nay nhưng chưa được quy định cụ thể như: quan hệ tài sản
giữa các thành viên trong gia đình có yếu tố nước ngoài; đối tượng sở hữu tài
sản là sở hữu trí tuệ, là cổ phiếu, cổ phần trong doanh nghiệp, lợi nhuận kinh
doanh, quyền sử dụng đất Đặc biệt, trong điều kiện Việt Nam đang trong
nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập
nền kinh tế quốc tế thì các quy định của pháp luật nói chung và các quy định
của pháp luật về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình còn nhiều
nội dung chồng chéo, thiếu cụ thể, không rõ ràng gây khó khăn trong quá trình
thực hiện.
Xuất phát từ lý luận và yêu cầu thực tiễn nêu trên, việc nghiên cứu
quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình theo Luật Hôn nhân và Gia

Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách tổng
quát quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình, được thể hiện trên ba
khía cạnh: quan hệ sở hữu, quan hệ cấp dưỡng và quan hệ thừa kế. Cũng như
thể hiện cả ba nhóm sở hữu, cấp dưỡng, thừa kế đó trên mối qua hệ giữa vợ 7
và chồng, giữa bố mẹ và con, giữa ông bà và cháu, anh chị em và các thành
viên trong gia đình. Các nghiên cứu cũng mới dừng lại ở việc phân tích các
quy định pháp luật hiện hành tại luật dân sự, luật hôn nhân và gia đình qua
các thời kỳ. Chính vì vậy các giải pháp góp phần hoàn thiện các chế định
quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình trong luật hôn nhân và gia
đình chưa được đề cập theo một hệ thống toàn diện.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình được đề cập trong
nhiều văn bản pháp luật, luận văn tập trung nghiên cứu các quy định trong
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
Quan hệ tài sản (quan hệ sở hữu, quan hệ cấp dưỡng và quan hệ thừa
kế) giữa các thành viên trong gia đình được thể hiện ở: mối quan hệ giữa vợ
và chồng, mối quan hệ giữa bố mẹ và con, mối quan hệ giữa ông bà và cháu,
anh chị em, những người thân trong gia đình.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
4.1. Mục đích
Đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định về quan hệ tài sản giữa các
thành viên trong gia đình trong Luật Hôn nhân và gia đình, góp phần hoàn
thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, vì một mục tiêu
xã hội vững mạnh của mọi người dân
4.2. Nhiệm vụ
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về quan hệ tài sản giữa các thành
viên trong gia đình.

hóa, khái quát hóa, lịch sử. Các phương pháp được sử dụng để tổng hợp và
phân tích hệ thống các quan điểm, các nghiên cứu về quan hệ tài sản giữa các
thành viên trong gia đình trong hệ thống pháp luật của một số quốc gia trên 9
thế giới và Việt Nam cũng như quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia
đình qua các thời kỳ phát triển xã hội.
* Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra, quan sát, thống kê được sử dụng trong quá trình
mô tả thực tiễn áp dụng pháp luật hiện hành trong hoạt động xét xử quan hệ
tài sản giữa các thành viên trong gia đình của ngành Tòa án.
6. Những đóng góp mới của luận văn
6.1. Về lý luận
- Hệ thống hóa lý luận về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia
đình
- Phân tích, hệ thống hóa các quy định của pháp luật hiện hành về quan
hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình tại một số nước trên thế giới
6.2. Về thực tiễn
- Nhận diện thực trạng các quy định của pháp luật hiện hành tại Việt
Nam về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình, thực tiễn áp dụng
trong hoạt động xét xử của ngành Tòa án.
- Xây dựng hệ thống giải pháp hoàn thiện các quy định về quan hệ tài
sản giữa các thành viên trong gia đình trong Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong
gia đình.

trong cuộc sống. Dưới góc độ pháp lý, các quan hệ mà con người tham gia
nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần cho mình được gọi là quan hệ nhân thân, các
quan hệ nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất gọi là quan hệ tài sản.
Tài sản là một khái niệm thay đổi với thời gian vì vậy quan hệ tài sản
giữa các thành viên trong xã hội cũng không phải bất biến mà luôn thay đổi
với sự phát triển của kinh tế - xã hội. Quan hệ tài sản trước hết là quan hệ xã
hội giữa người với người về tài sản. Nhưng khi xã hội phát triển, của cải vật
chất bắt đầu dư thừa, xuất hiện tư tưởng chiếm giữ làm của riêng - đó cũng là 12
giai đoạn sơ khai của chế độ tư hữu tài sản thì cũng nẩy sinh nhu cầu được ghi
nhận những tài sản của mình bằng một chế định pháp luật. Khi được pháp luật
điều chỉnh thì quan hệ tài sản trở thành quan hệ pháp luật.
Các thành viên trong gia đình
Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 định nghĩa: "Gia đình là
tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc
do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với
nhau" [25]. Như vậy, có thể hiểu thành viên trong gia đình là những người có
quan hệ do hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng.
Gia đình có vị trí quan trọng đối với sự phát triển của một xã hội và
từng thành viên trong gia đình. Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình có tốt
thì xã hội mới tốt. Gia đình là môi trường gìn giữ và phát huy văn hóa truyền
thống, là nơi giáo dục nề nếp, giúp hình thành nhân cách con người. Gia đình
là môi trường đầu tiên mà mỗi con người hoàn thiện thể chất và tinh thần,
chuẩn bị hành trang hòa nhập với cộng đồng, với đời sống xã hội. Hôn nhân
và gia đình là những hiện tượng phát sinh trong quá trình phát triển của xã hội
loài người. Hiện tượng này cũng chịu sự tác động của các điều kiện kinh tế,
xã hội như các hiện tượng khác. Khi xuất hiện Nhà nước, sự liên kết của các
cá nhân nhằm xây dựng gia đình được coi là sự kiện pháp lý làm phát sinh,

những nhu cầu chung trong gia đình và khi họ tách ra thì có nghĩa họ đã tạo
lập một gia đình mới với những thành viên mới nhưng đồng thời vẫn có nghĩa
vụ với những thành viên trong gia đình vốn có bởi sự ràng buộc nói trên,
thêm vào đó là sự ràng buộc với những thành viên trong gia đình mới. Trong
cuộc sống, mỗi thành viên trong gia đình đều có những quan hệ xã hội khác,
ngoài quan hệ hôn nhân và gia đình. Họ tham gia vào các quan hệ như giao
dịch, trao đổi, mua bán với nhiều người như mua đồ dùng cho gia đình, bản
thân họ có được thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh với người khác,
được cho tặng riêng một tài sản nào đó Tất cả những quan hệ này diễn ra
hàng ngày trong cuộc sống gia đình do đó đòi hỏi cần có quy định nào đó về
cách xử sự chung cho phù hợp để các quan hệ này không gây ảnh hưởng đến
lợi ích của các thành viên trong gia đình cũng như của người thứ ba. Cụ thể, 14
Nhà nước cần ban hành các quy phạm pháp luật để điều chỉnh hành vi của các
thành viên trong gia đình, đó là quy tắc xử sự chung và được tổng hợp thành
chế định về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình.
Như vậy, quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình là chế
định thể hiện mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình về sở hữu tài sản
và phương thức thực hiện quyền sở hữu tài sản của các thành viên trong gia
đình. Ở đây, quan hệ tài sản không chỉ thể hiện tài sản thuộc về ai, do ai
chiếm hữu, sử dụng mà còn bao gồm cả việc dịch chuyển tài sản từ chủ thể
này sang chủ thể khác. Mỗi quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình
có những phương thức thực hiện quyền sở hữu riêng. Phương thức này có thể
là ước định (do các bên tự thỏa thuận) hay pháp định (do pháp luật quy định).
Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, các thành viên trong gia đình có thể thỏa
thuận mức đóng góp về tiền, tài sản, công sức… để đảm bảo cuộc sống chung
của cả gia đình, họ có thể phân công lao động cho phù hợp với từng vị trí, vai
trò của mỗi thành viên trong gia đình nhằm mục đích duy trì gia đình nói

Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình bao gồm ba khía
cạnh:
- Quan hệ sở hữu: Quan hệ sở hữu chỉ là một nội dung của quan hệ tài
sản nhưng là nội dung quan trọng, quyết định những nội dung sau của quan hệ
tài sản. Quan hệ sở hữu giữa các thành viên trong gia đình bao gồm hai nhóm:
quan hệ sở hữu đối với tài sản chung và quan hệ sở hữu đối với tài sản riêng.
Tùy thuộc vào chế độ xã hội khác nhau mà hai hình thức sở hữu này có thể
cùng được thừa nhận.
- Quan hệ thừa kế: Vợ chồng được thừa kế tài sản của nhau, con được
thừa kế tài sản của cha mẹ và ngược lại, anh chị em được thừa kế tài sản của
nhau khi không còn hàng thừa kế 1, cháu được thừa kế tài sản của ông bà và
ngược lại khi không có 2 hàng thừa kế trên.
- Quan hệ cấp dưỡng: Cấp dưỡng là một thuật ngữ pháp lý được sử
dụng trong pháp luật hôn nhân và gia đình để thể hiện mối quan tâm ràng 16
buộc về quyền và nghĩa vụ giữa những người không sống chung với nhau
nhưng đang có hoặc đã có quan hệ gia đình trong việc bảo đảm cuộc sống cho
những người chưa thành niên, người đã thành niên nhưng trong tình trạng mất
hoặc bị giảm sút khả năng lao động, không có thu nhập và không có tài sản
hoặc tuy có nhưng không đủ để bảo đảm cuộc sống của mình. Cấp dưỡng còn
là biện pháp chế tài đối với người có hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ
nuôi dưỡng.
Khái niệm này không chỉ nêu rõ mối quan hệ giữa các chủ thể của
quan hệ cấp dưỡng, thể hiện bản chất của quan hệ cấp dưỡng mà còn đặt cơ
sở lý luận cho việc quy định nội dung của chế định cấp dưỡng và hoàn thiện
luật về cấp dưỡng
1.1.2.2. Đặc điểm của quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình
Các thành viên trong gia đình cũng là thành viên của xã hội. Vì vậy,

quan hệ pháp luật dân sự khác khi tham gia các quan hệ này.
- Về mặt chủ thể: các bên phải có quan hệ hôn nhân và gia đình, có
nghĩa là ngoài việc phải đáp ứng các yêu cầu là chủ thể của quan hệ pháp luật
dân sự nói chung như đủ năng lực hành vi dân sự còn phải đáp ứng các điều
kiện cụ thể của quan hệ hôn nhân và gia đình (độ tuổi, không phạm phải điều
cấm, ý chí tự nguyện của các bên ). Đây là đặc điểm riêng có ở quan hệ hôn
nhân và gia đình và mối quan hệ ràng buộc giữa các thành viên trong gia đình
là mối quan hệ chỉ duy nhất tồn tại ở quan hệ này.
- Xuất phát từ vị trí, vai trò của gia đình đối với sự tồn tại và phát triển
của xã hội, cho nên các nhà làm luật khi quy định về quan hệ tài sản giữa các
thành viên trong gia đình đều bắt đầu từ mục đích trước tiên và chủ yếu nhằm
bảo đảm lợi ích chung của gia đình, trong đó có lợi ích của từng thành viên
trong gia đình. Sở hữu đối với tài sản chung là sở hữu theo phần. Sở hữu
chung theo phần là quyền sở hữu đối với một tài sản cụ thể thuộc các đồng sở
hữu chủ theo từng phần, nghĩa là một sở hữu chủ có một phần quyền nhất 18
đình đối với tài sản tương ứng với tỷ lệ phần quyền đối với toàn bộ tài sản.
Việc mỗi người trực tiếp sử dụng phần tài sản thực tế không làm thay đổi bản
chất quan hệ sở hữu chung theo phần. Việc mỗi cá nhân chiếm hữu, sử dụng
và định đoạt tài sản chung như thế nào được giải quyết theo nguyên tắc thỏa
thuận giữa các bên và theo quy định của pháp luật. Phần quyền đối với tài sản
thuộc sở hữu chung là khách thể quyền sở hữu, có thể là đối tượng của các
loại giao dịch như: mua bán, trao đổi, tặng cho, thừa kế và có thể là đối
tượng, khách thể quyền yêu cầu của các chủ nợ. Mỗi đồng sở hữu chủ có thể
tự mình định đoạt phần tài sản của mình trong khối tài sản chung nhưng vì
việc định đoạt này luôn ảnh hưởng đến lợi ích của các đồng sở hữu khác nên
sự định đoạt đó phải do pháp luật quy định. Việc tách phần quyền tài sản cho
một trong các thành viên được tiến hành khi điều đó không làm ảnh hưởng

khác nhau.
Có thể nói, từ xa xưa, gia đình truyền thống của Việt Nam là mẫu gia
đình gồm nhiều thế hệ chung sống dưới một mái nhà, gia đình này không chỉ
có những người cùng huyết thống như vợ - chồng, cha mẹ và con cái mà còn
bao gồm nhiều thành phần khác cùng sống chung như dâu, rể, con chung, con
riêng, con nuôi, ông bà nội ngoại… Với kiểu gia đình nhiều thế hệ như vậy
rất dễ xảy ra xung đột, mâu thuẫn do sự chênh lệch về tuổi tác, cách sống,
cách suy nghĩ… dẫn đến nhiều việc đáng tiếc xảy ra như đùn đẩy trách nhiệm
chăm sóc, phụng dưỡng bố mẹ già, không ai chăm lo cho cuộc sống chung
của cả gia đình, ý thức trách nhiệm của mỗi thành viên bị sao nhãng… Trước
thực tế này cần xác định trách nhiệm pháp lý cho các thành viên cùng chung
sống trong gia đình để điều chỉnh một cách toàn diện và đầy đủ hơn mối quan
hệ giữa các thành viên trong gia đình. Bởi, trong gia đình, ngoài mối quan hệ
tình cảm thì giữa các thành viên trong gia đình còn có những mối quan hệ
khác rất quan trọng, liên quan đến các quyền và nghĩa vụ pháp lý về mặt nhân
thân và tài sản. Các thành viên trong gia đình cần quan tâm, chăm sóc, giúp
đỡ lẫn nhau, sự chia sẻ trách nhiệm của mỗi thành viên trong gia đình sẽ làm 20
cho quan hệ gia đình ngày càng gắn bó, tạo nên một gia đình hòa thuận, tiến
bộ.
Bên cạnh tình cảm, sự quan tâm dành cho nhau, mỗi thành viên trong
gia đình cũng cần có trách nhiệm đóng góp công sức, tiền và tài sản khác để
duy trì cuộc sống chung của cả gia đình trên cơ sở phù hợp với thu nhập, khả
năng thực tế của mỗi người. Ở đây, sự bình đẳng của các thành viên được đề
cập rõ thông qua trách nhiệm đối với việc duy trì cuộc sống chung của gia
đình. Mỗi thành viên trong gia đình cần ý thức được trách nhiệm vật chất của
mình đối với cuộc sống chung của gia đình thì mới có thể duy trì được gia
đình đó, đảm bảo hạnh phúc gia đình. Đi đôi với trách nhiệm là quyền của

gia đình nói riêng. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành 3 đạo luật hôn nhân và
gia đình tương ứng với từng giai đoạn lịch sử là năm 1959, 1986 và 2000.
Phát huy tinh thần kế thừa và phát triển, nội dung quan hệ tài sản giữa các
thành viên trong gia đình đã có những thay đổi lớn trong từng văn bản luật.
Các văn bản sau đã kế thừa hầu hết những quy định tiến bộ của văn bản trước
và có những sửa đổi, bổ sung nhất định và cần thiết đáp ứng nhu cầu phát
triển của xã hội về lĩnh vực này. Cụ thể ở một số nét cơ bản sau:
- Do những nguyên nhân khách quan và điều kiện lịch sử cụ thể nên
Luật Hôn nhân và gia đình trước đây (năm 1959) mới chỉ chú trọng đến vấn
đề kết hôn, ly hôn, quan hệ giữa cha, mẹ và con cái; còn nhiều vấn đề trong
lĩnh vực hôn nhân và gia đình chưa được Luật điều chỉnh. Kế thừa và phát
huy nguyên tắc dân chủ, tiến bộ của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959,
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã ra đời trong những năm đầu của thời
kỳ đổi mới đã đề cập đến nhiều vấn đề khác như quan hệ giữa ông bà và cháu,
giữa anh chị em trong gia đình.
- Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa và quá trình chủ động hội nhập kinh tế, quốc tế và khu vực, trong
lĩnh vực hôn nhân và gia đình nhiều nhân tố mới đã xuất hiện ở Việt Nam.
Quan hệ giữa ông bà, cha mẹ và con cái không còn mang tính áp đặt như
trước. Nam nữ bình đẳng hơn trong quan hệ gia đình, đặc biệt phụ nữ ngày 22
càng có nhiều cơ hội tham gia các công tác xã hội. Trẻ em được quan tâm hơn
và được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, bên cạnh những điều đã đạt được thì
cũng còn nhiều vấn đề nổi cộm thể hiện mặt trái của cơ chế thị trường. Con
người sống ích kỷ hơn, cá nhân hơn, xu hướng phủ nhận giá trị lịch sử, chay
theo lợi ích kinh tế, thương mại mà ít coi trọng những truyền thống gia đình
thể hiện quan quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình ngày càng rời rạc, thiếu
gắn kết đặc biệt thiếu sự quan tâm của con cháu đối với ông bà, cha mẹ, anh

một trong hai người đối với người thứ ba. Chỉ áp dụng chế độ sở hữu chung
hợp nhất đối với tài sản của vợ chồng.
- Trong hệ thống pháp luật Việt Nam có sự thừa nhận tính độc lập và
phân định tài sản giữa cha mẹ và các con. Do đó, giữa cha mẹ và các con nếu
có quan hệ sở hữu chung thì đó là sở hữu chung theo phần. Các con còn ở
chung với cha mẹ có quyền có tài sản riêng. Vì vậy, khi cha mẹ mở tài khoản
cho các con hoặc gửi tiền ngân hàng mang tên con mặc dù đó là thu nhập của
hai người trong thời kỳ hôn nhân thì nó vẫn được coi là tài sản thuộc sở hữu
riêng của người con đó mà không tính vào tài sản của cha mẹ. Khi ly hôn, tài
sản đó không bị tính vào tài sản chung của vợ chồng để chia.
- Chế độ sở hữu trong hộ gia đình, nhất là hộ nông dân có những đặc
điểm riêng của nó. Bộ luật Dân sự đã quy định về tài sản chung của hộ và
trách nhiệm dân sự của hộ gia đình khẳng định chế độ sở hữu chung hợp nhất
của hộ gia đình (Điều 108, 109). Tài sản chung của hộ gia đình bao gồm:
Tài sản do các thành viên tạo lập nên.
Tài sản được tặng cho chung.
Quyền sử dụng đất hợp pháp.
Các tài sản khác mà các thành viên thỏa thuận là tài sản chung của hộ.

Trích đoạn Trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân còn tồn tạ Trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên chết trước hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết Trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi có lý do chính đáng khác Trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không có văn bản thỏa thuận Trường hợp toàn bộ tài sản chung của vợ chồng đã được phân chia, phát sinh các khoản mục chi tiêu chung khác
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status