ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT ĐÀO THỊ HẠNH
TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ CHỒNG
THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN
VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM NĂM 2000
Chuyên ngành: Luật dân sự
Mã số: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS HÀ THỊ MAI HIÊN
,
, , .
:
-
-
-
,
.
Tác giả Đào Thị Hạnh MỤC LỤC
oan
n
2.1.1. Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm tài sản mà mỗi bên vợ,
chồng có từ trước khi kết hôn 33
2.1.2. Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm tài sản mà vợ, chồng được
thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân 34
2.1.3. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm đồ dùng, tư trang cá nhân 36
2.1.4. Tài sản riêng của vợ chồng gồm những tài sản mà vợ chồng được
chia khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 40
2.1.5. Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm những tài sản mà vợ, chồng
thỏa thuận là tài sản riêng của một bên 41
2.2. Quyền của vợ, chồng đối với tài sản riêng 41
2.2.1. Ủy quyền cho người khác sử dụng, quản lý 42
2.2.2. Chuyển nhượng tài sản có đền bù 42
2.2.3. Nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung 43
2.3. Nghĩa vụ được thực hiện bằng tài sản riêng của vợ, chồng 45
2.3.1. Nghĩa vụ gắn với tài sản thừa kế riêng hoặc cho riêng 46
2.3.2. Nghĩa vụ xác lập nhằm bảo quản hoặc tu bổ tài sản riêng 47
2.3.3. Nghĩa vụ gắn với giao dịch 49
2.3.4. Nghĩa vụ cấp dưỡng 51
2.3.5. Nghĩa vụ do vợ chồng tự mình xác lập 53
2.4. Hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ chồng 54
Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ CHỒNG 56
3.1. Chế độ tài sản riêng của vợ chồng trong thực tiễn xét xử 563.1.1. Những thuận lợi cơ bản trong việc áp dụng chế độ tài sản riêng
của vợ chồng vào thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân 56
3.1.2. Một số khó khăn cơ bản trong áp dụng chế độ tài sản riêng của
vợ chồng vào thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân 59
3.2. Một số vấn đề về áp dụng chế độ tài sản riêng của vợ chồng
TAND: Tòa án nhân dân
TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao
UBND: Ủy ban nhân dân
XHCN: Xã hội chủ nghĩa 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình được xây dựng dựa trên sợi dây
liên kết của quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng, trong đó quan hệ
hôn nhân là quan hệ nền tảng của gia đình. Trong quan hệ vợ chồng, bên cạnh
đời sống tình cảm, tình yêu thương lẫn nhau không thể không quan tâm tới
đời sống vật chất. Quan hệ tài sản giữa vợ, chồng là một trong những tiền đề
giúp vợ chồng xây dựng cuộc sống hạnh phúc, đáp ứng những nhu cầu về vật
chất, tinh thần cho gia đình. Xuất phát từ bản chất quan hệ nhân thân và quan
hệ tài sản gắn liền với các chủ thể nhất định, không thể tách rời và đền bù
ngang giá. Chính sự ràng buộc này làm nảy sinh các quyền và nghĩa vụ pháp
lý giữa các chủ thể với nhau.
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa,
diện mạo của gia đình đã thay đổi đáng kể, chức năng kinh tế của gia đình đã
chuyển từ sản xuất sang tiêu dùng. Cùng với điều đó, việc mỗi người có tài
sản riêng để đặt cơ sở vật chất cho các hoạt động nghề nghiệp và các giao
chồng. Điều đó cho thấy các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng luôn là loại
việc phức tạp, thường gặp nhiều khó khăn, vướng mắc khi áp dụng, hạn chế
và có nhiều bất cập trong công tác thi hành án liên quan đến chế độ tài sản của
vợ chồng, đặc biệt là chế độ tài sản riêng của vợ, chồng. Nguyên nhân có nhiều,
trong đó phải kể đến một số qui định của Luật HN và GĐ về chế độ tài sản riêng
của vợ chồng mới chỉ dừng lại ở tính chất định khung, nguyên tắc chung. Các
văn bản qui định chi tiết thi hành và hướng dẫn áp dụng chế độ tài sản của vợ
chồng còn thiếu, chưa cụ thể, chưa theo kịp với sự phát triển kinh tế - xã hội
trong điều kiện nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN).
Với đề tài: "Tài sản riêng của vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và
gia đình Việt Nam năm 2000", luận văn làm sáng tỏ những qui định của pháp 3
luật điều chỉnh chế độ tài sản riêng của vợ chồng, cơ sở lý luận và thực tiễn của
việc qui định về chế độ tài sản riêng của vợ chồng và chỉ rõ những điểm mới,
hợp lý và bất hợp lý, chưa thống nhất, chưa cụ thể của pháp luật điều chỉnh về
chế độ tài sản riêng của vợ chồng. Từ đó có các kiến nghị xác đáng nhằm hoàn
thiện chế độ tài sản riêng của vợ chồng theo Luật HN và GĐ Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Với đề tài nghiên cứu về chế độ tài sản riêng của vợ chồng, luận văn
muốn làm sáng tỏ nội dung cơ bản của các qui định của Luật HN và GĐ về
chế độ tài sản riêng của vợ chồng, các nguyên tắc và căn cứ xác định tài sản
riêng của vợ chồng, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với khối tài sản
riêng đó. Trong luận văn đã sử dụng một số tài liệu tham khảo như: "
"
của Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp; "
" của Nguyễn Mạnh Bách, “
của TS Nguyễn
Văn Cừ - Nhà xuất bản Tư pháp năm 2008, "Cng
định trong pháp luật.
- Nghiên cứu các qui định của pháp luật hiện hành về chế độ tài sản
riêng của vợ chồng. Với nhiệm vụ này, luận văn đi sâu phân tích nội dung
các qui định về chế độ tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật HN và GĐ năm
2000 và những ngành luật có liên quan (Bộ luật Dân sự 2005, Luật Đất đai
2003 ); tìm hiểu về mục đích, cơ sở của việc qui định các điều luật điều
chỉnh chế độ tài sản riêng của vợ chồng; phân tích tính kế thừa và phát triển,
cũng như những điểm mới qui định về chế độ tài sản riêng của vợ chồng
theo Luật HN và GĐ năm 2000 để có cách hiểu đúng nhất, phù hợp với khoa
học pháp lý về chế độ tài sản riêng của vợ chồng. Đồng thời, qua việc phân
tích nội dung chế độ tài sản riêng của vợ chồng trong luật thực định, luận
văn cũng đưa ra những điểm bất cập, chưa hợp lý, thiếu tính khoa học của 5
các qui định đó, để làm cơ sở cho các kiến nghị nhằm hoàn thiện chế độ tài
sản riêng của vợ chồng theo Luật HN và GĐ năm 2000.
- Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về chế độ tài sản riêng của vợ
chồng qua hoạt động xét xử của ngành Tòa án giải quyết các tranh chấp từ
quan hệ HN và GĐ liên quan trực tiếp về vấn đề tài sản riêng giữa vợ và
chồng. Qua đó, đánh giá về những thành công và hạn chế của việc áp dụng
pháp luật về chế độ tài sản riêng của vợ chồng;
- Trên cơ sở phân tích nội dung và thực tiễn áp dụng chế độ tài sản
riêng của vợ chồng theo luật thực định, luận văn nêu một số kiến nghị đề xuất
hướng sửa đổi, bổ sung các qui định trong Luật HN và GĐ năm 2000 nhằm
hoàn thiện chế độ tài sản riêng của vợ chồng.
Từ những nhiệm vụ trên đây, luận văn được nghiên cứu chủ yếu trong
phạm vi luật thực định qui định về chế độ tài sản riêng của vợ chồng.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài thông qua phương pháp khoa học của chủ nghĩa Mác -
trình bày với những điểm mới sau đây:
- Xây dựng và phân tích khái niệm chế độ tài sản riêng của vợ chồng.
Theo tôi, chế độ tài sản riêng của vợ chồng là nhóm qui phạm pháp luật điều
chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa vợ và chồng; giữa vợ chồng với
người thứ ba trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản thuộc sở hữu
riêng của vợ hoặc chồng.
- Phân tích sự cần thiết pháp luật phải qui định chế độ tài sản riêng của
vợ chồng (tính khách quan). Các đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của chế độ tài sản
riêng của vợ chồng đối với sự ổn định, phát triển của gia đình và xã hội.
- Các loại nghĩa vụ về tài sản riêng của vợ, chồng được hiểu như thế
nào và cách áp dụng.
- Qua việc phân tích thực tiễn áp dụng luật về chế độ tài sản riêng của
vợ chồng, luận văn chỉ rõ những vấn đề bất cập, không hợp lý, chưa bảo đảm 7
được tính khoa học về những qui định của luật thực định khi điều chỉnh chế
độ tài sản riêng của vợ chồng. Từ đó, nêu các kiến nghị hoàn thiện các qui
định về chế độ tài sản riêng của vợ chồng theo pháp luật hiện hành.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Nội dung của luận văn có ý nghĩa thiết thực cho mọi cá nhân, đặc biệt là
cho các cặp vợ chồng tìm hiểu các qui định về chế độ tài sản riêng của vợ,
chồng; quyền và nghĩa vụ cụ thể của vợ, chồng đối với những loại tài sản này.
Từ đó, tạo cơ sở pháp lý vững chắc và thống nhất trong quá trình thực hiện và
áp dụng chế độ tài sản riêng của vợ chồng theo Luật HN và GĐ Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương, 10 mục.
9
pháp năm 1992 (Điều 58) và Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005 ghi nhận, phù
hợp với nguyên tắc tự định đoạt về tài sản của công dân. Vợ, chồng trước hết
với tư cách là công dân, có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài
sản thuộc quyền sở hữu của mình và nhà nước bảo hộ quyền sở hữu đó.
Tài sản theo nghĩa từ điển học là "ca ci, vt cht dng vo mc ch
sn xut v tiu dng", còn theo Điều 163 BLDS 2005 thì: “ti sn bao gm
vt, tin, giy t gi v cc quyn ti sn". Theo khoản 1 Điều 33 Luật HN
và GĐ 2000 “c quyn s dng, nh ot
” mà không phụ thuộc vào ý chí của người kia. Những thu nhập hợp
pháp của mỗi bên vợ, chồng là tài sản riêng của vợ, chồng. Tuy nhiên, lý
thuyết này không thể áp dụng cho vợ chồng trong thực tiễn do tính chất đặc
biệt của quan hệ hôn nhân được xác lập đó là tính cộng đồng.
Mục đích của hôn nhân đó là sau khi kết hôn, hai vợ chồng cùng chung
sức, chung ý chí trong việc tạo dựng tài sản, xây dựng gia đình hòa thuận,
hạnh phúc vì sự ổn định và phát triển của gia đình và xã hội. Tính chất và
mục đích của quan hệ hôn nhân được xác lập đòi hỏi cần phải có một qui chế
pháp lý đặc biệt nhằm điều chỉnh vấn đề tài sản riêng của vợ chồng. Ngoài ra,
việc quy định quyền sở hữu riêng về tài sản của vợ chồng còn góp phần ngăn
chặn hiện tượng kết hôn nhằm vào lợi ích kinh tế mà không nhằm xác lập
quan hệ hôn nhân [1]. Do vậy, Nhà nước bằng pháp luật phải qui định về chế
độ tài sản riêng của vợ chồng nhằm mục đích:
Th pháp luật quy định về chế độ tài sản riêng của vợ chồng là cơ
sở để vợ chồng thực hiện các quyền và nghĩa vụ về tài sản riêng của mình
trong, sau thời kỳ hôn nhân; như việc luật qui định các căn cứ, nguồn gốc,
phạm vi các loại tài sản riêng của vợ, chồng. Theo đó, vợ, chồng thực hiện
quyền sở hữu (quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt) đối với
từng loại tài sản theo luật định nhằm bảo đảm lợi ích chung của gia đình hoặc
11
các nghĩa vụ về tài sản độc lập, bảo vệ quyền lợi của người thứ ba là người có
quyền. Vì vậy, pháp luật của một số nước thường qui định chế độ tài sản của
vợ chồng phải được niêm yết, thông báo tại nơi cư trú của vợ chồng khi đăng
ký kết hôn. Vợ chồng có thể lựa chọn chế độ tài sản ước định (theo sự thỏa
thuận bằng văn bản của vợ chồng từ trước khi kết hôn); hoặc lựa chọn chế độ
tài sản pháp định (nếu vợ chồng không ký kết hôn ước từ trước khi kết hôn thì
pháp luật cho rằng cặp vợ chồng đó đã mặc nhiên lựa chọn chế độ tài sản theo
luật định). Tùy theo phong tục, tập quán, điều kiện kinh tế - xã hội ở mỗi quốc
gia mà luật pháp các nước có qui định về chế độ tài sản của vợ chồng theo
luật định là khác nhau.
Th , việc qui định chế độ tài sản riêng của vợ chồng trong pháp luật
là cơ sở pháp lý để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh
chấp về tài sản giữa vợ chồng với nhau và giữa vợ chồng với bên thứ ba là
người có quyền lợi liên quan khác.
Chế độ tài sản riêng của vợ chồng là một bộ phận cấu thành nên chế
định chế độ tài sản của vợ chồng. Nếu đặt trong mối tương quan với khái
niệm chế độ tài sản của vợ chồng thì khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng là
khái niệm gốc, khái niệm chế độ tài sản riêng của vợ chồng là khái niệm phái
sinh từ khái niệm đó. Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Cừ thì: “
.
Như vậy, chế độ tài sản riêng của vợ chồng được những nhà làm luật
dự liệu do tính chất, mục đích của quan hệ hôn nhân được xác lập, thể hiện
như là yếu tố khách quan, phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội, phong
tục, tập quán, truyền thống văn hóa để Nhà nước qui định trong pháp luật về
13
phát triển của xã hội, Nhà nước bằng pháp luật khi qui định về chế độ tài sản
riêng của vợ chồng đều xuất phát từ mục đích trước tiên và chủ yếu nhằm bảo
đảm quyền lợi của gia đình, trong đó có lợi ích cá nhân của vợ, chồng. Theo luật
định, dù vợ chồng lựa chọn loại chế độ tài sản nào thì cũng đều phải có nghĩa vụ
đóng góp tiền bạc, nhằm bảo đảm đời sống chung của gia đình, nghĩa vụ
chăm sóc lẫn nhau và nuôi dưỡng, giáo dục các con. Tuy nhiên, để đảm bảo
quyền công nhân, quyền tự định đoạt của cá nhân luật quy định vợ chồng có
quyền lựa chọn nhập hay không nhập tài sản riêng của mình vào khối tài sản
chung của vợ chồng. Đây là quy định có tính chất “mở” và quy định quyền sở
hữu riêng của vợ chồng một cách cụ thể hơn Luật HN và GĐ năm 1986.
Th ba, chế độ tài sản riêng của vợ chồng có nguồn gốc từ sở hữu tư
nhân trong luật dân sự (sở hữu của cá nhân với tài sản hợp pháp của mình bao
gồm thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản
xuất, vốn, hoa lợi, lợi tức, ), là một trong những nội dung của năng lực chủ
thể của cá nhân vợ, chồng nhằm đảm bảo cho sự độc lập và bình đẳng vợ
chồng trong quan hệ giữa họ với nhau và với người thứ ba. Sau khi kết hôn,
tư cách vợ chồng không làm tổn hại đến tư cách thành viên độc lập của mỗi
người trong xã hội.
Th t, chế độ tài sản riêng của vợ chồng cũng mang những đặc thù riêng
trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ thể. Vợ chồng với tư cách
là chủ thể của khối tài sản riêng có quyền tự mình định đoạt khối tài sản riêng
ấy mà không phụ thuộc ý chí của người khác. Tuy nhiên, với chế độ tài sản riêng
của vợ chồng trong một số trường hợp quyền năng này của họ bị hạn chế. Theo
khoản 5 Điều 33 Luật HN và GĐ 2000 thì vợ chồng là chủ sở hữu tài sản
riêng của mình nhưng khi hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản riêng của vợ
chồng đã được đưa vào sử dụng là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc
định đoạt tài sản riêng của vợ chồng trong trường hợp liên quan đến tài sản này
15
nước ghi nhận (dù là chế độ tài sản theo thỏa thuận - chế độ tài sản ước định,
hay theo các căn cứ pháp luật - chế độ tài sản pháp định) đều thực hiện vai trò
nhằm điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ chồng và với người thứ ba, tạo điều
kiện để vợ chồng có những cách thức "x s" theo qui định của pháp luật và
phù hợp với đạo đức xã hội.
Th hai, trong lĩnh vực HN và GĐ, Luật HN và GĐ điều chỉnh các quan
hệ về nhân thân và tài sản phát sinh giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con, giữa các
thành viên khác trong gia đình. Trong đó, Luật HN và GĐ điều chỉnh trước tiên
và chủ yếu nhóm các quan hệ nhân thân, nó quyết định tính chất và nội dung của
nhóm quan hệ tài sản (khi quan hệ vợ chồng được xác lập, lúc đó mới phát sinh
các quyền và nghĩa vụ tài sản giữa vợ chồng như quyền và nghĩa vụ đối với khối
tài sản sở hữu riêng, quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng lẫn nhau, quyền đối với sở
hữu chung hợp nhất, quyền thừa kế tài sản của nhau giữa vợ và chồng, ).
Tuy vậy, việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tài sản giữa các chủ thể là
thành viên của gia đình có tác dụng vô cùng quan trọng, đảm bảo các quyền và
nghĩa vụ nhân thân được thực hiện trên thực tế. Ví như vợ, chồng thực hiện
quyền sở hữu đối với tài sản riêng nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống chung của gia
đình, từ đó nghĩa vụ yêu thương, chăm sóc lẫn nhau giữa vợ chồng, nghĩa vụ
thương yêu, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con mới được thực hiện phù
hợp với đạo đức xã hội và qui định của pháp luật. Trên cơ sở đó xây dựng, củng
cố chế độ HN và GĐ XHCN; xây dựng gia đình XHCN thực sự dân chủ, hòa
thuận, hạnh phúc, bền vững - là tế bào, nền tảng của xã hội, tạo điều kiện cho xã
hội bình ổn và phát triển.
Th ba, Chế độ tài sản riêng của vợ chồng định rõ về thành phần, nguồn
gốc tài sản và quyền hạn, nghĩa vụ của vợ, chồng đối với những tài sản mà vợ,
chồng sở hữu; quyền sở hữu của vợ chồng đối với từng loại tài sản đó. Nhằm đảm
bảo khi vợ chồng thực hiện quyền sở hữu của mình, vì lợi ích chung của gia đình,
17
Trong hệ thống pháp luật về HN và GĐ của Nhà nước XHCN, khi qui
định về chế độ tài sản của vợ chồng đều ghi nhận trước hết quyền bình đẳng
của vợ chồng về tài sản, bảo đảm quyền sở hữu của vợ chồng đối với các loại
tài sản giữa vợ, chồng. Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng với nhau về mọi phương
diện là một trong các nguyên tắc cơ bản theo hệ thống pháp luật về HN và GĐ
của Nhà nước XHCN.
Chế độ tài sản riêng của vợ chồng được qui định trong pháp luật nhằm
xác định các loại tài sản riêng trong quan hệ giữa vợ chồng và gia đình. Khi
hai bên nam, nữ kết hôn với nhau trở thành vợ chồng, chế độ tài sản (riêng,
chung) của vợ chồng được dự liệu với những thành phần tài sản của vợ
chồng. Dù vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản ước định hay chế độ tài sản theo
luật định, dù là chế độ tài sản cộng đồng hay theo tiêu chuẩn phân sản thì
các loại tài sản của vợ chồng luôn được pháp luật qui định rõ.
Chế độ tài sản riêng của vợ chồng được sử dụng với ý nghĩa là cơ sở
pháp lý để bảo đảm và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ chồng về tài sản
hoặc với người thứ ba có quan hệ, nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các
bên vợ, chồng hoặc người thứ ba tham gia giao dịch liên quan đến tài sản
riêng của vợ chồng.
Chế độ tài sản riêng của vợ chồng là cơ sở quan trọng đảm bảo tính hợp
pháp trong hoạt động công chứng đối với những giao dịch liên quan đến tài
sản riêng của vợ chồng.
Chế độ tài sản riêng của vợ chồng là cơ sở pháp lý để các cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền giải quyết vụ việc khi có phát sinh tranh chấp liên quan
về tài sản riêng giữa vợ, chồng hoặc với người thứ ba có liên quan.
Trong thực tế, để đáp ứng quyền lợi của gia đình, nghĩa vụ nuôi dưỡng,
chăm sóc, giáo dục các con trong suốt thời kỳ hôn nhân, vợ, chồng phải ký
rất nhiều hợp đồng với những người khác liên quan đến tài sản riêng của vợ