1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Ngô (Zea mays.L) là cây lương thực quan trọng đối với con người có
tiềm năng năng suất cao được trồng phổ biến ở nhiều nước. Trên thế giới, ngô
xếp thứ ba về diện tích và thứ nhất về năng suất, sản lượng các cây lấy hạt và
sử dụng dưới nhiều hình thức khác nhau. Hiện nay, 49% sản lượng ngô được
sử dụng làm thức ăn gia cầm,12% làm thức ăn động vật, 25% làm lương thực
thực phẩm cho con người, 13% trong tinh bột và các ngành khác, 1% là làm
hạt giống. Ước tính đến năm 2020 sản lượng ngô trên thế giới sẽ tăng từ
820,7 triệu tấn lên 837 triệu tấn so với năm 2010.
Trong nền nông nghiệp Việt Nam, ngô là cây màu quan trọng nhất, đứng
vị trí thứ hai sau lúa, được trồng nhiều ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, đa
dạng về mùa vụ và hình thức canh tác. Kể từ thập niên 90 đến nay, cuộc cách
mạng ngô lai đã làm thay đổi căn bản nghề trồng ngô ở nước ta, đưa nước
Việt Nam đứng trong hàng ngũ các nước trồng ngô tiên tiến trong khu vực
Châu Á (Trần Hồng Uy,1997)[1]
Những năm gần đây, sản xuất ngô của nước ta đã có sự phát triển mạnh
mẽ về diện tích, năng suất và sản lượng. Tỷ lệ tăng trưởng bình quân trong 20
năm qua về diện tích là 7,5%, năng suất là 6,7% và sản lượng là 24,5%
(TS.Bùi Mạnh Cường, 2007)[2]. Đặc biệt việc khai thác tiềm năng năng suất
thông qua ưu thế lai và đưa nhanh các giống ngô lai vào sản xuất trên quy mô
rộng lớn là một trong những đóng góp quan trọng làm tăng sản lượng lương
thực cả nước.
Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghệ sinh học
(CNSH) đã tạo ra những thay đổi kì diệu trong nhiều lĩnh vực. Trong nông
nghiệp CNSH được coi là phương tiện giải quyết các vấn đề khó khăn mà
2
công tác chọn tạo giống truyền thống khó có thể thực hiện được hoặc nếu có
thực hiện được thì mất nhiều thời gian.
Trong công tác chọn tạo giống ngô lai, các kỹ thuật như tạo dòng thuần
giữa các dòng, phân nhóm và dự đoán ưu thế lai nhờ sử dụng chỉ thị SSR
- Địa điểm nghiên cứu: Bộ môn Công nghệ Sinh học - Viện nghiên cứu
Ngô - Đan Phượng - Hà Nội.
- Thời gian từ 23/02/2011 đến 22/05/2011
4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC
Cây ngô (Zea mays.L) thuộc chi Zea, phân họ ngô (Maydeae), họ phụ
hòa thảo (Panicoideae), họ hòa thảo (Grmaineae), bộ hòa thảo (Grmainale),
lớp một lá mầm (Cosmobionia) và có bộ nhiễm sắc thể 2n=20. Cây ngô là cây
hàng năm với hệ thống rễ chùm phát triển, là loài cây giao phấn có hoa đơn
tính cùng gốc.
1.1. Vai trò của cây ngô trong nền kinh tế
Trong lịch tiến hóa của khoảng một nghìn loài cây trồng phổ biến nhất
trên trái đất hiện nay, chưa có loài cây trồng nào phát triển nhanh chóng và có
nhiều công dụng cho con người như cây ngô (Cao Điểm Đắc, 1988)[3].
Trước hết ngô là cây ngũ cốc nuôi sống gần 1/3 dân số toàn cầu. Toàn
thế giới sử dụng 21% sản lượng ngô làm lương thực. Ngô là lương thực chính
của người dân khu vực Đông Nam Phi, Tây Phi, Nam Á… Ngô là thành phần
quan trọng bậc nhất trong thức ăn chăn nuôi. Hầu như 70% chất tinh trong
thức ăn chăn nuôi tổng hợp là từ ngô, 71% sản lượng ngô thế giới làm thức ăn
chăn nuôi (Ngô Hữu Tình,2003)[8].
Ngô còn là một loại hàng hóa xuất khẩu của ngành nông nghiệp, trên thế giới
hàm lượng ngô xuất nhập khẩu khoảng 70 triệu tấn. Bên cạnh đó ngô còn đem lại
nhiều lợi nhuận cho người dân. Theo thống kê của ISAAA, ở Philippine, có ít nhất
200 ngàn người nông dân hưởng lợi từ cây ngô CNSH trong năm 2008. Nghiên cứu
về tác động của giống ngô này đến kinh tế - xã hội cho thấy trong niên vụ 2003-2004,
ngô CNSH làm thu nhập cho người dân thêm 7482 peso/ha (khoảng 135USD) trong
mùa khô, còn trong mùa mưa thì thu nhập tăng thêm là 7080 peso/ha (khoảng
125USD). Sử dụng số liệu năm 2008, các nhà khoa học đã tính được rằng ngô Bt có
thể cho thu nhập cao hơn từ 5-14% trong mùa mưa và từ 20-48% trong mùa khô
Thế giới 715,5 699,4 713,5 793,6 797,8 812,4 820,7
Mỹ 299,9 282,3 267,5 331,2 307,1 333,0 318,5
Trung Quốc 130,3 139,4 151,6 152,3 165,9 158,0 168,0
Braxin 35,0 41,7 51,0 58,6 51,0 56,1 51,0
(Nguồn USDA (2010) [23])
6
Mỹ luôn là nước chiếm vị trí hàng đầu thế giới về diện tích và sản lượng ngô,
đồng thời cũng là nước có năng suất cao nhất. Hiện nay 100% diện tích trồng ngô
của Mỹ là ngô lai, năng suất ngô tăng từ 1,5 tấn/ha năm 1930 lên đến 10,34 tấn /ha
vào năm 2009, với tổng sản lượng 332,01 triệu tấn (FAO 2009). Và Mỹ đang phấn
đấu đến năm 2030, năng suất ngô sẽ tăng gấp đôi hiện nay, lên >18 tấn/ha.
Năm 2009 diện tích trồng ngô ở các nước Đông Nam Á là 8,212 triệu ha, năng
suất bình quân đạt 31,3 tạ / ha với tổng sản lượng 25,67 triệu tấn (USDA, 2010) [23].
Kể từ khi ngô được phát hiện ở châu Mỹ và du nhập vào các khu vực khác
trên thế giới, trong một khoảng thời gian dài năng suất chỉ đạt khoảng 0,1-0,2
tấn/ha. Nhưng đến nay nhờ những ứng dụng rộng rãi nhiều tiến bộ khoa học về kĩ
thuật di truyền chọn giống, các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến, cơ giới hoá…
đặc biệt là khai thác và sử dụng ưu thế lai ở ngô trong quá trình chọn giống.
1.2.2. Tình hình nghiên cứu và sản xuất ngô ở Việt Nam
Trong nền nông nghiệp Việt Nam, cây ngô là cây màu quan trọng, cây
lương thực thứ hai sau lúa nước. Ngô được đưa vào Việt Nam cách đây
khoảng 300 năm, mặc dù cây lương thực đứng thứ hai nhưng do truyền
thống trồng lúa nước nên ngô vẫn chưa được chú trọng, không phát huy
được tiềm năng của nó (Ngô Hữu Tình, 2009)[9]. Ngày nay, sản xuất ngô đã
được phổ biến rộng khắp cả nước từ vùng núi cao đến đồng bằng, trung du.
Năm 2009, diện tích ngô cả nước là 1086.8 nghìn ha, năng suất đạt 40,8
tạ/ha và sản lượng ngô là 4431,8 nghìn tấn. Nhưng 9 tháng đầu năm 2009,
Việt Nam đã phải nhập hơn 0,8 triệu tấn ngô, do nhu cầu dùng ngô làm thức
ăn chăn nuôi tăng mạnh.
Hiện nay thị phần giống ngô lai của Việt Nam chiếm khoảng trên 60%,
quân 60 tạ/ha và sản lượng 9,0 triệu tấn, nhầm đảm bảo cung cấp nguyên liệu
cho chế biến thức ăn chăn nuôi và các nhu cầu khác trong nước, từng bước
tham gia xuất khẩu.
8
Bảng 1.3. Dự kiến diện tích, năng suất và sản lượng ngô cả nước
đến năm 2020
Năm Diện tích
( ha )
Năng suất
( tạ / ha)
Sản lượng
Triệu tấn
2005 1043 300 36,0 3,7
2010 1200 000 42,0 5,4
2015 1300 000 50,0 6,5
2020 1500 000 60,0 7,8
Nguồn: Chiến lược pháp triển cây ngô đến năm 2020[14]
-Cải thiện thu nhập và đời sống cho người sản xuất ngô, nâng cao hiệu
quả sử dụng đất, lao động và vốn đầu tư.
-Đẩy mạnh nghiên cứu chọn tạo giống ngô lai đảm bảo đủ sức cạnh tranh
trên thị trường trong nước và xuất khẩu.
-Đảm bảo cung cấp giống ngô lai Việt Nam chiếm 51-55% thị phần ngô
lai của cả nước nhằm chủ động hạt giống với giá bán phù hợp với khả năng
đầu tư của nông dân.
-Nghiên cứu các giải pháp về khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả
sản xuất ngô, tăng thu nhập cho người trồng ngô, bảo vệ môi trường sinh thái,
góp phần xây dựng nền nông nghiệp bền vững.
1.3. Cơ sở khoa học
1.3.1. Ưu thế lai (ƯTL) - lịch sử nghiên cứu, ứng dụng trong chọn tạo
giống ngô
trên đồng ruộng, rút ngắn thời gian đánh giá. Phương pháp này không phụ
thuộc vào môi trường và mùa vụ, do đó tiết kiệm được rất nhiều thời gian và
công sức cho các nhà tạo giống.
10
1.3.2. Đa dạng di truyền và dự đoán ưu thế lai theo phương pháp truyền
thống
1.3.2.1. Đa dạng di truyền của cây ngô:
Sự đa dạng di truyền của cây ngô được thể hiện ở tất cả các tính trạng của
cây, bông cờ và bắp. Các nghiên cứu cho thấy: Ngô có mức độ sai khác về di
truyền rất lớn trong cùng một quần thể hoặc các quần thể chéo nhau. Các
nghiên cứu ở mức độ phân tử cũng cho thấy mức độ đa dạng của ngô cao hơn
3-10 lần so với những loài thân thảo khác (Buckler và cs, 2001) [17]. Các nhà
chọn giống đã dựa vào sự đa dạng tự nhiên để lựa chọn các giống /loài tốt, từ
đó cải tiến nhằm nâng cao chỉ tiêu về số lượng và chất lượng và chất lượng
của giống, ở ngô, năng suất hiện tại cao gấp 55 lần so với năng suất của các
giống ngô tổ tiên (Buckler và cs,2001)[17].
1.3.2.2. Đa dạng di truyền và dự đoán ưu thế lai theo phương pháp truyền
thống
Các nghiên cứu về hiện tượng ƯTL cho thấy sự khác biệt di truyền của
bố và mẹ có ảnh hưởng rất lớn tới sự biểu hiện ƯTL của các tổ hợp lai đơn,
Shull G,H (1948) đã kết luận: ƯTL sinh lý của một cơ thể được biểu hiện qua
sự phát triển nhanh, qua chiều cao và ƯTL có mối tương quan thuận với độ
không giống nhau trong giao tử mà từ đó con lai được hình thành. Sự khác
nhau giữa giao tử càng nhiều thì sự biểu hiện ƯTL ở con lai càng lớn (trích
theo Ngô Hữu Tình và cs, 1997) [7].
Cây ngô là loài cây giao phấn điển hình, quần thể rất đa dạng và dị hợp tử
về kiểu gen, vì thế những thông tin về đa dạng di truyền của các nguồn gen là
rất cần thiết và vô cùng hữu ích trong công tác đánh giá dòng, phân nhóm
ƯTL và dự đoán tổ hợp lai ưu tú có khả năng cho năng suất cao.
Đa dạng di truyền có tầm quan trọng hết sức to lớn trong chọn tạo giống
Chỉ thị RFLP (đa hình chiều dài các phân đoạn cắt giới hạn) được sử
dụng rộng rãi trong đánh giá tính đa dạng di truyền, nghiên cứu quá trình tiến
hóa và phân loại các loài của nhiều nhóm thực vật và trong lập bản đồ di
truyền. Chỉ thị RFLP được sử dụng như là mẫu chuẩn để xác định sự có mặt
hay thiếu vắng các đoạn nhiễm sắc thể nhất định. Khả năng theo dõi quá trình
di truyền các đoạn nhiễm sắc thể cho phép sử dụng kĩ thuật RFLP trong chọn
tạo giống cây trồng (Lê Trần Bình và cs, 1997).
Khả năng phân biệt của chỉ thị RFLP đã được nghiên cứu rộng rãi ở ngô,
như xác lập mối quan hệ với năng suất và UTL, đánh giá đa dạng di truyền.
Chỉ thị này không những phát hiện được những cá thể dị hợp tử và đồng hợp
tử mà còn phân biệt được cá thể đồng hợp tử trội và đồng hợp tử lặn. Vì thế
mà phương pháp này còn được gọi là chỉ thị đồng trội. Tuy nhiên, phương
pháp này có quy trình thực hiện phức tạp, tốn kém, yêu cầu số lượng DNA lớn,
chất lượng DNA cao, sử dụng chất phóng xạ gây nguy hiểm cho người. Do đó
xu hướng sử dụng các chỉ thị phân tử đơn giản hơn trên cơ sở nhân bản DNA
bằng kĩ thuật PCR.
* Chỉ thi RAPD (Random Amplified Polymorphic DAN)
Kỹ thuật RAPD cho phép phát hiện đa hình các đoạn DNA được nhân
ngẫu nhiên. Kỹ thuật này đã được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau như
lập bản đồ di truyền liên kết, đánh dấu gen, xác định giống cây trồng… Ở Việt
Nam chỉ thị RAPD cũng đã được Ts.Bùi Mạnh Cường và cs (2000,2003)
nghiên cứu và ứng dụng trong công tác chọn tạo giống ngô lai.
Kỹ thuật RAPD có ưu điểm là quy trình phân tích đơn giản, nhanh, rẻ
tiền và cho phép tiến hành với số lượng mẫu lớn, an toàn với người thực hiện,
tuy nhiên phương pháp này có hạn chế là mức độ phát hiện sự đa hình thấp.
* Chỉ thị AFLP (Amplified Length Polymorphism)
13
Phương pháp này dựa trên nguyên tắc PCR, DNA nhân được cắt bằng
enzym giới hạn thành nhiều đoạn có kích thước khác nhau, sau đó được gắn
với các đoạn nucleotide ngắn (adapter) vào hai đầu nhờ enzym ligase. Mồi của
chịu hạn”. Một số tác giả đã có những công trình nghiên cứu đa dạng di truyền
các nguồn vật liệu ngô bằng chỉ thị SSR phục vụ nghiên cứu về khả năng kết
hợp và xác định cặp lai:
Nguyễn Thị Phương Đoài (2004)[6] đã sử dụng chỉ thị SSR để nghiên
cứu đa dạng di truyền và dự đoán ưu thế lai của 30 dòng ngô có nguồn gốc
khác nhau. Kết quả xác định được khoảng cách di truyền của các dòng ngô
nghiên cứu biến động từ 0,47-0,86 và được phân thành 3 nhóm ưu thế lai.
Phan Xuân Hào và cs (2004)[11] đã sử dụng 41 mồi SSR để phân tích đa
dạng di truyền của 88 dòng ngô ( 51 dòng có nguồn gốc Việt Nam, 1 dòng từ
Mỹ và 36 dòng từ CIMMYT). Trong đó có 16 dòng QPM ( Quality Protein
Maize), 6 dòng tham khảo từ AMBIONET. Kết quả xác định được sơ đồ phả
hệ giữa các dòng nghên cứu, phân chia bộ dòng thành 2 nhóm lớn. Nghiên
cứu cũng kết luận những dòng rút ra từ cùng một nguồn thì đứng gần nhau
trong sơ đồ phả hệ, các dòng QPM đứng gần nhau trong nhóm thứ cấp.
Hiện nay sử dụng chỉ thị phân tử trong nghiên cứu đa dạng di truyền và
dự đoán ưu thế lai ở ngô đặc biệt là chỉ thị SSR đang được Viện Nghiên cứu
Ngô tiếp tục nghiên cứu và phát triển. Với những ưu điểm vượt trội và lớn
mạnh của ngành CNSH, việc áp dụng phương pháp này là cần thiết để hỗ trợ
phương pháp truyền thống trong công tác tạo giống ngô lai, góp phần nhanh
chóng xác định được các tổ hợp ngô lai có ưu thế lai cao phục vụ sản xuất.
15
1.3.4. Tình hình nghiên cứu đa dạng di truyền và dự đoán ưu thế lai cây
ngô ở Việt Nam
Những năm trước đây, các nhà khoa học đã nghiên cứu đa dạng di truyền
của các dòng ngô thuần và dự đoán ƯTL chỉ dựa vào các đặc điểm hình thái
như chiều cao cây, chiều cao đóng bắp, …
Mai Xuân Triệu (1998) [4] đã sử dụng phương pháp phân tích nhóm của
Mahalanobis để phân loại dòng thuần theo sự cách biệt về di truyền (phân loại
dưới loài) của 24 dòng ngô có nguồn gốc khác nhau của Viện nghiên cứu Ngô,
Kết quả 24 dòng đã được phân thành 4 nhóm.
10 C143 CP999 20 C738 Pacific747
Thiết bị và hóa chất sử dụng trong nghiên cứu:
- Thiết bị thí nghiệm:
Máy PCR 9700, máy quang phổ kế Ultrospec, máy chạy điện di gel
agarose và polyacrylamide, máy khuấy từ gia nhiệt, máy li tâm, máy đo pH,
máy soi chụp gel, tủ lạnh sâu (-80 độ C), tủ lạnh, tủ đông, lò vi sóng… và các
trang thiết bị khác sử dụng trong nghiên cứu.
17
Dụng cụ thí nghiệm: pipet, ống eppendof, đầu côn các loại, lược gel,
ống bơm gel….
- Hóa chất tách chiết DNA:
Bao gồm các loại hóa chất như EDTA, CTAB, chloroform, Isoamyl
alcohol, Isopropanol, Amino acetic.
Đệm tách chiết DNA của mẫu lá: CTAB 2%( Tris-HCl 10mM, pH 8,0,
EDTA 10mM, NaCl 100mM, beta-Mercatoethanol 0,5%,), TE( 10mM Tris-
HCl, 1mM EDTA, pH 8,0 )
- Hóa chất chạy phản ứng PCR:
+ Đệm PCR 1X( 10mM Tris-HCl, 1,5 mM MgCl
2
, 5mM KCl) hoặc đệm
PCR 1X của Quiagen.
+ MgCl
2
của Fementas, Invitrogen.
+ dNTPs của Fementas, Invitrogen.
+ Mồi: hệ thống mồi SSR dùng trong nghiên cứu được cung cấp bởi
AMBIONET (bảng 2.2).
+ Marker 1kb
+ 2Tap polymerase của Fementas
+ H
3,04
12 Phi72 AAG 4,00
13 Phi108411 AGCT 9,06
14 Phi109642 ACGG 2,0
15 nc133 GTGTC 2,05
16 Phi06 ACG 4,11
17 Phi1304 (TCGA)4 8,02
18 Umc1143 AAAAT 6,0
19 Phi87 ACC 5,06
20 Phi423796 AGATG 6,01
2.1.2. Nội dung nghiên cứu
- Tách chiết DNA của tổ hợp lai ưu tú 20 dòng ngô thuần Việt Nam trong
phòng thí nghiệm của bộ môn Công nghệ sinh học - Viện nghiên cứu Ngô.
19
- Kiểm tra đánh giá độ thuần của các dòng ngô nghiên cứu ở mức độ
phân tử.
- Dùng chỉ thị phân tử SSR đánh giá khoảng cách di truyền, và xây
dựng sơ đồ phả hệ của 20 dòng ngô thuần Việt Nam của Viện nghiên cứu ngô
- Đan Phượng - Hà Nội.
- Xác định mức độ đa hình, phân nhóm ưu thế lai và dự đoán các tổ hợp
lai ưu tú của 20 dòng ngô thuần Việt Nam của Viện nghiên cứu ngô - Đan
Phượng - Hà Nội.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp phân tích đa dạng di truyền trong phòng thí nghiệm
Tách DNA tổng số
Mỗi dòng lấy 10 cây đại diện, lấy lá non lúc cây được 3 – 4 lá. Quy
trình tách triết theo phương pháp Saghai Maroof và cs (1984) [15].
Các bước tiến hành:
- Nghiền lá tươi thành thể nhuyễn, bổ sung 2-3ml đệm chiết CTAB,
chuyển sang ống eppendorf 1,5ml, đảo đều mẫu nhẹ nhàng.
là chỉ số đo được ở bước sóng λ = 280nm)
phản ánh độ tinh sạch của mẫu. Tỷ lệ này nằm trong khoảng 1,8-2,0 thì DNA
được coi là sạch.
Chạy phản ứng PCR (PCR- Polymerase Chain Reaction):
Bảng 2.3: Thành phần của 1 phản ứng PCR
Dung dịch gốc Nồng độ sử dụng
Thể tích (µl)
Nước cất vô trùng
Đệm PCR 10X
MgCl
2
25mM
dNTP 10mM
Primer 5uM
Tap DNA polymerase
5U/µl
DNA khuôn 10ng/ µl
-
1X
2,0mM
0,25mM
0,25mM
0,5U
10ng
5,6
1,0
0,8
1,0
0,5
0,1
Sản phẩm PCR và thang chuẩn sau khi biến tính và sốc nhiệt trong đá
lạnh được đưa vào chạy điện di trên gel polyacrylamide 4,5% và sau đó
nhuộm bạc để biểu hiện sản phẩm điện di.
Gel polyacrylamide gồm các thành phần:
+ Dung dịch acrylamide 4,5%: 60ml
+ Dung dịch APS 10% : 60ml
+ Dung dịch TEMED :60ml
Phương pháp nhuộm bạc:
- Chuẩn bị dung dịch nhuộm: hòa tan 1g AgNO
3
trong 1lit nước cất hai lần
khử ion, bổ sung 1,5ml dung dịch fomaldehyde 37%, để lạnh sâu trước khi dùng
- Chuẩn bị dung dịch hiện: hòa tan 30g Na
2
CO
3
trong 1 lit nước cất hai
lần khử ion, làm lạnh ở nhiệt độ -20°C. Trước khi dùng thì bổ sung 1,5ml
dung dịch fomaldehyde 37% + 200ml sodium thiosulfate 10mg/ml.
- Sau khi điện di xong, cố định tấm kính bám gel bằng dung dịch cố định
gel ( Glacial acetic acid 10%) trong 20 phút, lắc nhẹ.
22
- Lấy bản gel ra khỏi dung dịch cố định, rửa lại bằng nước cất hai lần
trong 5 phút
- Nhuộm gel bằng dung dịch nhuộm trong thời gian 30 phút, lắc nhẹ
- Bản gel được rửa lại bằng nước cất hai lần trong 5-10 giây
- Đưa bản gel vào dung dịch hiện, lắc nhẹ cho đến khi các băng xuất hiện,
sau đó đổ trực tiếp dung dịch cố định (đã dùng ở trên) lên trên bản gel để
dừng phản ứng hiện, duy trì trong 4-6 phút.
- Rửa sạch lại bằng nước cất hai lần và để bản gel khô ở nhiệt độ phòng
Phân nhóm bằng phương pháp UPGMA (Unweighted Pair
Group Meyhod with Arithmetical Averages),
24
CHƯƠNG 3:
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Kết quả tách chiết DNA tổng số
DNA của các dòng ngô nghiên cứu được chúng tôi tách chiết theo quy
trình của Saghai- Maroof và cs (1984)[21] với một vài thay đổi nhỏ phù hợp
với điều kiện của phòng thí nghiệm. Sau đó, sản phẩm DNA được kiểm tra độ
tinh sạch và nồng độ trên máy đo quang phổ và điện di trên gel agarose 1%,
Kết quả thu được trình bày ở bảng 3.1
Bảng 3.1: Độ tinh sạch và nồng độ DNA của các dòng ngô
TT Tên dòng Độ tinh sạch DNA
(OD
260
/ OD
280
)
Nồng độ DNA
(µg/,ml)
1 C1
1,90 2,96
2 C24 1,96 2,90
3 C40
1,98 3,09
4 C43 1,94 3,00
5 C45
1,98 2,83
6 C84 1,91 2,64
7 C115
bằng phương pháp điện di trên gel agarose 1%. Kết quả điện di được thể hiện
trên hình 3.1
Hình 3.1:kết quả điện di kiểm tra sản phẩm DNA tổng số
Hình 3.1 cho thấy các mẫu DNA đều xuất hiện một băng duy nhất, rõ
nét, điều đó chứng tỏ DNA tách chiết đạt độ tinh sạch cao.
Như vậy, sản phẩm tách chiết DNA tổng số của 20 dòng ngô nghiên
cứu đáp ứng được yêu cầu về chất lượng và số lượng, đảm bảo đạt tiêu chuẩn
để sử dụng cho các bước tiếp theo của thí nghiệm.