ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ BÍCH NGỌC
TỘI CÔNG NHIÊN CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2010 MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng MỞ ĐẦU
1
Chương 1: KHÁI NIỆM VÀ DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI CÔNG
40
2.1.
Đường lối xử lý tội công nhiên chiếm đoạt tài sản theo luật
hình sự Việt Nam
40
2.1.1.
Phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản không có các tình tiết
định khung hình phạt
40
2.1.2.
Các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt
49
2.1.3.
Hình phạt bổ sung
56
2.2.
Phân biệt tội công nhiên chiếm đoạt tài sản với một số tội
phạm theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999
57
2.2.1.
Phân biệt tội công nhiên chiếm đoạt tài sản với tội cướp giật
tài sản
57
2.2.2.
Phân biệt tội công nhiên chiếm đoạt tài sản với tội cưỡng đoạt
tài sản
61
2.2.3.
Phân biệt tội công nhiên chiếm đoạt tài sản với tội cướp tài sản
66
96
3.2.1
Tiếp tục hoàn thiện Bộ luật hình sự để pháp điển hóa về tội
công nhiên chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn công tác điều tra,
truy tố, xét xử
96
3.2.2.
Tăng cường hướng dẫn, giải thích những quy định của Bộ luật
hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung về tội công nhiên chiếm
đoạt tài sản
100
3.2.3.
Nâng cao hiệu quả công tác áp dụng pháp luật hình sự và đấu
tranh phòng, chống tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
101
KẾT LUẬN
109
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
112
Danh mục các bảng
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
tình hình tội phạm nói chung, các tội xâm phạm sở hữu nói riêng có nhiều
diễn biến phức tạp, gây ra hậu quả và tác hại lớn cho xã hội, trong đó có tội
công nhiên chiếm đoạt tài sản. Loại tội phạm này không chỉ tăng về số lượng
mà cả về đối tượng phạm tội. Phương thức, thủ đoạn phạm tội cũng ngày càng
tinh vi, xảo quyệt hơn, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội ngày càng lớn.
Tình trạng đó đã và đang gây ra không ít những khó khăn, thách thức đối với
các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong công tác điều tra,
truy tố, xét xử cũng như trong chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh và
phòng chống tội phạm, bảo đảm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý
công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm
oan người vô tội để góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích
của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự
pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Hơn nữa, do các quy định của luật hình sự Việt Nam về tội công nhiên
chiếm đoạt còn chưa minh bạch, chưa bảo đảm tính hệ thống, đồng bộ, nhất là
2
thiếu quy phạm định nghĩa và một số quy định liên quan đến các yếu tố định
tội và định khung hình phạt nên dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, thậm chí
không thống nhất trong nhận thức về dấu hiệu pháp lý, đường lối xử lý và thực
tiễn định tội danh đối với tội phạm này. Do vậy, trong một số vụ án cụ thể đã có
tình trạng giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có nhận
thức khác nhau về việc định tội và định khung hình phạt khi tiến hành xử lý hình
sự đối với hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản. Cá biệt, có trường hợp còn
nhầm lẫn trong việc xác định tội danh, áp dụng không đúng pháp luật, thậm
chí không làm sáng tỏ được ranh giới giữa tội phạm và các hành vi vi phạm
pháp luật khác hoặc không phân biệt được sự khác nhau giữa tội công nhiên
chiếm đoạt tài sản với một số tội phạm có tính chất chiếm đoạt khác trong Bộ
luật hình sự 1999 như: tội cướp tài sản (Điều 133), tội cướp giật tài sản (Điều
136), tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 135); tội trộm cắp tài sản (Điều 138).
nhiên chiếm đoạt tài sản còn được nghiên cứu và làm sáng tỏ trong một số bài
viết đăng trên Tạp chí chuyên ngành luật như: Tội công nhiên chiếm đoạt tài
sản, của ThS. Mai Bộ, Tạp chí Toà án nhân dân, số 11, 2007; Một số vấn đề
cần hoàn thiện đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, của ThS. Nguyễn
Văn Trượng, Tạp chí Kiểm sát, số 24, 2008…Các bài nghiên cứu trên đã nhận
diện và làm sáng tỏ một số vấn đề về khái niệm, đặc trưng, các dấu hiệu pháp
lý của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản và thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử
hình sự; phân tích, đối chiếu và phân biệt với một số tội phạm trong Bộ luật
hình sự 1999 và đề xuất giải pháp hoàn thiện…
Từ thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự liên quan đến các tội phạm thuộc
nhóm tội xâm phạm sở hữu, có nhiều bài viết đề cập đến tội công nhiên chiếm
đoạt tài sản ở góc độ so sánh, đối chiếu với một số tội phạm khác có nhiều điểm
tương đồng như tội trộm cắp tài sản, tội cướp giật tài sản; tội cướp tài sản; tội
lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhất là một số bài nghiên cứu của ThS. Mai Bộ
đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân… Trong thực tiễn xét xử, một số bài viết,
tranh luận cũng trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến cấu thành tội công nhiên
4
chiến đoạt tài sản qua phân tích, đánh giá, nhận định về một số hành vi phạm
tội có tính chất chiếm đoạt, ngoài ra còn phải kể đến một số luận văn tốt
nghiệp Đại học Luật nghiên cứu về tội này như: Tội công nhiên chiếm đoạt tài
sản theo Bộ luật hình sự 1999 - những vấn đề lý luận và thực tiễn, của Đặng
Đình Chung, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2001 và một số luận văn cử nhân,
thạc sĩ luật khác.
Tuy nhiên, có thể khẳng định, đến nay chưa có công trình nghiên cứu
nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống các vấn đề pháp lý, lý luận và
thực tiễn định tội danh đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Luận văn nghiên cứu và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, dấu hiệu
pháp lý, đường lối xử lý và thực tiễn định tội danh đối với tội công nhiên
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, định hướng của Đảng về chính sách
hình sự; quan điểm, đường lối xử lý các tội xâm phạm sở hữu có tính chất
chiếm đoạt, trong đó có tội công nhiên chiếm đoạt tài sản trước yêu cầu mới.
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp luận duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin. Các phương
pháp của khoa học luật hình sự, tội phạm học, thống kê tư pháp, khoa học lịch
sử, so sánh kết hợp với phân tích xã hội học, phương pháp hệ thống - cấu trúc,
phương pháp quy nạp, diễn dịch được sử dụng linh hoạt trong nghiên cứu.
6. Những đóng góp mới của đề tài
Luận văn được hoàn thành sẽ là chuyên khảo khoa học trình bày
tương đối toàn diện, có hệ thống về căn cứ lập pháp hình sự, các vấn đề lý
luận và thực tiễn đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, có đóng góp mới
sau đây:
6
Một là, phân tích căn cứ pháp lý, giải quyết những vấn đề lý luận về
tội công nhiên chiếm đoạt tài sản nhằm góp phần bổ sung và hoàn thiện lý
luận về tội phạm đối với các tội phạm cụ thể trong luật hình sự Việt Nam,
nhất là các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt.
Hai là, phân tích, đánh giá lịch sử lập pháp hình sự đối với tội công
nhiên chiếm đoạt, đường lối xử lý và thực tiễn định tội danh đối với tội
phạm này.
Ba là, đề xuất các phương hướng tiếp tục hoàn thiện pháp luật hình sự,
đường lối xử lý hình sự và các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh
phòng, chống tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái niệm và dấu hiệu pháp lý của tội công nhiên chiếm
đoạt tài sản.
16, tr. 622; "tiền của, của cải nói chung" 9, tr. 734, 17, tr. 602; là
"của cải vật chất dùng để sản xuất hoặc tiêu dùng"
47, tr. 1483. Theo Điều 163
Bộ luật dân sự năm 2005, tài sản được hiểu bao gồm "vật, tiền, giấy tờ có giá
và các quyền tài sản", trong đó quyền tài sản là "quyền trị giá được bằng tiền
8
và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ"
(Điều 181).
Tuy nhiên, từ góc độ luật hình sự, đối với các tội phạm có tính chất
chiếm đoạt tài sản trong đó có tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, không phải
lúc nào tài sản theo quan niệm của Bộ luật dân sự cũng được coi là đối tượng
của tội phạm này bởi lẽ không phải tài sản nào người phạm tội cũng có thể
công nhiên lấy được từ chủ tài sản, ví dụ như các quyền tài sản. Đây là một
dạng tài sản vô hình, không nhìn thấy được, nó gắn liền với quyền nhân thân
và cố định với một chủ thể cụ thể được pháp luật công nhận, do đó, nó không
thể bị dịch chuyển trái phép, bị chiếm đoạt bởi người khác được, vì về mặt
pháp lý "quyền tài sản" phải được pháp luật thừa nhận thì mới có giá trị. Ví
dụ: Quyền của chủ nợ, quyền sở hữu đối với các giấy tờ có giá… Những
quyền này gắn liền với nhân thân của một chủ thể xác định. Mọi trình tự, thủ
tục thực hiện các quyền này đều tuân theo quy định của pháp luật, do đó, tội
phạm không thể chiếm đoạt được "loại tài sản này" nên nó không thể là đối
tượng tác động của tội "công nhiên chiếm đoạt tài sản". Ngoài ra, một số tài
sản khác là bất động sản có tính chất vật lý cố định; một số loại tài sản chưa
xác định được chủ sở hữu hoặc tài sản không có giá trị sử dụng, một số loại
giấy tờ có giá và một số loại tài sản có tính chất và công dụng đặc biệt cũng
không thể là đối tượng của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.
Khái niệm "chiếm đoạt", theo nghĩa Hán - Việt, "Chiếm" là "lấy làm của
chiếm đoạt có tài sản đó, quá trình này xét về mặt pháp lý không làm cho chủ
sở hữu mất quyền sở hữu của mình mà chỉ làm mất khả năng thực tế thực hiện
các quyền cụ thể của quyền sở hữu. Hành vi chiếm đoạt được thể hiện dưới
những dạng hành vi cụ thể khác nhau tùy thuộc vào mối quan hệ cụ thể giữa
người chiếm đoạt với tài sản chiếm đoạt cũng như vào hình thức chiếm đoạt
cụ thể.
Thứ hai, tài sản là đối tượng tác động của hành vi chiếm đoạt đòi hỏi
phải có đặc điểm là còn nằm trong sự chiếm hữu, sự quản lý, kiểm soát của
chủ tài sản. Nếu tài sản đã thoát ly khỏi sự chiếm hữu, sự quản lý, kiểm soát
của chủ tài sản (bị thất lạc) thì không còn là đối tượng của hành vi chiếm
đoạt. Chỉ khi tài sản còn đang do chủ tài sản chiếm hữu thì mới có thể nói đến
hành vi chiếm đoạt, mới nói đến hành vi làm mất khả năng chiếm hữu của chủ
tài sản.
Thứ ba, xét về mặt chủ quan, chiếm đoạt là hành vi được người phạm
tội thực hiện có chủ đích nên lỗi của người có hành vi chiếm đoạt là lỗi cố ý
trực tiếp. Người thực hiện hành vi chiếm đoạt biết tài sản chiếm đoạt là tài sản
10
đang có người quản lý nhưng vẫn mong muốn biến tài sản đó thành tài sản
của mình. Những trường hợp lầm tưởng là tài sản của mình hoặc tài sản
không có người quản lý đều không phải là trường hợp có hành vi chiếm đoạt.
Như vậy, hành vi chiếm đoạt tài sản được coi là bắt đầu khi người
phạm tội bắt đầu thực hiện việc làm mất khả năng chiếm hữu của chủ tài sản,
để tạo khả năng đó cho mình. Khi người phạm tội đã làm chủ được tài sản
chiếm đoạt thì lúc đó hành vi chiếm đoạt được coi là đã hoàn thành, người
phạm tội coi là đã chiếm đoạt được tài sản. Dấu hiệu chiếm đoạt có thể là mục
đích chiếm đoạt, là hành vi chiếm đoạt hoặc là chiếm đoạt được.
Khái niệm "công nhiên", theo nghĩa Hán - Việt được giải thích là "rõ
ràng như vậy, ai cũng thấy"; thuật ngữ "công khai" được hiểu là "mở chung cho
mọi người cùng thấy, không dấu diếm" 16, tr. 114; "công nhiên" còn được
chủ tài sản không có điều kiện ngăn cản do đang ở trong hoàn cảnh không thể
ngăn cản hành vi phạm tội.
Khái niệm tội phạm, theo Điều 8 Bộ luật hình sự:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định
trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự
thực hiện một cách cố ý hay vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền,
thống nhất toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị,
chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã
hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng,
sức khỏe, danh dự nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp
pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự
pháp luật xã hội chủ nghĩa
28, tr. 46.
Từ góc độ khoa học luật hình sự, tội phạm được định nghĩa là "hành
vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình
phạt" 39, tr. 33; "là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự
(tức là hành vi bị luật hình sự cấm), do người có năng lực trách nhiệm hình
sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi (cố ý hoặc
vô ý)"
3, tr. 297. Theo tác giả luận văn, tội phạm có 5 dấu hiệu đặc trưng:
1) Tính nguy hiểm cho xã hội; 2) Tính trái pháp luật hình sự; 3) Tính có năng
lực trách nhiệm hình sự; 4) Tính đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; 5) Tính có
lỗi. Với cách tiếp cận đó, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản có 5 đặc trưng cơ
bản: 1) Đó là hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản là hành vi nguy hiểm cho
12
xã hội; 2) Hành vi đó bị luật hình sự cấm, nếu thực hiện hành vi này là trái với
pháp luật hình sự; 3) Hành vi này phải do người có năng lực trách nhiệm hình
người thì xử tội chém bêu đầu, tòng phạm xử chém phải nộp tiền
đền mạng và tiền đền tang vật gấp đôi trả lại cho chủ nhà bị cướp.
Kẻ chứa chấp bọn cướp lâu ngày thì xử đồng tội, mới khoảng mười
ngày thì xử giảm một bậc, đều phải bồi thường một phần ba nộp
vào kho. Kẻ biết việc mà không cáo giác thì xử tội đồ làm chủng
điền binh [29, Điều 426].
Cũng theo Bộ luật trên "kẻ ăn trộm mới phạm lần đầu thì phải lưu
châu xa. Kẻ trộm có tiếng và kẻ trộm tái phạm thì phải bị chém. Giữa ban
ngày ăn cắp vặt cũng bị xử tội đồ…" (Điều 429).
Liên quan đến hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản, tại Điều 435 của
Bộ luật trên quy định:
Những kẻ thừa thời cơ lúc có trộm, cướp, cháy, lụt là lấy
trộm của cải của người ta, hay là giữa ban ngày mà đoạt lấy tiền tài
của người, cùng là lấy của cải đánh rơi mà lại đánh lại người mất
của thì cũng phải đền tội như ăn trộm thường, mà giảm một bậc.
Lột lấy những quần áo và đồ vật của trẻ em, người điên, người say
thì phải tội đồ và phải bồi thường gấp đôi [29].
Có thể nói, đây là những quy định đầu tiên trong hình luật nước ta mà
trong đó, những dấu hiệu trong hành vi khách quan của tội công nhiên chiếm
đoạt tài sản sau này đã được đề cập. Đặc biệt, nhà làm luật đã mô tả và mô
hình hóa khá chính xác điều kiện thực tiễn nước ta lúc bấy giờ, đồng thời răn
đe, phòng ngừa và chống các hành vi vi phạm pháp luật do lợi dụng hoàn
cảnh, tình trạng thân phận của người có tài sản để trục lợi, thực hiện hành vi
chiếm đoạt tài sản. Hành vi chiếm đoạt trong trường hợp này được xác định
nhẹ hơn tội ăn trộm thường, mục đích của việc ghi nhận tội phạm này là để
bảo vệ quyền sở hữu tài sản của các chủ thể có nguy cơ bị tội phạm xâm hại
14
trong những điều kiện, tình huống đặc biệt mà người có tài sản không có
điều kiện bảo quản, coi giữ. Quy định này được duy trì và áp dụng trong
tịch nước ký Sắc lệnh số 267/SL trừng trị những âm mưu hoạt động phá hoại
tài sản của Nhà nước, Hợp tác xã và của nhân dân, làm cản trở việc thực hiện
chính sách, kế hoạch xây dựng kinh tế và văn hóa. Văn bản này tuy chưa quy
định tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, song theo tinh thần của nó thì các dạng
hành vi thuộc cấu thành của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản ngày nay cũng
đã được đề cập và hướng dẫn về đường lối xử lý tương tự tội cướp và tội
cướp giật tài sản.
Để củng cố thành quả mà cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đạt
được ở miền Bắc, bảo đảm sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả các nguồn lực,
tập trung phát triển sản xuất để chi viện sức người, sức của cho miền Nam
ruột thịt, các quy định pháp luật về kinh tế, tài chính, dân sự, lao động, hình
sự từng bước được hoàn thiện đáp ứng yêu cầu của quản lý đất nước trong
tình hình mới, ngày 21/10/1970, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành
Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh
trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân. Theo hai Pháp lệnh
trên, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản chưa được đề cập với tư cách là một tội
phạm độc lập mà nằm trong quy định gắn với tội cướp giật tài sản (Điều 4 và 5)
và được hướng dẫn chi tiết, cụ thể tại Thông tư liên Bộ ngày 16/3/1973 của
Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an (điểm 1
Mục c Phần II). Theo đó, hành vi khách quan của tội cướp giật tài sản được
nhà làm luật mô tả như sau: "trường hợp kẻ phạm tội lợi dụng sơ hở, vướng
mắc của người giữ tài sản, bất thần giằng lấy tài sản trên tay người giữ tài
sản, hoặc công nhiên lấy từ nơi để tài sản với ý thức không che giấu hành vi
phi pháp của mình rồi chạy trốn hoặc bỏ đi không dùng vũ lực". Đây là quy
định thể hiện khá rõ một số đặc trưng của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản,
nhưng lúc đó, về kỹ thuật lập pháp, nhà làm luật chưa thừa nhận đây là một
tội phạm độc lập mà được hiểu là một dạng hành vi của tội cướp giật tài sản.
16
b) Giai đoạn từ 1985 đến nay
nhau, các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật. Khi đó, việc phân
định các nhóm tội xâm phạm sở hữu thành xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa
và xâm phạm sở hữu của công dân theo Bộ luật hình sự năm 1985 tỏ ra không
còn phù hợp do tính chất đa hình thức sở hữu. Hơn nữa, về dấu hiệu pháp lý,
các tội đó tuy nằm ở hai chương khác nhau nhưng đều có cùng đặc điểm, tính
chất, có chăng sự khác biệt chỉ là khách thể và đối tượng là tài sản chịu sự tác
động của tội phạm thuộc sở hữu của Nhà nước hay của công dân và trong
nhiều trường hợp, không phải lúc nào người phạm tội cũng có thể xác định
được tài sản đó là của Nhà nước hay công dân. Trước yêu cầu đó, ngày
21/12/1999 Quốc hội đã thông qua Bộ luật hình sự mới thay thế cho Bộ luật
hình sự 1985, theo đó tội công nhiên chiếm đoạt tài sản được quy định tại
Điều 137 Bộ luật hình sự thành một tội phạm độc lập trên cơ sở tách khỏi tội
cướp giật tài sản và không phân biệt thành công nhiên chiếm đoạt tài sản xã
hội chủ nghĩa và công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân như Bộ luật hình
sự năm 1985 mà sáp nhập lại thành một tội phạm độc lập. Việc sáp nhập thể
hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về mặt pháp lý là không có sự
phân biệt đối với các thành phần kinh tế trong xã hội, mặt khác, nó cũng đáp
ứng được yêu cầu do thực tiễn xét xử đặt ra trong những năm qua, nhiều hành
vi xâm phạm tài sản của các đơn vị kinh tế thuộc sở hữu chung của nhiều
thành phần kinh tế như: Công ty cổ phần, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài, liên doanh, liên kết… nhưng không thể xác định được người phạm tội
xâm phạm tài sản thuộc thành phần kinh tế nào.
So với Bộ luật hình sự năm 1985 thì Điều 137 Bộ luật hình sự năm
1999 có nhiều sửa đổi, bổ sung, nhất là đối với các tình tiết là yếu tố định tội;
phân biệt ranh giới giữa hành vi là tội phạm với hành vi chưa tới mức phải xử
lý về hình sự - điểm khác biệt cơ bản so với Bộ luật hình sự năm 1985 khi
quy định về tội phạm này. Về hình phạt Điều 137 quy định nặng hơn Bộ luật
hình sự năm 1985 (mức cao nhất là từ chung thân, trong khi đó Điều 131 quy
định là hai mươi năm tù, còn Điều 154 là mười lăm năm tù). Về cơ cấu, tội
19
Theo luật hình sự Việt Nam, bất cứ hành vi phạm tội nào, dù đặc biệt
nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng, dù bị quy định bởi hình phạt tới chung
thân, tử hình hay chỉ là cảnh cáo, phạt tiền cũng là sự thống nhất giữa mặt
khách quan và mặt chủ quan - giữa những biểu hiện bên ngoài và những
những quan hệ tâm lý bên trong, đều là hoạt động của con người cụ thể gây
thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội nhất định. Sự thống
nhất của bốn yếu tố này là hình thức cấu trúc, thể hiện đầy đủ nội dung chính
trị - xã hội của tội phạm, nếu về mặt nội dung chính trị - xã hội, mỗi tội phạm
có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau thì về mặt cấu trúc,
bốn yếu tố cấu thành tội phạm cũng có những nội dung biểu hiện khác nhau,
chính sự khác nhau này quyết định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội
của tội phạm 15, tr. 54.
Dấu hiệu pháp lý của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là đặc điểm
chung về mặt lập pháp cụ thể các thuộc tính điển hình và chủ yếu hơn cả, đặc
trưng cho tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. Cũng như các tội khác, "tội công
nhiên chiếm đoạt tài sản" cũng có đầy đủ bốn yếu tố cấu thành tội phạm cụ
thể như sau.
1.2.1. Khách thể của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
Khách thể của tội phạm theo nghĩa chung nhất là quan hệ xã hội được
luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại 39, tr. 62, khách thể của tội phạm
còn được định nghĩa "là quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ tránh
khỏi sự xâm hại có tính chất tội phạm, nhưng bị tội phạm xâm hại đến và gây
nên (hoặc đe dọa thực tế gây nên) thiệt hại đáng kể nhất định 5, tr. 343.
Khách thể luôn tồn tại độc lập với ý thức ở bên ngoài ý thức của chủ
thể; hành vi của con người luôn là sự thống nhất giữa khả năng nhận thức và
khả năng điều khiển hành vi và bất kỳ hành vi nào một cách trực tiếp hay gián
tiếp cũng đều nhằm đạt tới, tác động tới một đối tượng nhất định, qua đó tác
động, ảnh hưởng đến một khách thể nhất định. Tội phạm là hành vi nguy