1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN VĂN THÁI VẤN ĐỀ LOẠI BỎ HÌNH PHẠT TỬ HÌNH
TRONG CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ KINH TẾ
VÀ CÁC TỘI PHẠM VỀ CHỨC VỤ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Hà nội - 2014
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN Nguyễn Văn Thái
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH PHẠT TỬ HÌNH
6
1.1.
Khái niệm và mục đích hình phạt tử hình
6
1.1.1.
Khái niệm hình phạt tử hình
6
1.1.2.
Mục đích hình phạt tử hình
10
1.2.
Khái quát lịch sử hình thành và phát triển luật hình sự Việt
Nam về hình phạt tử hình
11
1.2.1.
Giai đoạn sau Cách mạng tháng 8/1945 đến trước khi pháp
điển hóa lần thứ nhất - Bộ luật hình sự năm 1985
12
1.2.2.
Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến
trước khi ban hành Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật hình sự
năm 2009
17
1.3.
Thực trạng về hình phạt tử hình tại Việt Nam hiện nay và xu
hướng quốc tế về hình phạt tử hình
20
1.3.1.
Các cơ sở phòng ngừa tội phạm
48
2.2.1.
Mục đích của hình phạt tử hình
48
2.2.2.
Những nét đặc thù của nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý
kinh tế và tội phạm về chức vụ
54
2.2.3.
Hệ thống hình phạt đang áp dụng đối với các tội xâm phạm
trật tự quản lý kinh tế và các tội phạm về chức vụ
60
2.2.4.
Các biện pháp phòng ngừa tội phạm ngoài hình phạt
61
2.3.
Cơ sở trách nhiệm nhà nước - xã hội và hội nhập quốc tế của
Việt Nam
62
2.3.1.
Nâng cao trách nhiệm của Nhà nước và xã hội đối với quản lý
xã hội và người phạm tội
62
2.3.2.
Xu hướng hội nhập quốc tế của Việt Nam về loại bỏ hình phạt
tử hình
64
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ VẤN ĐỀ LOẠI BỎ HÌNH PHẠT
80
3.3.
Một số kiến nghị khác
83
3.3.1.
Kiến nghị về hoạt động phòng ngừa tội phạm - trách nhiệm
của xã hội; phòng ngừa tội phạm từ góc nhìn tôn giáo và nâng
cao nhận thức pháp luật của nhân dân
83
3.3.2.
Kiến nghị về hoạt động kiểm tra, kiểm soát, luân chuyển trong
hoạt động công tác
89
3.3.3.
Kiến nghị về hoạt động thay thế hình phạt cùng khung hình
phạt qua quyết định của Hội đồng xét xử
91
KẾT LUẬN
93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
95 7
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
2007 đến năm 2012
32
DANH MỤC CÁC BIỀU ĐỒ
Số hiệu
biểu đồ
Tên biểu đồ
Trang
1.1
Các quốc gia có số vụ hành quyết cao nhất trong năm 2009
31
9
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trên cơ sở điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, tình hình tội phạm ở
Việt Nam trong những năm qua và dự báo trong thời gian tiếp theo, ngày
02/06/2005 Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết 49/NQ-TW về
Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 trong đó nêu rõ định hướng chính
sách hình sự của chúng ta: duy trì hình phạt tử hình nhưng "hạn chế áp dụng
hình phạt tử hình theo hướng chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc
thông tin thực tiễn nhằm bảo vệ quyền con người; thực tiễn công tác về phòng
ngừa, đấu tranh chống tội phạm; truyền thống văn hóa nhân đạo của dân tộc;
yêu cầu thực thi những cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết và yêu
cầu hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung toàn diện BLHS Việt Nam, tại luận văn này,
tác giả đi sâu và nghiên cứu những cơ sở để loại bỏ hình phạt tử hình ra khỏi
nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và tội phạm về chức vụ. Cụ
thể, với đề tài: "Vấn đề loại bỏ hình phạt tử hình trong các tội xâm phạm
trật tự quản lý kinh tế và các tội phạm về chức vụ".
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Dưới góc độ khoa học pháp lý, trong thời gian qua đã có rất nhiều
diễn đàn, hội thảo, công trình nghiên cứu về hình phạt tử hình, áp dụng và thi
hành hình phạt tử hình. Đề tài loại bỏ hình phạt tử hình cũng đã được bàn
luận, phân tích rất nhiều trong thời gian soạn thảo, lấy ý kiến đóng góp dự
thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS 1999 như: Một số vấn đề về
hình phạt tử hình và thi hành hình phạt tử hình - thực trạng và giải pháp, Đề
tài khoa học cấp Bộ, do Bộ Tư pháp chủ trì, năm 2003; Hội thảo Việt Nam -
EU về án tử hình, Bộ Ngoại Giao Việt Nam, Liên minh Châu Âu và Viện
Nhân quyền Đan Mạch đồng tổ chức năm 2004; Hình phạt tử hình trong luật
hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Phạm Văn Beo, năm 2007; Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam,
Luận văn thạc sĩ Luật học, Trần Thu Huyền, năm 2004; Hội thảo khoa học: 11
Vấn đề giới hạn hình phạt án tử hình trong một số tội phạm tại Việt Nam,
Viện Nhà nước và Pháp luật tổ chức năm 2008; Tờ trình số 155/TTr-CP ngày
09/10/2008 của Chính phủ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
BLHS năm 1999 gửi tới Quốc hội; Hội thảo khoa học: Nhận thức tác động
của các quy định trong Bộ luật hình sự Việt Nam, Khoa Luật, Đại học Quốc
gia Hà Nội tổ chức năm 2011. Hội nghị toàn quốc tổng kết thi hành BLHS
thực trạng pháp luật về hình phạt tử hình và thực trạng áp dụng hình phạt tử
hình về các tội xâm phạm trật tử quản lý kinh tế và tội phạm về chức vụ tại
Việt Nam; Xu hướng quốc tế về hình phạt tử hình;
- Phân tích những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc loại bỏ hình phạt
tử hình đối với các tội phạm có tính chất kinh tế và chức vụ ở Việt Nam;
- Phân tích một số kiến nghị về pháp luật, xây dựng bộ máy Nhà nước,
nâng cao nhận thức pháp luật của nhân dân khi loại bỏ hình phạt tử hình đối
với các tội phạm có tính chất kinh tế và chức vụ ở Việt Nam.
3.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Với mục đích và nhiệm vụ nêu trên, luận văn có đối tượng và phạm vi
nghiên cứu là một số vấn đề lý luận chung về hình phạt tử hình, thực trạng
hình phạt tử hình tại Việt Nam và những cơ sở lý luận và thực tiễn để loại bỏ
hình phạt tử hình đối với nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và
các tội phạm về chức vụ. Những vấn đề này được nghiên cứu trên cơ sở khoa
học pháp lý về pháp luật hình sự (PLHS), quy định của BLHS, các quan điểm
về chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước, cũng như thực tiễn áp dụng
hình phạt này tại Việt Nam trong mối tương quan với xu hướng chung của các
nước trên thế giới.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt được những mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu trên, luận văn sử
dụng các phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu. 13
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa
học như: So sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê, suy luận lôgic v.v…
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
5.1. Về mặt khoa học
- Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên đi sâu nhằm kiến nghị
Trong tiếng Pháp hình phạt này có tên "peine de mort" hay còn gọi là "peine
capitale"; trong tiếng Đức nó có tên gọi là "todesstrafe". "Capital punishment"
có nguồn gốc từ capitalis (tiếng Latin) trong đó có gốc của từ kaput, có nghĩa
là đầu, là một hình phạt mà khi áp dụng, người bị áp dụng sẽ bị mất đầu. Vì
thế, hình phạt tử hình lúc khởi thủy, ở phương Tây, người ta thường dùng để
chỉ hình phạt chém đầu. Còn theo Từ điển Lịch sử chế độ chính trị Trung
Quốc, "tử" ở đây được hiểu là chết, "hình" là hình phạt tội, bao gồm chữ
"tỉnh" (giếng) và chữ "đao" (dao) ghép lại. Từ đó, có thể hiểu tử hình là hình
phạt giết chết bằng cách thả xuống giếng hoặc chém bằng đao. Theo Từ điển
tiếng Việt "tử hình" là "hình phạt phải chịu tội chết" [32].
Điều 35 BLHS 1999 quy định về hình phạt tử hình như sau:
Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người
phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhằm tước bỏ mạng sống của
người phạm tội. Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người
chưa thành niên phạm tội, đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang
nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử. Không
thi hành án tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con
dưới 36 tháng tuổi. Trong trường hợp này hình phạt tử hình chuyển
thành tù chung thân. Trong trường hợp người bị kết án tử hình được
ân giảm, thì hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân [37]. 15
Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu khoa học pháp lý thì tử
hình còn được hiểu là: "hình phạt đặc biệt, nghiêm khắc nhất trong tất cả các
loại hình phạt và chỉ được quyết định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp
luật của Tòa án nhằm tước bỏ sinh mạng của người bị kết án về tội đặc biệt
nghiêm trọng theo quy định của pháp luật hình sự" [24], [9].
* Đặc điểm
Từ các định nghĩa về hình phạt tử hình trên đây, chúng ta có thể hiểu
đương nhiên người này không thể tái phạm ở bất kỳ tình huống nào và bản
thân họ cũng không thể tự mình khắc phục đối với những hậu quả đặc biệt
nghiêm trọng mà mình đã gây ra, mặc dù có thể họ đã rất hối hận và mong
muốn khắc phục hậu quả. Việc khắc phục hậu quả đối với những trường hợp
này, thường được thực hiện trước khi thi hành hình phạt, thậm chí trước khi
Tòa án án tuyên án và thường được thân nhân của người bị kết án thực hiện
nhằm mục đích tạo tình tiết giảm nhẹ cho người thân của mình và cũng giảm
bớt mặc cảm tội lỗi cho người đã thực hiện hành vi phạm tội gây ra hậu quả
đặc biệt nghiêm trọng.
* Bản chất
Trước hết, khi nghiên cứu hình phạt tử hình, tác giả nhận thấy hình
phạt tử hình mang bản chất giai cấp sâu sắc. Từ hình là một trong những hình
phạt có lịch sử phát triển lâu dài trong quá trình phát triển của xã hội có phân
chia giai cấp, tồn tại, đồng hành và phát triển cùng với sự phát triển của Nhà
nước và Pháp luật. Tử hình được sử dụng như một công cụ để đấu tranh với
các loại tội phạm khác nhau nhằm bảo vệ chế độ xã hội, bảo vệ hệ thống
chính trị của mỗi Nhà nước nhất định. Hình phạt tử hình tồn tại và phát triển
khách quan cùng với Pháp luật và Nhà nước qua mỗi thời kỳ lịch sử nhằm
bảo vệ, duy trì quyền lực của giai cấp thống trị trong xã hội. Điều này được
thể hiện ở mỗi hình thái kinh tế - xã hội có giai cấp đều có một hệ thống hình
phạt tương ứng. Bản chất, nội dung và vai trò của hình phạt, của hệ thống
hình phạt nói chung, của từng hình phạt nói riêng do các điều kiện kinh tế, 17
chính trị, văn hóa, xã hội, hệ tư tưởng, đạo đức, lối sống của hình thái kinh tế -
xã hội trong đó hình phạt tồn tại quyết định. Do đó, bản chất, nội dung và vai
trò của hình phạt nói chung, của hình phạt tử hình nói riêng được thay đổi tùy
thuộc vào sự thay đổi của các hình thái kinh tế xã hội, vào sự thay đổi trong
quan điểm, cách nhìn nhận, đánh giá của các giai cấp thống trị.
một trong những vấn đề quan trọng của lý luận về hình phạt. Trong lịch sử
nhân loại đã từng có những quan điểm, quan niệm khác nhau về bản chất, nội
dung và mục đích của hình phạt nói chung, của hình phạt tử hình nói riêng.
Chúng ta có thể chia các quan niệm, quan điểm đó thành hai loại. Loại thứ
nhất, coi hình phạt nói chung, hình phạt tử hình nói riêng là công cụ trả thù
người phạm tội, đáp lại những hành vi vi phạm những quy tắc xử sự chung
của người phạm tội. Loại quan điểm thứ hai coi hình phạt nói chung, hình
phạt tử hình nói riêng là công cụ phòng ngừa tội phạm.
Quan điểm thứ nhất, hình phạt là biện pháp được Nhà nước cho phép
lấy oán trả oán, tương tự như giết người phải đền mạng, từ đó dẫn tới nỗi
khiếp sợ của người phạm tội đối với sự trả thù, sự trừng trị đối với họ, khiến
việc áp dụng các hình phạt cứng rắn trở lên rộng rãi như tử hình, tù chung
thân, tù có thời hạn dài. Điều này được thể hiện rất rõ trong lịch sử các chế
độ bóc lột qua các biện pháp nhục hình man rợ như tùng xẻo, voi dày, đóng
cọc vào ruột, đánh bằng trượng, tứ mã phanh thây, Quan niệm trên đã phai
dần qua các thời kỳ phát triển của xã hội và nhường chỗ cho những học
thuyết tiến bộ, nhân đạo hơn, khi các quan niệm này nhìn nhận hình phạt
như một trong những biện pháp giáo dục, cải tạo người phạm tội, phòng
ngừa tội phạm (phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung). Quan niệm đó là
thành quả của sự phát triển vật chất và sự giải phóng về tinh thần của nhân
loại. Khoa học luật hình sự, PLHS nước ta đã dựa trên cơ sở vững chắc của
những thành tựu đó. Đồng thời đó cũng là nền tảng tư tưởng và lý luận cho
việc xây dựng quan niệm về mục đích của hình phạt, trong đó có mục đích
của hình phạt tử hình. 19
Mục đích của hình phạt tử hình là kết quả thực tế cuối cùng mà Nhà
nước mong muốn đạt được khi quy định hình phạt tử hình đối với tội phạm
và áp dụng hình phạt tử hình đối với cá nhân người phạm tội. Đối với Nhà
Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mở một trang sử mới cho lịch sử phát
triển dân tộc. Tuy nhiên, ngày 23/9/1945, thực dân Pháp quay trở lại xâm
chiếm nước ta một lần nữa và tiếp theo là sự nối gót của đế quốc Mỹ (năm
1954). Do đặc điểm lịch sử này, trước cuộc tổng tiến công nổi dậy Mùa xuân
năm 1975, đất nước ta bị chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trị khác
nhau. Hệ thống PLHS ở hai miền vì vậy càng có sự khác biệt. Những quy
định về hình phạt tử hình không nằm ngoài sự thay đổi chung đó.
* Giai đoạn 1945 - 1954
Sau tháng 8/1945, Nhà nước công nông non trẻ đã tích cực tiến hành
hoạt động lập pháp hình sự, làm cơ sở để trấn áp bọn phản động, bảo vệ
những thành quả của cách mạng. Song song với các quy phạm pháp luật mới
được ban hành, Sắc lệnh số 47-SL ngày 10/10/1945 của Nhà nước cho phép
tạm thời giữ các luật lệ cũ (gồm Luật hình An Nam, Hoàng Việt hình luật và
Bộ hình luật Pháp tu chính) với điều kiện "không trái với nguyên tắc độc lập
của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa".
Pháp luật hình sự trong giai đoạn này, chưa có văn bản nào chính thức
quy định về hệ thống hình phạt. Tuy nhiên có thể thấy rằng hình phạt bao
gồm hai loại là các hình phạt chính và các hình phạt phụ (hình phạt bổ sung).
Tử hình là một hình phạt chính, áp dụng đối với tội phạm có tính chất đặc biệt
nghiêm trọng. Sắc lệnh số 133-SL ngày 20/01/1953 trừng trị những tội xâm
phạm đến an toàn Nhà nước, đối nội và đối ngoại. Sắc lệnh số 146-SL ngày
02/03/1948 quy định xử lý nghiêm khắc những người phạm tội gián điệp, tội
phản bội tổ quốc. Ngoài ra, đối với các tội phạm về bảo vệ đê điều, công trình
thủy nông nếu hậu quả gây ra là thiệt hại cho nhiều tỉnh (Điều 8 Sắc lệnh số
68-SL ngày 16/11/1949); tội đầu hàng quân địch nếu người đầu hàng là một 21
nhân viên thuộc cấp chỉ huy; tội thông với địch (Điều 7 Sắc lệnh số 163-SL
ngày 23/8/1946) đều có mức cao nhất của khung hình phạt là tử hình.
văn bản về PLHS.
Ngày 30/10/1967, Hồ Chủ tịch ký Lệnh số 117 công bố Pháp lệnh
trừng trị các tội phản cách mạng. Ngoài Điều 1 và Điều 2 quy định những
nguyên tắc về chính sách hình sự của Nhà nước ta, 15 điều luật còn lại được
mô tả rõ ràng, chặt chẽ với cấu thành tội phạm, các tội có áp dụng hình phạt
tử hình chiếm một tỷ lệ lớn (11/15 tội) như tội phản quốc (Điều 3); tội âm
mưu lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 4); tội gián điệp (Điều 5); tội xâm
phạm an ninh lãnh thổ (Điều 6); tội bạo loạn (Điều 7) Pháp lệnh trừng trị
các tội phản cách mạng là cơ sở pháp lý quan trọng để tăng cường chuyên
chính đối với những kẻ thù dân tộc và là một bước tiến về kỹ thuật lập pháp
hình sự Việt Nam.
Ngày 21/10/1970, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đồng thời thông qua
Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh
trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân. Trong đó, nhóm tội
xâm phạm chế độ sở hữu XHCN bị áp dụng hình phạt rất nghiêm khắc. Các
tội cướp tài sản XHCN (Điều 4); tội cố ý hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản
XHCN (Điều 6); tội trộm cắp tài sản XHCN (Điều 7); tội tham ô tài sản
XHCN (Điều 8) đều có mức cao nhất của khung hình phạt là tử hình.
Điều 9 Luật số 18 ngày 14/7/1960 của Tổ chức Tòa án nhân dân (TAND)
quy định thủ tục "duyệt lại" bản án tử hình để đảm bảo tính chính xác của
quyết định đó:
Các bản án tử hình phải được Hội đồng toàn thể thẩm phán
của Tòa án nhân dân tối cao duyệt lại trước khi thi hành. Phải có 2/3
tổng số thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao tham dự phiên họp
của Hội đồng và quá nửa tổng số thẩm phán tán thành thì quyết nghị
của Hội đồng mới có giá trị. 23
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền tham
Hình phạt tử hình được thi hành bằng xử bắn: "Tội nhân bị án tử hình
sẽ bị giam trong lao thất cho đến lúc bị hành hình. Tử tội sẽ bị bắn" (Điều 22).
Kế thừa truyền thống nhân đạo, luật này càng quy định về việc hoãn thi hành
án tử hình đối với phụ nữ có thai: "Nếu nữ tội nhân bị án tử hình có thai thì
100 ngày sau khi sanh đẻ mới bị hành quyết" (đoạn 2 Điều 23). Ngoài ra để
giảm bớt thủ tục của cơ quan thi hành án, giảm chi phí của việc thi hành án,
đồng thời đáp ứng được nguyện vọng của thân nhân người bị kết án, luật quy
định: "Tử thi kẻ bị hành quyết sẽ được giao trả cho gia quyến nếu có lời xin,
nhưng đám tang phải đơn giản và không có công chúng dự lễ" (Điều 24).
Có thể nói, luật hình sự Việt Nam qua 30 năm tồn tại và phát triển
(1945-1975) đã có những bước tiến bộ rất lớn về kỹ thuật lập pháp và góp
phần quan trọng thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ chiến lược của cách
mạng. Những quy định về hình phạt nói chung, hình phạt tử hình nói riêng
không ngừng được hoàn thiện, trở thành cơ sở để xây dựng BLHS sau này.
Tuy nhiên, do được quy định trong nhiều văn bản đơn hành, gây khó khăn
trong việc áp dụng thống nhất pháp luật. Điểm hạn chế này đã được khắc
phục khi Nhà nước pháp điển hóa BLHS.
* Từ năm 1975 đến trước năm 1985
Với Đại thắng Mùa xuân năm 1975, miền Nam được hoàn toàn giải
phóng, đánh dấu một bước ngoặt trọng đại trong lịch sử phát triển của dân tộc
ta. Đất nước được thống nhất, bước vào thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội.
Năm 1976, sau khi thực hiện thắng lợi cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội
chung cho cả nước, Quốc hội đã họp kỳ thứ nhất và ra Nghị quyết giao cho
Hội đồng Nhà nước chịu trách nhiệm hướng dẫn pháp luật thống nhất trên
toàn quốc. Những văn bản PLHS trước đây được ban hành ở miền Bắc tiếp
tục có hiệu lực và áp dụng trong phạm vi cả nước.
Để đảm bảo vững chắc an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội ở
nửa đất nước mới được giải phóng, Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam