ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN VĂN KHÔI
HIỆP ĐỊNH
HÀNG RÀO KỸ THUẬT TRONG THƢƠNG MẠI
CỦA TỔ CHỨC THƢƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO)
CHUYÊN NGÀNH : LUẬT QUỐC TẾ
MÃ SỐ : 50512
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2006
Công trình đƣợc hoàn thành
1.2 . CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA WTO
1.3 . QUY CHẾ THÀNH VIÊN VÀ THỦ TỤC GIA NHẬP WTO
1.4. SỰ CẦN THIẾT HÌNH THÀNH MỘT HIỆP ĐỊNH CỦA WTO VỀ
HÀNG RÀO KỸ THUẬT
1.5. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HIỆP ĐỊNH VỀ
HÀNG RÀO KỸ THUẬT TRONG THƢƠNG MẠI CỦA WTO (HIỆP
ĐỊNH WTO-TBT)
CHƢƠNG 2: HIỆP ĐỊNH HÀNG RÀO KỸ THUẬT TRONG
THƢƠNG MẠI
2.1. KHÁI NIỆM VỀ HÀNG RÀO KỸ THUẬT TRONG THƢƠNG
MẠI
2.1.1. Quy chuẩn kỹ thuật
2.1.2. Tiêu chuẩn
2.1.3. Quy trình đánh giá sự phù hợp
2.2. MỤC TIÊU CỦA HIỆP ĐỊNH WTO-TBT
2.2.1. Bảo vệ an toàn và sức khoẻ con ngƣời
2.2.2. Bảo vệ động vật, thực vật
2.2.3. Bảo vệ môi trƣờng
2.2.4. Ngăn chặn các hành vi lừa đối ngƣời tiêu dùng
2.3. CÁC NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HIỆP ĐỊNH WTO-TBT
2.3.1. Loại bỏ những rào cản kỹ thuật không cần thiết trong thƣơng mại
2.3.2. Quy chuẩn kỹ thuật
2.3.3. Quy trình đánh giá sự phù hợp 3
2.3.4. Đối xử quốc gia và không phân biệt
2.3.5. Hài hoà tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật
4
3.4.1. Cơ chế, chính sách về rào cản kỹ thuật trong thƣơng mại tại Hoa
Kỳ
3.4.2. Cơ chế, chính sách về rào cản kỹ thuật trong thƣơng mại tại Liên
minh châu Âu - EU
3.4.3. Cơ chế, chính sách rào cản kỹ thuật trong thƣơng mại tại Nhật
Bản
3.4.4. Cơ chế, chính sách rào cản kỹ thuật trong thƣơng mại tại Úc
3.5. VẤN ĐỀ TRIỂN KHAI HIỆP ĐỊNH WTO-TBT TẠI VIỆT NAM
3.5.1. Thực trạng của Việt Nam trong lĩnh vực hàng rào kỹ thuật trong
thƣơng mại (TBT)
3.5.2. Những tồn tại trong cơ chế TBT của Việt Nam
3.5.3. Một số đề xuất về hƣớng triển khai Hiệp định WTO/TBT tại Việt
Nam
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Thương mại” gọi tắt tiếng Anh là GATT 1947. 6
GATT hoạt động ở 2 cấp độ: Ở cấp độ thứ nhất, các nước thành viên
GATT cùng làm việc hàng ngày để thực hiện các quy định về thương mại,
giải quyết tranh chấp và thảo luận các vấn đề chung. Ở cấp độ thứ 2, các
nước thành viên tiến hành các vòng đàm phán. Đây là những vòng đàm phán
thương mại kéo dài mà kết quả đạt được là ký kết các hiệp định và thoả
thuận nhằm tự do hoá thương mại và củng cố cơ cấu chung của tổ chức.
Trong giai đoạn đầu, trọng tâm của các Vòng đàm phán là khuyến
khích tiếp tục giảm thuế quan trên cơ sở có đi có lại. Sau đó chuyển trọng
tâm sang vấn đề hàng rào bảo hộ mậu dịch. Qua 8 Vòng đàm phán, các nước
công nghiệp hoá cắt giảm thuế quan trung bình xuống dưới 4%, tức là chỉ
bằng 1/10 mức thuế vào thời điểm GATT được thành lập. Nhiều hạn ngạch
nhập khẩu được loại bỏ và việc trợ cấp cũng được kiểm soát một cách chặt
chẽ hơn.
Quan trọng nhất trong 8 Vòng đàm phán là vòng cuối cùng: Vòng
đàm phán thương mại đa biên Uruguay, bắt đầu tại Punta Del Este, Uruguay
năm 1986 và kết thAustralia tại Thuỵ sỹ năm 1993. Ngày 15/4/1994 các Bộ
trưởng đã ký Định ước cuối cùng của Vòng đàm phán Uruguay tại
Marrakesh, Maroc. Kết quả của vòng đàm phán kéo dài 7 năm nay là: việc
cắt giảm thuế quan trung bình 40% đối với hàng công nghiệp, mức tăng
trung bình của các ràng buộc về thuế quan đạt từ 21% đến 73% (đối với các
nước đang phát triển), 78% đến 99% (đối với các nước phát triển) và từ 73%
đến 98% (đối với các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi); một chương
trình tổng thể về cải cách nông nghiệp, bao gồm cả việc tự do hoá cam kết
về thuế quan, hỗ trợ trong nước và trợ giá xuất khẩu…
Vòng đàm phán Uruguay mở đường cho thời kỳ mới của các quan hệ
kinh tế toàn cầu. Các quy định mới về thương mại quốc tế điều chỉnh quan
GATT 1947 là nâng cao mức sống của nhân dân các thành viên, đảm bảo 8
việc làm thAustralia đẩy tăng trưởng kinh tế và thương mại, sử dụng có hiệu
quả nhất các nguồn lực của thế giới. Mục tiêu của WTO được thể hiện qua 5
chức năng cơ bản sau:
- Thống nhất quản lý việc thực hiện các hiệp định và thoả thuận
thương mại đa phương và nhiều bên; giám sát, tạo thuận lợi, kể cả
trợ giúp kỹ thuật cho các nước thành viên thực hiện các nghĩa vụ
thương mại quốc tế của họ.
- Là khuôn khổ thể chế để tiến hành các vòng đàm phán thương mại
đa phương trong khuôn khổ WTO, theo quyết định của Hội nghị Bộ
trưởng WTO.
- Là cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên liên quan
đến việc thực hiện và giải thiứch Hiệp định WTO và các hiệp định
thuơng mại đa phương và nhiều bên.
- Là cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại của các nước thành
viên, bảo đảm thực hiện mục tiêu thAustralia đẩy tự do hoá thương
mại và tuân thủ các quy định của WTO, Hiệp định thành lập WTO
(phụ lục 3) đã quy định một cơ chế kiểm điểm chính sách thương
mại áp dụng chung đối với tất cả các thành viên.
- Thực hiện việc hợp tác với các tổ chức kinh tế quốc tế khác như
Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới trong viêc hoạch định
những chính sách và dự báo về những xu hướng phát triển tương lai
của kinh tế toàn cầu.
1.4 . CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA WTO
WTO là tổ chức có cơ cấu gồm 3 cấp đó là:
- Các cơ quan lãnh đạo chính trị và có quyền ra quyết định (decision-
making power) bao gồm Hội nghị Bộ trưởng, Đại hội đồng WTO,
10
rút khỏi tất cả các Hiệp định thương mại đa phương và sẽ có hiệu lực sau 6
tháng kể từ ngày Tổng Giám đốc WTO nhận được thông báo bằng văn bản
về việc rút ra khỏi tổ chức.
Khi là thành viên của WTO, các nước đều có quyền lợi và nghĩa vụ
cân bằng nhau trong thương mại. Các nước thành viên đều được hưởng các
quyền lợi từ các Hiệp định thương mại đa biên, được hưởng những ưu đãi
mà các thành viên khác dành cho mình cũng như được đảm bảo theo quy tắc
thương mại. Ngược lại, các thành viên phải cam kết mở cửa thị trường của
mình và phải tuân theo các quy tắc của WTO. Những cam kết này là kết quả
của những vòng đàm phán khi gia nhập.
Hiệp định WTO quy định cơ chế ra quyết định thông qua đồng thuận
như của GATT 1947. Nếu các quyết định không đạt được đồng thuận thì
mới tiến hành bỏ phiếu. Mỗi thành viên WTO có quyền bỏ 1 phiếu và giá trị
mỗi phiếu là như nhau.
1.4. SỰ CẦN THIẾT HÌNH THÀNH MỘT HIỆP ĐỊNH CỦA WTO VỀ
HÀNG RÀO KỸ THUẬT
Trong những năm gần đây, số lượng tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật
được các nước sử dụng đã tăng lên đáng kể. Chính sách quản lý xiết chặt của
các thành viên WTO có thể nhìn thấy ở kết quả là các tiêu chuẩn quy định
các chỉ tiêu kỹ thuật cao hơn đang tồn tại trên toàn cầu, điều này làm tăng
yêu cầu của người tiêu dùng về các sản phẩm an toàn và chất lượng cao, và
các vấn đề đang dấy lên về ô nhiễm nước, không khí và đất; khuyến khích
khai thác và sử dụng các sản phẩm thân thiện môi trường. Tuy nhiên, một
thực tế đáng lo ngại là các quốc gia công nghiệp phát triển, với lợi thế khoa
học kỹ thuật tiên tiến và cơ sở trang thiết bị thử nghiệm công nghệ hiện đại,
có khuynh hướng sử dụng các tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật thành các
cần phải điều chỉnh và mở rộng phạm vi hoạt động của mình để đáp ứng
hoàn cảnh mới và thúc đẩy kinh tế thế giới tăng trưởng nhanh. 12
Về lĩnh vực rào cản kỹ thuật, Hiệp định GATT 1947 chỉ chứa đựng
những quy định chung về quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn tại các Điều 3, 9
và 20. Vào cuối thập niên 60, sau khi kết thúc vòng đàm phán Kenedy, một
nhóm công tác của GATT được thành lập với nhiệm vụ đánh giá tác động
của các loại rào cản phi quan thuế tới thương mại quốc tế, và họ đã đưa ra
kết luận rằng quy chuẩn kỹ thuật nằm trong nhóm các rào cản phi quan thuế
lớn nhất mà các nhà xuất khẩu thường gặp phải. Sau nhiều năm đàm phán,
đến năm 1979, cuối vòng đám phán Tokyo, 32 thành viên GATT đã cùng
nhau ký vào một điều ước đa phương về rào cản kỹ thuật có tên gọi là Quy
chế Tiêu chuẩn (Standards Code), quy định các nguyên tắc, trình tự xây
dựng, chấp nhận và áp dụng các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn, quy trình
đánh giá sự phù hợp.
Sau khi WTO được thành lập năm 1995, trên cơ sở kế thừa Quy chế
Tiêu chuẩn của GATT, Hiệp định WTO về Hàng rào kỹ thuật trong thương
mại (Hiệp định WTO - TBT) được chính thức ra đời. Hiệp định WTO/TBT
được xây dựng trong thời gian diễn ra vòng đàm phán Uruquay là một phần
thống nhất của Hiệp định WTO. Hiệp định gồm 15 điều và 3 phục lục.
CHƢƠNG 2
HIỆP ĐỊNH HÀNG RÀO KỸ THUẬT TRONG
xuất nhất định (Phụ lục 1 Hiệp định WTO-TBT).
Sự khác biệt giữa tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật nằm ở hiệu lực áp
dụng. Trong khi việc áp dụng tiêu chuẩn là tự nguyện, thì áp dụng quy chuẩn
kỹ thuật lại có tính bắt buộc. Chúng có những ý nghĩa khác nhau đối với
thương mại quốc tế. Nếu một sản phẩm nhập khẩu chưa đáp ứng những yêu 14
cầu của một quy chuẩn kỹ thuật thì nó sẽ không được phép lưu thông trên thị
trường. Một sản phẩm không phù hợp tiêu chuẩn vẫn có thể được phép bán
ra thị trường, nhưng sau đó thị phần của nó có thể bị ảnh hưởng nếu những
sản phẩm mà khách hàng ưa thích hơn đáp ứng được các tiêu chuẩn địa
phương như tiêu chuẩn về chất lượng hoặc mầu sắc đối với hàng quần áo và
dệt may.
2.1.3. Quy trình đánh giá sự phù hợp
Đây là dạng quy trình kỹ thuật – quy định các bước, thủ tục tiến hành
đánh giá, thử nghiệm, kiểm định, giám định và chứng nhận – nhằm xác định
rằng một sản phẩm/quy trình/dịch vụ đáp ứng các yêu cầu được quy định
trong các tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn kỹ thuật tương ứng; ở Việt Nam hiện
nay chủ yếu áp dụng quy trình kiểm tra nhà nước về chất lượng đối với hàng
hoá xuất khẩu, nhập khẩu căn cứ theo hướng dẫn kỹ thuật tại Quyết định số
1091/1999/QĐ-BKHCNMT ngày 22/6/1999 của Bộ KH, CN & MT (nay là
Bộ Khoa học & Công nghệ).
Về nguyên tắc, nhà xuất khẩu sẽ phải chịu chi phí kiểm tra chất lượng
nếu sản phẩm xuất khẩu của họ thuộc đối tượng phải thực hiện các biện pháp
kiểm tra kỹ thuật. Các quy trình đánh giá sự phù hợp không minh bạch hay
có sự phân biệt đối xử sẽ trở thành những công cụ bảo hộ hữu hiệu (Phụ lục
1 Hiệp định WTO-TBT).
2.2. MỤC TIÊU CỦA HIỆP ĐỊNH WTO-TBT
2.1.2. Bảo vệ an toàn và sức khoẻ con ngƣời
Những dạng quy định khác bao gồm quy định phân loại và định nghĩa, yêu
cầu bao gói, và đo lường (kích cỡ, trọng lượng …) đều nhằm tránh những
hành vi lừa dối người tiêu dùng.
Ngoài ra, quy chuẩn kỹ thuật còn có những mục tiêu khác như vấn đề
chất lượng, hài hoà kỹ thuật, thuận lợi hoá thương mại. Quy chuẩn kỹ thuật 16
về chất lượng – ví dụ: những yêu cầu các loại rau, củ, quả phải đạt được kích
cỡ nhất định mới được đem bán ra thị trường. Quy chuẩn kỹ thuật nhằm hài
hoà những lĩnh vực cụ thể, ví dụ trong lĩnh vực các thiết bị bưu chính viễn
thông đã được áp dụng rộng rãi trong các khu vực thương mại tự do (EU,
NFTA …).
2.3. CÁC NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HIỆP ĐỊNH WTO-TBT
2.3.1. Loại bỏ những rào cản kỹ thuật không cần thiết trong thƣơng mại
Rào cản kỹ thuật trong thương mại phát sinh từ việc xây dựng, ban
hành và áp dụng các quy chuẩn kỹ thuật và quy trình đánh giá sự phù hợp
khác nhau. Nếu một nhà sản xuất tại quốc gia A muốn xuất khẩu sang quốc
gia B, ông ta sẽ phải thoả mãn những yêu cầu kỹ thuật đang được áp dụng
tại quốc gia B, và phải chịu các chi phí tài chính liên quan. Sự khác biệt giữa
các quốc gia về quy chuẩn kỹ thuật và quy trình đánh giá sự phù hợp có thể
xuất phát từ những khác biệt về đặc thù địa lý, mức độ phát triển kinh tế – xã
hội, mức thu nhập của người dân … ví dụ: với những quốc gia có vị trí địa
lý hay bị động đất như Nhật Bản thì phải có những quy định chặt chẽ hơn
mức bình thường cho các sản phẩm xây dựng; những quốc gia thường đối
mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng sẽ đưa ra những mức khí
thải ôtô thấp hơn các nước khác. Mức thu nhập đầu người cao tại các quốc
gia giàu có dẫn đến những đòi hỏi cao hơn đối với các sản phẩm về an toàn
và chất lượng.
Đối với một chính phủ, việc loại bỏ những rào cản không cần thiết đối
của con người, động vật, thực vật, môi trường, hoặc nhằm ngăn chặn những
hành vi trái phép, ở một mức độ thích hợp ”. Tuy nhiên, các nước thành viên
bị giới hạn ở yêu cầu là các quy chuẩn kỹ thuật của họ “ không đuợc xây 18
dựng, chấp nhận, hay áp dụng nhằm tạo ra những cản trở không cần thiết
đối với thương mại” (Điều 2.2 Hiệp định TBT).
- Tiêu chí xác định rào cản kỹ thuật trong thương mại
Rào cản kỹ thuật trong thương mại có thể phát sinh khi:
(a) Một quy định chặt chẽ hơn mức cần thiết để đạt được một mục tiêu
pháp lý bảo hộ.
(b) Khi nó không hướng tới hoàn thành một mục tiêu hợp lý.
Điều 2.2 của Hiệp định TBT xác định những mục tiêu chính đáng
(legitimate objectives) bao gồm: các yêu cầu an ninh quốc gia, ngăn chặn
những hành vi lừa dối, bảo hệ sức khoẻ con người hoặc an toàn, bảo vệ động
vật và thực vật hoặc môi trường .
Một quy chuẩn kỹ thuật chặt chẽ hơn mức cần thiết khi phương thức
quản lý có thể được thực hiện thông qua những biện pháp thay thế mà mức
độ tác động đến thương mại tích cực hơn. Các yếu tố mà các thành viên
WTO có thể sử dụng để đánh giá rủi ro là: thông tin khoa học và kỹ thuật
sẵn có, công nghệ hoặc sử dụng giai đoạn cuối của sản phẩm.
2.3.3. Quy trình đánh giá sự phù hợp
Nghĩa vụ loại bỏ những rào cản không cần thiết trong thương mại
cũng được áp dụng cho các quy trình đánh giá sự phù hợp. Một rào cản
không cần thiết đối với thương mại có thể là quy trình chặt chẽ hơn bình
2.3.5. Hài hoà tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật
Xuất phát từ mục tiêu thuận lợi hoá thương mại, thúc đẩy chuyển giao
công nghệ từ quốc gia phát triển sang các nước đang phát triển; trong Lời
nói đầu, các Điều 2.6, 2.7 và Điểm G Phụ lục 3 Hiệp định WTO-TBT đã
khẳng định các quốc gia thành viên có nghĩa vụ tiến hành các hoạt động hài
hoà quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn. 20
Trong thực tế, khó khăn thường phát sinh khi hàng hoá của một quốc
gia này xuất khẩu sang một quốc gia khác là sự khác biệt về quy chuẩn kỹ
thuật, tiêu chuẩn giữa các nước do đặc thù địa lý, khí hậu, tập quán, tôn giáo
… . Nếu một công ty phải điều chỉnh dây chuyền sản xuất của mình nhằm
thoả mãn với các yêu cầu kỹ thuật khác biệt trong những thị trường xuất
khẩu đơn lẻ, thì chi phí sản xuất cho một đơn vị sản phẩm sẽ tăng lên. Điều
này sẽ tác động mạnh đến hoạt động của các doanh nghiệp có quy mô vừa
và nhỏ.
Hài hoà các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn là rất cần thiết cho việc lắp
ráp, tương thích giữa các bộ phận của sản phẩm. Ví dụ như các thiết bị viễn
thông, bộ phận xe hơi. Thiếu tính tương thích kỹ thuật có thể tạo ra rào cản
đối với thương mại quốc tế. Ví dụ, ti vi sử dụng tại thị trường Hoa Kỳ có thể
sẽ không bán được tại thị trường Châu Âu do sự khác nhau về các hệ phát
mầu (NTSC đối lại PAL hoặc SECAM). Tương tự, để có thể tiêu thụ hàng
hoá tại Liên hiệp Vương Quốc Anh, thì xe ôtô sản xuất tại Pháp hoặc Đức
cần chuyển tay lái sang bên phải. Chi phí cho việc thiết kế, sản xuất, chuyển
giao cùng một loại sản phẩm hàng hoá có đặc thù đa dạng sẽ tăng cao.
Hài hoà kỹ thuật cũng làm tăng lợi ích sử dụng và tính tiện nghi của
sản phẩm cho khách hàng. Một môi trường cạnh tranh và hài hoà sẽ đảm bảo
cho người tiêu dùng được chọn lựa các sản phẩm rộng rãi với giá cả hấp dẫn
hơn. Tuy nhiên, những tiêu chuẩn hài hoà không vượt ra ngoài việc thực
công nghệ cơ bản” (Điều 5.4 Hiệp định WTO-TBT).
2.3.6. Tham gia các tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế
Tham gia rộng rãi vào hoạt động của các tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc
tế có thể đảm bảo rằng các tiêu chuẩn quốc tế sẽ thể hiện, phản ánh được lợi
ích kinh tế và đặc thù nền sản xuất của quốc gia đó. Hiệp định WTO-TBT 22
khuyến khích các nước thành viên tham gia sâu, trong khả năng nguồn lực
của mình, vào các hoạt động kỹ thuật như xây dựng tiêu chuẩn (Điều 2.6) và
các hướng dẫn hoặc khuyến nghị về các quy trình đánh sự phù hợp (Điều
5.5). Hiện nay, Nhật Bản, Hoa Kỳ và EU đang thực hiện rất tốt vấn đề này,
do vậy các tiêu chuẩn quốc tế ban hành thường có lợi cho các doanh nghiệp
xuất khẩu của họ, góp phần thúc đẩy sự bành trướng thương mại của các
nước này ra toàn cầu.
2.3.7. Đối xử đặc biệt và khác biệt
Áp dụng và thực thi tiêu chuẩn quốc tế có thể nằm ngoài khả năng
nguồn lực kỹ thuật và tài chính của các quốc gia đang phát triển. Hiệp định
TBT đã giảm nhẹ sự tác động của một số điều luật nhất định, mà nếu áp
dụng triệt để có thể sẽ không thích hợp cho một số thành viên đang phát
triển của WTO về mặt tăng trưởng, thương mại, tài chính. Tuy nhiên, xét
dưới góc độ các điều kiện kinh tế-xã hội và cộng nghệ của họ, thành viên
WTO là quốc gia phát triển có thể điều chỉnh các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu
chuẩn hoặc phương pháp thử nghiệm của mình nhằm đảm bảo các quy trình,
công nghệ, phương pháp sản xuất mang đặc thù bản địa phù hợp với nhu cầu
phát triển của mình (Điều 12.4 Hiệp định WTO-TBT). Mặt khác, các thành
viên WTO là quốc gia đang phát triển có thể yêu cầu các tổ chức tiêu chuẩn
hoá quốc tế xem xét khả năng xây dựng những tiêu chuẩn quốc tế thể hiện
2.3.8. Thừa nhận lẫn nhau
Như đã giải thích ở phần trên, việc đảm bảo chất lượng sản phẩm phù
hợp với các quy chuẩn kỹ thuật có ảnh hưởng tới thương mại quốc tế. Đặc
biệt nếu sản phẩm được xuất khẩu sang nhiều thị trường thì sẽ phải chịu
nhiều hoạt động kiểm tra, giám định chất lượng. Nhà sản xuất sẽ gặp khó 24
khăn trong việc có được sự công nhận chất lượng sản phẩm của mình tại các
thị trường nước ngoài khác nhau, những khó khăn này có thể phát sinh trong
trường hợp các cơ quan kiểm tra chất lượng tại cửa khẩu nước nhập khẩu
không chấp nhận các quy trình, kết quả thử nghiệm tại nước xuất khẩu (dù là
phương pháp tối ưu) vì sự quan liêu, trì trệ hoặc do tác động, ảnh hưởng của
những nhóm bảo hộ sản xuất trong nước; (ví dụ nước chấm Chin Su của VN
khi nhập vào Vương quốc Bỉ bị cấm nhập do phát hiện mức MDCA cao hơn
mức chỉ tiêu của Bỉ. Dù các xét nghiệm và kết luận của hội đồng khoa học
Việt Nam kết luật mức MDCA của nước chấm Chin Su phù hợp với tiêu
chuẩn quốc tế Codex ; nhưng khuyến cáo của Bỉ (cao hơn yêu cầu tiêu
chuẩn quốc tế Codex) không chỉ ngăn cản sản phẩm Chin Su vào thị trường
Bỉ mà còn ảnh hưởng tới mức tiêu thụ sản phẩm Chin Su ngay tại thị trường
trong nước). Với bất cứ lý do nào, những thay đổi về quy trình và phương
pháp thử cũng làm tăng chi phí cho nhà sản xuất khi bán ra các thị trường
nước ngoài.
2.3.9. Thừa nhận lẫn nhau các quy trình đánh giá sự phù hợp
Một trong những khó khăn chủ yếu mà nhà xuất khẩu gặp phải là chi
phí thử nghiệm và chứng nhận sản phẩm trùng lặp làm tăng giá thành sản
phẩm. Những chi phí này có thể tiết giảm đáng kể nếu một sản phẩm chỉ bị
kiểm tra chất lượng một lần nhưng kết quả thử nghiệm của nó được chấp tại