ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN VĂN HẢI MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ
PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ CỦA WTO
CHUYÊN NGÀNH : LUẬT QUỐC TẾ
MÃ SỐ : 60 38 60 LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. BÙI NGỌC CƯỜNG HÀ NỘI – NĂM 2007
xu hƣớng phát triển
22
1.2.3. Một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng lạm dụng biện
pháp chống bán phá giá trong thƣơng mại quốc tế
26
1.2.3.1. Các quy định của pháp luật về chống bán phá giá
còn phúc tạp
26
1.2.3.2. Tự do hóa thƣơng mại dẫn đến tình trạng lạm dụng
biện phá chống bán phá giá
28
1.2.3.3. Yếu tố chính trị trong các vụ kiện bán phá giá
29
1.3. Tác động của chống bán phá giá đối với thƣơng mại quốc tế và
các nƣớc đang phát triển
32
1.3.1. Tác động tới các hoạt động thƣơng mại
32
1.3.2. Ảnh hƣởng tới mở rộng thƣơng mại
34
1.3.3. Chệch hƣớng thƣơng mại
35
Chƣơng 2. MỘT SỐ QUY ĐỊNH CƠ BẢN CỦA WTO VỀ CHỐNG
BÁN PHÁ GIÁ VÀ MỨC ĐỘ TƢƠNG THÍCH CỦA PHÁP LUẬT
36
4
VIỆT NAM
2.1. Một số quy định cơ bản của WTO về chống bán phá giá
37
55
2.1.3.4. Quyết định áp thuế chống bán phá giá
59
2.1.4. Rà soát
60
2.1.5. Khiếu kiện và giả quyết tranh chấp giữa các quốc gia
thành viên
62
2.2. Vấn đề về nền kinh tế phi thị trƣờng (NME) trong pháp luật
chống bán phá giá
65
2.3. Mức độ tƣơng thích của pháp luật Việt Nam so với các quy
định của WTO về chống bán phá giá
75
Chƣơng 3. THỰC TIỄN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁI CỦA MỘT SỐ
MƢỚC, NHỮNG ĐỀ XUẤT CHO VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VÀ ĐỐI PHÓ VỚI CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
CỦA VIỆT NAM
79
3.1. Thực tiễn chống bán phá giá của một số nƣớc
79
5
3.1.1. Trung Quốc
79
3.1.2. Các nƣớc khối ASEAN
85
3.1.3. Vụ điều tra bán phá giá của Trung Quốc
88
3.1.4. Vụ kiện giữa EC và Ấn Độ
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
ADA
Hiệp định về Chống bán phá giá của
WTO (Anti-dumping Agreement)
BPG
Bán phá giá
CBPG
Chống bán phá giá
DSB
Cơ quan giải quyết tranh chấp của
WTO (Dispute Settlement Body)
DOC
Bộ Thƣơng mại Hoa Kỳ
GATT 1947
Hiệp định chung về thuế quan và
thƣơng mại 1947
GATT 1994
Hiệp định chung về thuế quan và
thƣơng mại 1994
Giá XK
Giá xuất khẩu
Giá TTT
Giá trị thông thƣờng
BĐPG
Biên độ phá giá
SPTT
Sản phẩm tƣơng tự
NME
Nền kinh tế phi thị trƣờng
ME
vài thành viên khác. Điều đó càng khiến cho Việt Nam (đặc biệt là các doanh
8
nghiệp Việt Nam) khó tự bảo vệ mình trƣớc những cáo buộc bán phá giá của
các nƣớc khác khi tham gia vào quan hệ thƣơng mại quốc tế.
Đối với nhiều doanh nghiệp Việt Nam, thuế chống bán phá giá không
chỉ còn là nguy cơ mà đã trở thành sự thật hiện hữu nhƣ: tỏi, giầy da, bật lửa
ga, gạo…của Việt Nam đã phải đối mặt với những vụ điều tra chống bán phá
giá. Hoa Kỳ cũng đã áp đặt thuế chống bán phá giá đối với cá Basa và cá Tra
- philê đông lạnh, tôm nhập khẩu từ Việt Nam. Đó là những bài học đắt giá
mà các doanh nghiệp của chúng ta đã và đang phải trả khi tham gia vào các
mối quan hệ thƣơng mại quốc tế mà không có sự chuẩn bị kỹ, thiếu những
hiểu biết đầy đủ và sâu sắc về pháp luật chống bán phá giá của các nƣớc khác.
Nhƣ vậy, Việt Nam với tƣ cách là thành viên chính thức của Tổ chức
Thƣơng mại thế giới - WTO, bên cạnh những ràng buộc về nghĩa vụ cắt giảm
thuế quan, mở cửa thị trƣờng là những cơ hội cho xuất khẩu hàng hóa của
mình ra thị trƣờng thế giới ngày càng nhiều hơn, đồng thời nguy cơ trở thành
bị đơn trong các vụ kiện chống bán phá giá đang có xu hƣớng gia tăng, ảnh
hƣởng trực tiếp tới quyền, lợi ích của các doanh nghiệp. Do đó, đã đến lúc
chúng ta phải nhìn nhận một cách sâu sắc rằng chống bán phá giá là một thách
thức, đặc biệt là các doanh nghiệp Việt Nam cần phải đƣợc trang bị đầy đủ
những kiến thức về lĩnh vực này để có thể chủ động xây dựng chiến lƣợc sản
xuất - kinh doanh phù hợp nhất. Đồng thời đấu tranh một cách có hiệu quả
nhất mỗi khi bị cáo buộc bán phá giá vào thị trƣờng nƣớc khác trong hoạt
động thƣơng mại quốc tế cũng nhƣ bảo vệ ngành sản xuất của mình trƣớc
nguy cơ bị bán phá giá hàng hóa nhập khẩu từ nƣớc ngoài vào thị trƣờng Việt
Nam.
Với mong muốn góp thêm sức mình vào việc tìm hiểu các quy định
pháp luật về chống bán phá giá của WTO, phân tích, đánh giá những nội dung
III. Mục đích và nhiệm vụ của Luận văn:
Phân tích, tìm hiểu những quy định cơ bản trong Pháp luật về chống
bán phá giá của WTO, thực tiễn và kinh nghiệm của một số quốc gia thành
viên WTO trong việc áp dụng các quy định pháp luật chống bán phá giá, so
sánh với các quy định của pháp luật và thực tiễn Việt Nam. Trên cơ sở đó,
đƣa ra một số đề xuất cho việc xây dựng và thực thi pháp luật về chống bán
phá giá của Việt Nam nhằm bảo đảm sự tƣơng thích với những quy định của
WTO. Đồng thời, đƣa ra một số khuyến cáo cho các doanh nghiệp trong việc
phòng tránh và hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại từ các vụ kiện chống bán
phá giá khi tham gia các quan hệ thƣơng mại quốc tế.
IV. Phạm vi nghiên cứu:
Pháp luật về chống bán phá giá của WTO là lĩnh vực lớn và hết sức
phức tạp. Trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả không đặt mục tiêu đi
xem xét chi tiết, cụ thể tất cả các vấn đề về chống bán phá giá mà chỉ tập
trung nghiên cứu một số vấn đề cơ bản sau đây:
- Những nội dung cơ bản của Hiệp định chống bán phá giá của WTO
trong việc xác định bán phá giá, xác định thiệt hại, điều tra và áp dụng các
biện pháp chống bán phá giá.
- Kinh nghiệm và thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật chống bán
phá giá của một số nƣớc thành viên WTO.
- Các quy định pháp luật về chống bán phá giá của Việt Nam, thực tiễn
ứng phó trƣớc các vụ kiện bán phá giá đối với hàng hóa xuất khẩu từ Việt
Nam.
11
V. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Việc nghiên cứu đề tài đƣợc dựa trên cơ sở những quan điểm của Chủ
nghĩa Mác – Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, đƣờng lối đổi mới của Đảng cộng
sản Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Đồng thời tác giả cũng vận dụng tổng hợp các phƣơng pháp duy vật
mạnh.
Trong ngôn ngữ thông thƣờng, bán phá giá đƣợc hiểu là: “ tổng hợp
những biện pháp bán hạ giá một số mặt hàng xuất khẩu nào đó để cạnh tranh
nhưng có hiệu quả với bạn hàng khác trên thị trường thế giới. Mục tiêu là
đánh bại đối thủ, chiếm lĩnh thị trường ngoài nước hoặc kiếm ngoại tệ khẩn
cấp, có khi cả mục tiêu chính trị. Những hình thực cổ điển là chiếm độc quyền
sản xuất, buôn bán và lũng đoạn giá cả. Để BPG, các tổ chức độc quyền có
thể dựa vào chính sách nhà nước: hỗ trợ xuất khẩu bằng trợ giá, miễn, giảm
thuế, hạ thấp tiền lương của công nhân. Đặc trưng của hình thức BPG là bán
theo giá rẻ, thậm chí thấp hơn cả giá thành. Sau khi đối thủ bị đánh bại, các
tổ chức độc quyền chiếm thị trường và nâng giá lên (giá độc quyền) để thu lợi
nhuận cao. BPG dẫn đến những hậu quả: sản xuất của các nước nhập hàng
BPG bị đình đốn vì không cạnh tranh nổi với hàng nhập; nước bán phá giá
chịu gánh nặng về trợ giá xuất khẩu; gây không khí chiến tranh thương mại,
làm rối loạn thị trường thế giới;…”, [12]
13
Trong các văn bản pháp luật, theo khoản 3, Điều 4, Pháp lệnh Giá năm
2002 thì “ bán phá giá là hành vi bán hàng hóa, dịch vụ với giá quá thấp so
với giá thông thường trên thị trường Việt Nam để chiếm lĩnh thị trường, hạn
chế cạnh tranh đúng pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ
chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh và lợi ích của nhà nước” [7, Đ4], tuy
nhiên định nghĩa bán phá giá này chỉ đề cập đến hàng hóa, dịch vụ đƣợc sản
xuất trong nƣớc và việc bán phá giá tại thị trƣờng trong nƣớc (còn gọi là bán
phá giá trong thƣơng mại nội địa).
Khi Pháp lệnh Chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam
đƣợc Quốc hội thông qua ngày 29/4/2004, theo Điều 2, khoản 2 thì “Biên độ
phá giá là khoảng cách chênh lệch có thể tính được giữa giá thông thường
của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam so với giá xuất khẩu hàng hóa đó vào
Việt Nam”, ở đây điều luật không định nghĩa một cách trực tiếp khái niệm
tại nƣớc xuất khẩu theo điều kiện thƣơng mại thông thƣờng.
1.1.2. Bán phá giá - hành vi không lành mạnh trong thƣơng mại
quốc tế
Trong thƣơng mại quốc tế, một sản phẩm đƣợc coi là bán phá giá khi
giá xuất khẩu của sản phẩm đó thấp hơn giá thông thƣờng của sản phẩm
tƣơng tự bán trong nƣớc. Về bản chất, bán phá giá trong thƣơng mại quốc tế
là hành vi phân biệt giá cả: đối với cùng một sản phẩm hoặc sản phẩm tƣơng
tự, nhƣng giá xuất khẩu sang nƣớc khác (nƣớc nhập khẩu) lại thấp hơn giá
tiêu thụ nội địa của nƣớc xuất khẩu. Thông thƣờng, bán phá giá luôn bị coi là
một trong những hành vi thƣơng mại không công bằng, bóp méo hoạt động
15
thƣơng mại bình thƣờng, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại tới ngành
công nghiệp của nƣớc nhập khẩu.
Chẳng hạn với mục tiêu chiếm lĩnh thị trường: Một hãng nƣớc ngoài,
với mục tiêu thiết lập vị thế độc quyền ở thị trƣờng nội địa, thực hiện chính
sách bán sản phẩm của mình với giá thấp hơn chi phí lề cho đến khi loại bỏ
hết các đối thủ cạnh tranh khác ra khỏi thị trƣờng mặt hàng đó. Sau khi chiếm
đƣợc thị trƣờng, hãng đó lại nâng giá để khai thác lợi thế độc quyền của mình.
Ngoài tác động làm cho các nhà sản xuất trong nƣớc bị phá sản, hành động
này còn gây thiệt hại cho ngƣời tiêu dùng, làm giảm lợi ích của toàn xã hội
nhƣ trong trƣờng hợp độc quyền khác, và do vậy cần đƣợc áp dụng các biện
pháp chống bán phá giá nhằm loại trừ hoặc hạn chế thiệt hại cho ngành sản
xuất của nƣớc nhập khẩu.
Tuy nhiên, trong một chừng mực nào đó, dƣới góc độ kinh tế, việc bán
phá giá cũng đã đem lại những lợi ích nhất định: dƣới góc độ của nƣớc xuất
khẩu, bán phá giá tạo điều kiện cho nhà sản xuất đẩy mạnh quá trình tiêu thụ
sản phẩm, phát huy tối đa năng lực sản xuất, khả năng tăng lợi nhuận và thâm
nhập thị trƣờng mới; dƣới góc độ của nƣớc nhập khẩu, ngƣời tiêu dùng có
điều kiện hƣởng lợi về giá cả, đƣợc hƣởng lợi từ việc mua đƣợc hàng hóa
Nếu việc bán phá giá này không làm giá ở thị trƣờng nƣớc nhập khẩu
thay đổi (do cạnh tranh ở đây hoàn hảo), sẽ không làm ảnh hƣởng đến lợi ích
của nƣớc nhập khẩu, và vì thế sẽ không cần thiết phải có biện pháp chống lại.
Tuy nhiên, nếu việc bán phá giá này xảy ra với một lƣợng lớn và trong
thời gian dài, làm giảm giá ở thị trƣờng nƣớc nhập khẩu, sẽ gây tác động đến
lợi ích của nƣớc nhập khẩu. Ngƣời tiêu dùng sẽ đƣợc lợi từ giá thấp, nhƣng
17
ngƣợc lại các nhà sản xuất và công nhân trong ngành công nghiệp đó sẽ bị
thiệt hại vì lợi nhuận và lƣơng bị giảm. Lợi ích cuối cùng của nƣớc nhập khẩu
phụ thuộc vào việc lợi ích của ngƣời tiêu dùng có lớn hơn thiệt hại của ngƣời
sản xuất và công nhân hay không. Ngay cả trong trƣờng hợp về tổng thể nƣớc
nhập khẩu bị thiệt hại cũng khó có lý do để áp dụng biện pháp chống bán phá
giá đối với hàng hóa của hãng đó nhằm khắc phục thiệt hại bởi vì hãng đó có
thể lập luận rằng do điều kiện thị trƣờng của nƣớc nhập khẩu là cạnh tranh,
bất kỳ hãng nào cũng có thể tham gia thị trƣờng đó và làm cho giá giảm
xuống. Tuy nhiên, để khắc phục thiệt hại, nƣớc nhập khẩu có thể áp dụng các
biện pháp đƣợc phép khác nhƣ tự vệ.
- Trƣờng hợp thứ hai: Giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất.
Trƣớc hết, để hiểu đƣợc ý nghĩa kinh tế của việc bán phá giá thấp hơn
chi phí, cần phân biệt các loại chi phí. Thông thƣờng, chi phí sản xuất đƣợc
phân biệt theo 2 loại: chi phí bình quân và chi phí lề. Chi phí bình quân đƣợc
tính bằng tổng tất cả các chi phí một hãng phải chịu chia cho lƣợng sản phẩm
sản xuất ra. Chi phí lề là chi phí phải bỏ ra để sản xuất thêm một đơn vị sản
phẩm. Sự phân biệt này có ý nghĩa quan trọng trong ngắn hạn khi nhiều loại
chi phí sản xuất là cố định, không phụ thuộc vào số lƣợng sản xuất, chỉ có
một phần nhỏ chi phí sản xuất là thay đổi khi lƣợng sản xuất thay đổi. Chính
chi phí lề là yếu tố quyết định trong việc định giá của một hãng trong thời
gian ngắn hạn khi phải chịu chi phí nhất định để thâm nhập một thị trƣờng
[14, tr 4-6].
Từ quan điểm cho rằng bán phá giá là hành vi không lành mạnh trong
thƣơng mại quốc tế cho nên một số nƣớc đã có những đạo luật về chống bán
19
phá giá trong thƣơng mại quốc tế từ rất sớm nhƣ: tại Canada, năm 1904 các
quy định về chống bán phá giá đã đƣợc thông qua, dựa trên việc sửa đổi Đạo
luật thuế hải quan năm 1897 của nƣớc này. Tiếp theo đó, vào năm 1905 và
1906, các quy định chống bán phá giá đã lần lƣợt đƣợc New Zealand và
Australia áp dụng. Năm 1916 Hoa kỳ ban hành Luật chống bán phá giá.
Trong pháp luật thƣơng mại quốc tế, chống bán phá giá đã đƣợc Hiệp
hội các quốc gia (League of Nations) để tâm nghiên cứu ngay từ năm 1922,
nhƣng phải đợi đến năm 1947, với sự ra đời của Hiệp định chung về thuế
quan và thƣơng mại (GATT 1947), vấn đề này mới đƣợc đặt dƣới sự chi phối
của luật quốc tế, thông qua Điều VI của Hiệp định này. Lúc ấy chủ đề này
chƣa đƣợc tranh cãi nhiều và chỉ về sau, khi các dòng thƣơng mại phát triển
ngày càng nhanh, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt và khốc liệt hơn đồng thời
số lƣợng thành viên của GATT cũng tăng lên nhiều hơn thì mới trở thành một
mối quan tâm chính, ngày càng lớn qua các vòng đàm phán tiếp nối nhau.
Hiệp định chung về thƣơng mại và thuế quan (GATT) đƣợc ký kết từ
năm 1947 và ngay sau đó, năm 1948 hệ thống thƣơng mại đa biên đƣợc thiết
lập. Điều VI GATT 1947 đã có quy định liên quan đến trƣờng hợp một ngành
công nghiệp nội địa cho rằng việc bán phá giá đã gây thiệt hại cho ngành sản
xuất của họ. Điều khoản này cho phép nƣớc bị bán phá giá đƣợc áp đặt “thuế
chống bán phá giá” đối với hàng hóa nhập khẩu nhằm loại bỏ tác động của
việc bán phá giá. Mức thuế có thể bằng nhƣng không lớn hơn biên độ bán phá
giá. Cùng với xu hƣớng giảm dần tỷ lệ thuế quan kể từ khi có Hiệp định
GATT 1947 thì việc sử dụng thuế chống bán phá giá cũng tăng lên và Điều
VI không còn tƣơng thích để quy định đầy đủ các vấn đề liên quan đến việc
áp đặt thuế chống bán phá giá. Ví dụ nhƣ, Điều VI yêu cầu việc xác định thiệt
hại đáng kể nhƣng đã không đƣa ra bất kỳ hƣớng dẫn cụ thể nào nhƣ là tiêu
21
Trong những lĩnh vực thuộc thẩm quyền của WTO, pháp luật quốc gia
của một nƣớc thành viên phải phù hợp với các Hiệp định và quy định của
WTO, những văn kiện này đƣợc coi nhƣ một bộ phận của hệ thống pháp lý
quốc gia. Do đó các đạo luật khung về chống bán phá giá của các nƣớc
thƣờng lặp lại tất cả các nguyên tắc của Hiệp định chống bán phá giá, thậm
chí lấy lại nguyên văn của Hiệp định trong trƣờng hợp nhiều nƣớc mới chỉ
ban hành luật này sau khi gia nhập WTO. Để áp dụng các nguyên tắc đó trong
thực tế, mỗi nƣớc có thể có thêm một số điều khoản chi tiết để thi hành, dựa
theo thể chế pháp luật riêng của mình. Nhƣ vậy, về các nguyên tắc chung thì
các luật quốc gia phải đồng nhất nhƣng về nguyên tắc áp dụng thực tiễn thì có
thể có những điểm khác nhau. Một điều đáng lƣu ý là tuy các nƣớc công
nghiệp phát triển đang tiếp tục sử dụng nhiều biện pháp chống bán phá gi thì
đến nay đến nay các nƣớc đang phát triển cũng nhanh chóng áp dụng các biện
pháp này.
Nhƣ một đòi hỏi khách quan, song song với việc hội nhập vào nền
thƣơng mại quốc tế, các nƣớc đang phát triển cũng áp dụng biện pháp chống
bán phá giá nhiều hơn để bảo vệ nền sản xuất còn yếu ớt của chính mình và
các biện pháp chống bán phá giá vừa là cách hữu hiệu nhất vừa phù hợp với
quy định của WTO. Hơn nữa, đối với các nƣớc này, các biện pháp chống bán
phá giá vừa là công cụ của các cƣờng quốc không cho họ thâm nhập thị
trƣờng và mở mang buôn bán, vừa là cái van an toàn cần thiết cho chính họ.
Do đó, sự tranh cãi giữa các nƣớc nghèo và giàu về đề tài chống bán phá giá
còn dai dẳng cho đến nay, các nƣớc nghèo không đặt lại vấn đề chống bán
phá giá về nguyên tắc mà chỉ đòi hỏi sửa đổi, củng cố các điều khoản để tránh
lạm dụng và yêu cầu xác lập một chế độ đặc biệt để giúp đỡ họ. Nói cách
khác, các nƣớc nghèo và các nƣớc đang phát triển không phủ nhận sự cần
thiết của khung pháp lý về chống bán phá giá mà chỉ phê phán cách áp dụng
22
giá.
1.2.2. Chống bán phá giá - công cụ bảo hộ mậu dịch hiện đại và xu
hƣớng phát triển
Bán phá giá thƣờng bị coi là hành vi thƣơng mại quốc tế không công
bằng. Do đó, Chính phủ nhiều nƣớc cho rằng họ cần phải có hành động chống
lại hành vi đó nhằm bảo vệ ngành công nghiệp trong nƣớc mà thông thƣờng là
thông qua việc đánh thuế chống bán phá giá để bù đắp những thiệt hại cho
ngành sản xuất nội địa phải gánh chịu do hành vi bán phá giá gây ra. Để có
thể áp thuế chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu bán phá giá thì
nƣớc nhập khẩu phải chứng minh đƣợc một cách rõ ràng các vấn đề: có việc
bán phá giá; có thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại; có mối quan hệ nhân quả
giữa việc bán phá giá và thiệt hại. Để xác định những vấn đề này, các quốc
gia phải tiến hành các hoạt động theo quy định của pháp luật của quốc gia
mình trên cơ sở không đƣợc trái với các quy định của WTO về chống bán phá
giá. Nhƣ vậy, chống bán phá giá trong thƣơng mại quốc tế là biện pháp hợp
pháp đƣợc các quốc gia thừa nhận.
Mặc dù mục tiêu của các biện pháp chống bán phá giá (cũng nhƣ các
biện pháp chống trợ cấp và tự vệ) đƣợc cho là để loại trừ thiệt hại cho ngành
sản xuất của nƣớc nhập khẩu, đảm bảo sự công bằng trong thƣơng mại quốc
tế nhƣng trong thực tế không đơn giản nhƣ vậy. Các biện pháp chống bán phá
giá đã bị lạm dụng trở thành công cụ bảo hộ có chủ định và hợp pháp cho các
ngành sản xuất trong nƣớc.
Thực tế đã cho thấy, trong bối cảnh tự do hóa thƣơng mại ngày càng trở
nên phổ biến và đặc biệt, khi các biện pháp bảo hộ mang tính truyền thống
24
nhƣ hàng rào thuế quan và phi thuế quan đang từng bƣớc đƣợc cắt giảm thì
biện pháp chống bán phá giá đã đƣợc các nƣớc “khéo léo” sử dụng nhƣ một
công cụ thay thế nhằm bảo hộ cho cho sự yếu kém của ngành sản xuất nội địa.
Trong điều kiện hàng rào thuế quan và phi thuế quan đƣợc cắt giảm, các
biện pháp này đƣợc sử dụng để làm công cụ bảo hộ, không những tác động
tiêu cực đến hoạt động thƣơng mại của nƣớc xuất khẩu, mà việc bảo hộ này
còn làm tổn hại đến nền kinh tế của chính nƣớc sử dụng biện pháp chống bán
phá giá, đặc biệt trong trƣờng hợp nguồn cung cấp không lớn hoặc sản phẩm
bị áp thuế phá giá lại có vai trò của nguyên liệu đầu vào quan trọng của ngành
công nghiệp khác nhƣ thép, điện tử, hóa chất… cũng nhƣ ảnh hƣởng đến lợi
ích của ngƣời tiêu dùng.
Ngày nay, cùng với quá trình toàn cầu hóa và việc cắt giảm các rào cản
thuế quan và phi thuế quan đang diễn ra mạnh mẽ hơn thì chống bán phá giá
vẫn đang đƣợc nhiều quốc gia sử dụng nhƣ là một vũ khí bảo hộ cho các
ngành sản xuất nội địa, trong đó chủ yếu là các ngành công nghiệp truyền
thống nhƣ thép, hóa chất, dệt may và các lĩnh vực khác là các ngành có sức
cạnh tranh yếu do nền tảng công nghệ của chính các quốc gia này. Theo tổng
kết của WTO, từ năm 1995 đến năm 2005, các nƣớc thành viên của WTO đã
tiến hành 2.840 cuộc điều tra chống bán phá giá, trong đó 1.804 cuộc điều tra
đã đi đến kết luận là có bán phá giá và bị áp thuế chống bán phá giá.
Bên cạnh việc các nƣớc công nghiệp phát triển vẫn tiếp tục sử dụng
biện pháp chống bán phá giá thì các nƣớc đang phát triển hoặc nƣớc có nền
kinh tế chuyển đổi cũng nhanh chóng áp dụng các biện pháp này nhiều hơn để
bảo vệ nền sản xuất còn yếu ớt của mình, đứng đầu là Ấn Độ với 316 biện
26
pháp, nhiều hơn Hoa Kỳ (234), Liên minh Châu Âu (219), Nam Phi (113),
Brazil (66) Bên cạnh việc các nƣớc đang phát triển tích cực sử dụng công cụ
chống bán phá giá thì đồng thời cũng là mục tiêu tấn công của các vụ kiện
chống bán phá giá.
Điều đáng quan tâm nữa là trên thực tiễn, việc sử dụng biện pháp chống
bán giá là một phần quan trọng luôn có trong chiến lƣợc kinh doanh của nhiều
ngành công nghiệp nội địa nhằm bảo vệ lợi ích của ngành mình trƣớc sự cạnh
tranh mạnh mẽ và gay gắt từ hàng hóa nhập khẩu. Trong phần lớn các lập