Việc thành lập cơ quan nhân quyền ASEAN và chính sách pháp luật của Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM THỊ THU THUỶ

VIỆC THÀNH LẬP CƠ QUAN NHÂN QUYỀN ASEAN VÀ
CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC



Người hướng dẫn khoa học: TS. HOÀNG NGỌC GIAO

HÀ NỘI - 2009

1
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƢỜI CAM ĐOAN


1.2.2. Nội dung cơ bản của luật quốc tế về quyền con người
17
1.3. Khái quát chung về các cơ chế bảo vệ nhân quyền trên thế giới
20
1.3.1. Cơ chế nhân quyền LHQ
21
1.3.2. Cơ chế nhân quyền châu Âu
24
1.3.3. Cơ chế nhân quyền châu Mỹ
25
1.3.4. Cơ chế nhân quyền châu Phi
26
1.4. Các loại hình cơ quan nhân quyền
27
1.4.1. Uỷ ban nhân quyền
27
1.4.2. Toà án nhân quyền
37
1.4.3. Các cơ quan khác
41
1.5. Một số vấn đề chung rút ra từ việc nghiên cứu các cơ quan nhân
quyền quốc tế

42
1.5.1. Chức năng và thẩm quyền
42

3
1.5.2. Cơ cấu tổ chức và thành viên
43


62
2.4.3.Vị trí của vấn đề quyền con người trong Hiến chương
ASEAN
64
2.5. Việt Nam và vấn đề xây dựng Cơ quan nhân quyền ASEAN
67
2.5.1. Chính sách chung của Việt Nam về bảo vệ quyền con người
67
2.5.2. Hợp tác quốc tế bảo vệ quyền con người của Việt Nam
71
2.5.3. Về hợp hợp tác nhân quyền của Việt Nam trong ASEAN
73
CHƢƠNG 3 - CƠ QUAN NHÂN QUYỀN ASEAN: PHƢƠNG
THỨC ĐẢM BẢO HOẠT ĐỘNG, XU HƢỚNG HOÀN
THIỆN VÀ CÔNG TÁC CHUẨN BỊ CỦA VIỆT NAM 79
3.1. Cơ quan nhân quyền ASEAN
79

4
3.1.1. Mục đích của AICHR
79
3.1.2. Nguyên tắc hoạt động
80
3.1.3. Chức năng và nhiệm vụ
81
3.1.4. Cơ cấu tổ chức

112

5
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1.
ASEAN:
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
2.
AICHR:
Uỷ ban liên chính phủ ASEAN về nhân quyền
3.
AMM:
Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao các nước ASEAN
4.
CAT:
Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử hoặc
trừng phạt một cách tàn nhẫn, vô nhân đạo hay hạ thấp nhân
phẩm
5.
CQNQ:
Cơ quan nhân quyền
6.
CRC:
Công ước về quyền trẻ em
7.
CSOs:
Các tổ chức xã hội dân sự
8.
ĐHĐ:

Các tổ chức phi chính phủ
18.
TOR:
Quy chế tham chiếu của Uỷ ban liên chính phủ ASEAN về
nhân quyền

6
DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang
1.
Bảng 1.1. Bảng biểu thống kê các phán quyết được Toà án nhân
quyền châu Âu tuyên từ năm 1959 đến năm
2008 45
2.
Bảng 2.2. Một số điều ước nhân quyền quan trọng mà các nước
ASEAN là thành viên

56 7
MỞ ĐẦU
Hiện nay nhân quyền đã trở thành một vấn đề thu hút sự chú ý rộng rãi

chức của cơ quan này mà yêu cầu Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao quyết định.
Trong thời gian tác giả bắt đầu thực hiện đề tài này thì các quốc gia thành
viên ASEAN đang gấp rút xây dựng cơ quan nhân quyền (sau đây gọi là
CQNQ) và đến ngày 20 tháng 7 năm 2009 Quy chế tham chiếu (TOR) của Uỷ
ban liên chính phủ ASEAN về nhân quyền (ASEAN Intergovernmental
Commission on Human Rights, viết tắt là AICHR, tên gọi chính thức của
CQNQ ASEAN) đã được Hội nghị các bộ trưởng ngoại giao (AMM) lần thứ
42 thông qua và dự kiến Quy chế này sẽ được trình lên Hội nghị thưởng đỉnh
ASEAN vào tháng 10 năm 2009 phê duyệt và cơ quan này chính thức vào
hoạt động vào tháng 12 năm 2009. Việt Nam đã cùng với các nước thành viên
khác tham gia xây dựng TOR.
Trước tình hình cơ quan nhân quyền chuẩn bị đi vào hoạt động, cần có
những nghiên cứu và phân tích cơ sở của việc thành lập AICHR nhằm hiểu rõ
được phạm vi hoạt động của cơ quan này trong tương lai, đưa ra những kiến
nghị để cơ quan này hoạt động có hiệu quả và công tác chuẩn bị của Việt
Nam sau khi AICHR đi vào hoạt động, góp phần nâng cao tính chủ động khi
tham gia vào quá trình này. Đồng thời, việc nghiên cứu đề tài này cũng sẽ
giúp cho Việt Nam có cái nhìn rõ hơn trong việc tham gia vào quá trình hoạt
động CQNQ với mục đích vừa bảo vệ lợi ích của Việt Nam vừa thúc đẩy tốt
hơn bảo vệ quyền con người cũng như đóng góp chung vào hợp tác khu vực
và quốc tế, góp phần nâng cao uy tín của Việt Nam trong vấn đề bảo vệ quyền
con người.
Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn về các CQNQ trên thế giới, những
đặc thù của ASEAN và đặc biệt là quan điểm, chính sách của Việt Nam về

9
bảo vệ quyền con người đề tài mong đóng góp một phần nhỏ kiến nghị ủng hộ
cho việc phát triển chính sách của Việt Nam về hợp tác nhân quyền trong
ASEAN cũng như trong việc đề xuất một số kiến nghị giúp cơ quan này hoạt
động có hiệu quả hơn và công tác chuẩn bị của Việt Nam khi tham gia vào cơ

thách thức khi cơ quan này đi vào hoạt động và đề xuất một số biện pháp
giúp cơ quan này hoạt động hiệu quả cũng như lộ trình để cơ quan này ngày
càng hoàn thiện hơn nhằm theo kịp các cơ chế nhân quyền khu vực. Chương
III cũng phân tích công tác chuẩn bị của Việt Nam và đưa ra kiến nghị về
việc hoàn thiện pháp luật khi AICHR đi vào hoạt động và phát triển.

11
Chƣơng 1 - CƠ SỞ PHÁP LÝ QUỐC TẾ BẢO VỆ QUYỀN CON
NGƢỜI VÀ THỰC TIỄN CÁC CƠ QUAN NHÂN QUYỀN THẾ GIỚI

1.1. Tổng quan về nhân quyền trong Luật quốc tế
Điều 1 Tuyên ngôn nhân quyền thế giới nêu rõ “mọi người sinh ra đều tự
do và bình đẳng về phẩm giá và các quyền”. Do vậy, Nhân quyền tất cả
những quyền và tự do cơ bản mà bất kỳ con người nào sinh ra đều có. Tuy
nhiên, để được thừa nhận rộng rãi hiện nay trên thế giới, thì khái niệm nhân
quyền đã trải qua một quá trình lịch sử lâu dài gắn với lịch sử phát triển và
giải phóng con người qua các hình thái kinh tế-xã hội và các giai đoạn đấu
tranh giai cấp.
Đầu tiên khái niệm nhân quyền có nguồn gốc từ thời Hy Lạp cổ dưới
dạng các quyền tự nhiên của con người như quyền được sống… Trong chế độ
chiếm hữu nô lệ, người nô lệ không được coi là con người, không có và
không được thừa nhận các quyền con người. Chế độ phong kiến so với chế độ
nô lệ là một bước tiến trong việc giành lại quyền tự do và giải phóng con
người trong đó quyền được sống, được sở hữu chính bản thân mình đã được
thừa nhận. Tuy nhiên, quan hệ giữa những người thuộc bộ máy Nhà nước
Phong kiến với nhân dân vẫn là quan hệ giữa một bên là những người có đầy
đủ các quyền và tự do cơ bản của con người, có quyền định đoạt về quyền và
sự sống của người bị trị, với một bên là những người chỉ có được một số
quyền và tự do rất hạn chế. Đến giai cấp tư sản, là giai cấp đầu tiên nêu ngọn
cờ nhân quyền từ các tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, công lý, tuyệt đối hoá

Với phong trào giải phóng dân tộc và quá trình phi thực dân hoá từ
những năm 50-60 của thế kỷ trước, dẫn tới sự ra đời của một loạt các quốc gia

13
đang phát triển, khái niệm nhân quyền được gắn với quyền dân tộc tự quyết.
Quyền dân tộc tự quyết được hiểu là các quyền tự quyết định và tự do lựa
chọn thể chế chính trị, văn hoá, tự do theo đuổi con đường phát triển kinh tế,
xã hội và tự do định đoạt tài nguyên thiên nhiên và của cải của mình, vì lợi
ích của mình, miễn là không phương hại đến các nghĩa vụ quốc tế mà mình đã
cam kết [30, tr.xiv]. Sở dĩ quyền con người gắn liền với quyền dân tộc bởi
những quyền này có mỗi quan hệ chặt chẽ với nhau. Một dân tộc tự do, tự
định đoạt vận mệnh của mình mới có khả năng đảm bảo cho các cá nhân, với
tư cách là một phần của nó, được hưởng một cách đầy đủ những quyền vốn có
của mình. Tự do của cộng đồng và tự do của cá nhân có quan hệ nội tại, chế
định lẫn nhau.
Bên cạnh đó, vài thập kỷ gần đây một học thuyết mới về nhân quyền
cũng được hình thành đó là học thuyết tương đối văn hoá
1
(cultural
relativism). Theo học thuyết này, nhân quyền không chỉ được tiếp cận dưới
góc độ chính trị, pháp lý, kinh tế mà còn cần được xem xét dưới góc độ văn
hoá, bởi nhân quyền cũng có thể được coi là một thành tố văn hoá. Do đó,
khái niệm này chịu sự tác động của đặc điểm riêng của các nền văn hoá. Đây
chính là cách tiếp cận về nhân quyền ở khu vực châu Á, đặc biệt là cộng đồng
ASEAN. Trong báo cáo Băng Cốc năm 1993 các quốc gia ASEAN, cùng các
quốc gia châu Á khác đã khẳng định: “Các quyền con người phải được xét
có tính tới tầm quan trọng của những đặc điểm riêng biệt của quốc gia, khu
vực và sự đa dạng về các nền tảng lịch sử, văn hoá và tôn giáo [4, tr.8]. Điều
này có nghĩa là các quyền của con người sẽ được áp dụng và bảo vệ trên cơ sở
phù hợp với các quy định, chuẩn mực về văn hoá và tôn giáo.

1.2. Luật quốc tế về nhân quyền
1.2.1. Sự phát triển của Luật quốc tế về nhân quyền

15
Luật quốc tế về nhân quyền có một quá trình phát triển lâu dài tuy nhiên
nó thực sự phát triển một cách nhanh chóng từ sau chiến tranh thế giới thứ
hai. Hiến chương LHQ 1945 đã tạo ra một sự thay đổi quyết định khi nêu rõ
một trong các mục tiêu của LHQ là khuyến khích sự tôn trọng nhân quyền tại
các nước thành viên, không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo
(điều 1).
Trước năm 1945, các quốc gia, chính phủ gần như có toàn quyền định
đoạt cách đối xử với người dân và đó là thẩm quyền riêng của các Quốc gia.
Luật quốc tế chỉ can thiệp vào lĩnh vực này ở một khía cạnh rất nhỏ, đó là luật
nhân đạo. Ví dụ như các nước đã ký một số điều ước liên quan tới việc bảo vệ
thường dân trong chiến tranh
2
, điều ước cấm buôn bán nô lệ và trả thù người
da trắng
3

Bên cạnh luật nhân đạo quốc tế, vấn đề bảo vệ quyền con người còn
được thể hiện ở hoạt động bảo hộ ngoại giao quốc gia đối với các nạn nhân là
công dân của mình. Thực tiễn bảo hộ ngoại giao đã dẫn tới hình thành các quy
phạm luật tập quán về chế độ đối xử với người nước ngoài như tập quán về
tiêu chuẩn đối xử tối thiểu, theo đó quốc gia sở tại phải dành cho công dân
nước ngoài một sự đối xử theo những chuẩn mực tối thiểu như quyền được
xét xử công bằng, được đảm bảo về mặt an ninh
Nguyên tắc đối xử với công dân nước ngoài còn được thể hiện ở điểu
khoản đối xử quốc gia được các quốc gia dành cho nhau thông qua các điều
ước quốc tế, theo đó quốc gia sở tại dành cho công dân nước ngoài sự đối xử

40 nước. Đến nay, Công ước này đã được bổ sung bởi 13 Nghị định thư.
Tại châu Mỹ, Công ước châu Mỹ về các quyền con người đã được các
nước thành viên Tổ chức các quốc gia châu Mỹ thông qua năm 1969. Năm
1988, nghị định thư bổ sung cho Công ước, liên quan tới các quyền kinh tế,
xã hội và văn hoá đã được ký kết. Ngoài ra, các nước châu Mỹ còn thông qua

17
một số Công ước khác như Công ước về chống tra tấn (năm 1985) và Công
ước về tị nạn lãnh thổ và ngoại giao (1954).
Tại châu Phi, trong khuôn khổ Tổ chức thống nhất châu Phi, các nước
thành viên đã thông qua Hiến chương về quyền con người và quyền các dân
tộc năm 1981, có hiệu lực năm 1986.
Tại châu Á, đến nay chưa có một văn kiện chung nào về nhân quyền
được thông qua. Vấn đề về nhân quyền chủ yếu được bàn thảo trên các diễn
đàn chính thức hoặc phi chính thức, các trung tâm nghiên cứu về nhân quyền
và hoạt động của các tổ chức phi chính phủ. Cho đến nay, tại châu Á, vấn đề
nhân quyền mới được quan tâm một cách chính thức nhất tại ASEAN, dù rằng
những thành tựu đạt được vẫn còn khiêm tốn so với các khu vực khác trên thế
giới.
Vấn đề nhân quyền là một vấn đề được cả thế giới quan tâm, tuy mỗi
châu lục, mỗi khu vực hoặc mỗi quốc gia lịch sự phát triển của nhân quyền có
khác nhau nhưng tất cả đều đang nỗ lực cho việc bảo vệ các quyền lợi chính
đáng của con người ở châu lục mình, khu vực mình cũng như quốc gia mình.
1.2.2. Nội dung cơ bản của luật quốc tế về quyền con người
Những nội dung của luật quốc tế về quyền con người được quy định
trong Bộ luật quốc tế về quyền con người của LHQ, các công ước điều chỉnh
riêng biệt liên quan đến quyền con người và các Hiến chương hoặc Công ước
của các châu lục về quyền con người.
Bộ luật quốc tế về quyền con người bao gồm Tuyên ngôn thế giới về
quyền con người; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa;

phân biệt đối xử với phụ nữ, công ước quốc tế về quyền trẻ em…
Đối với các quy định trong các Hiến chương, Công ước của các châu lục,
châu Âu là châu lục ký kết các quy định bảo vệ quyền con người sớm nhất, đó

19
là Công ước bảo vệ các quyền tự do của con người và 13 nghị định thư bổ
sung liên quan tới các quyền tài sản, quyền được học hành, quyền tự do tôn
giáo và quyền tự do bầu cử (nghị định thư số 1); quyền tự do đi lại (nghị định
thư số 4); các quyền được đảm bảo trong xét xử (nghị định thư số 7)
Công ước châu Mỹ về quyền con người thừa nhận các quyền và tự do cơ
bản như quyền được sống, được đảm bảo về an ninh và toàn vẹn về thân thể,
các quyền tự do tôn giáo, hội họp, ngôn luận, Bên cạnh đó Công ước còn
bảo vệ các quyền đối với tên gọi, quốc tịch, sở hữu cá nhân, gia đình, con cái.
Công ước thiết lập một mỗi quan hệ giữa các quyền và nghĩa vụ, theo đó,
quyền của mỗi cá nhân bị giới hạn bởi quyền của các cá nhân khác, an ninh
của toàn xã hội và những di sản chung. Công ước cũng được bổ sung bởi nghị
định thư trong đó công nhận quyền của người dân được hưởng một môi
trường trong sạch và cho phép cá nhân có thể khiếu kiện trực tiếp lên Uỷ ban
nhân quyền liên Mỹ trong một số trường hợp họ bị xâm phạm.
Hiến chương về quyền con người và quyền các dân tộc của Tổ chức
thống nhất châu Phi cũng công nhận các quyền chính trị, dân sự gắn liền với
các quyền kinh tế, xã hội. Đồng thời, Hiến chương còn thể hiện sự tiến bộ ở
chỗ bên cạnh các quyền truyền thống, nó bổ sung thêm các quyền sở hữu,
quyền có việc làm, quyền được chăm sóc sức khoẻ và quyền được học hành.
Ngược lại, Hiến chương cũng nêu rõ nghĩa vụ của cá nhân đối với gia đình và
cộng đồng. Về quyền của các dân tộc, Hiến chương thừa nhận các dân tộc có
quyền tự định đoạt đối với tài nguyên thiên nhiên, quyền được phát triển kinh
tế và quyền được tồn tại trong một môi trường toàn cầu thuận lợi.
Đối với khu vực châu Á việc hợp tác nhằm nâng cao hiểu biết, thúc đẩy
thực hiện một số quyền con người, nổi bật là những hoạt động vì sự phát triển

.

4
Ví dụ: việc thành lập ra các Uỷ ban như Uỷ ban về xoá bỏ các hình thức phân biệt chủng tộc, Uỷ ban về
xoá bỏ sự đối xử bất bình đẳng với phụ nữ, Uỷ ban quyền trẻ em là những Uỷ ban được thành lập theo các
công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (1966), công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt
đối xử với phụ nữ (1979) và công ước quyền trẻ em.
5
Ví dụ: Đại hội đồng LHQ, Uỷ ban kinh tế xã hội là những cơ quan chính của LHQ có thẩm quyền rộng lớn
và hoạt động của những cơ quan này có thể có liên quan đến việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền.

21
Với hình thức thứ nhất, các cơ quan giám sát được thành lập sẽ chỉ có
thẩm quyền giải quyết các vấn đề liên quan đến việc tuân thủ nghĩa vụ điều
ước của các quốc gia thành viên và chỉ áp dụng những quy phạm pháp luật
quốc tế của điều ước đó. Chức năng quyền hạn và cơ chế hoạt động của cơ
quan này được xác định rõ ràng trong điều ước.
Với hình thức thứ hai, các cơ quan này có thẩm quyền rất lớn, tuỳ thuộc
vào cam kết hợp tác của các quốc gia thành viên khi thành lập ra tổ chức đó
và chức năng nhiệm vụ bảo vệ nhân quyền là một trong những lĩnh vực thuộc
thẩm quyên của cơ quan này. Theo đó, các vấn đề nhân quyền sẽ được giải
quyết trong khuôn khổ quyền hạn chung được ghi nhận tại văn bản thành lập
của tổ chức quốc tế đó.
Hiện nay có hai loại cơ chế bảo vệ quyền con người đã được thành lập
trên thực tế. Thứ nhất là cơ chế nhân quyền ở phạm vi toàn cầu được thành
lập theo các điều ước nhân quyền có phạm vi thành viên rộng lớn hoặc thành
lập trong khuôn khổ tổ chức toàn cầu. Cơ chế này được gọi chung là cơ chế
nhân quyền của LHQ. Thứ hai là cơ chế nhân quyền ở cấp độ khu vực. Hiện
nay, có ba khu vực đã thành lập được cơ chế nhân quyền là châu Âu, châu Mỹ
và châu Phi.

pác-thai, bảo vệ người tỵ nạn, người không quốc tịch, quyền của phụ nữ, trẻ
em, thanh niên, người nước ngoài, người không có nơi cư trú, người bị tàn tật,
vấn đề nô lệ, hôn nhân, chống tra tấn, phát triển và tiến bộ xã hội
- Hội đồng Kinh tế - xã hội (HĐKT-XH), theo điều 62 của Hiến
chương LHQ, có thể "đưa ra các khuyến nghị nhằm mục đích thúc đẩy việc
tôn trọng và tuân thủ các quyền và tự do cơ bản của con người cho tất cả mọi

6
Các cơ quan trực thuộc bao gồm: Uỷ ban đặc biệt về phi thực dân hoá, Uỷ ban đặc biệt chống A-pac-thai,
Uỷ ban đặc biệt điều tra vi phạm nhân quyền của Isarel tại các vùng chiếm đóng, Uỷ ban về thực hiện quyền
của nhân dân Palestin, Cao uỷ LHQ về nhân quyền, Cao uỷ LHQ về người tỵ nạn.

23
người". Hội đồng cũng có thể soạn các dự thảo Công ước để trình lên ĐHĐ
và triệu tập các hội nghị quốc tế về vấn đề quyền con người.
- Hội đồng nhân quyền (HĐNQ): được thành lập năm 2005 thay thế Uỷ
ban nhân quyền thành lập năm 1946. Đây là một nỗ lực của LHQ để đưa vấn
đề nhân quyền trở thành một trong ba trụ cột chính cùng với hoà bình an ninh
và phát triển. HĐNQ kế thừa các chức năng của Uỷ ban nhân quyền đó là tiến
hành các nghiên cứu, chuẩn bị các khuyến nghị và soạn thảo các điều ước
quốc tế về quyền con người; thực hiện những nhiệm vụ đặc biệt do ĐHĐ hoặc
HĐKT-XH giao cho, trong đó có việc điều tra các tố cáo về các vụ vi phạm
quyền con người và xử lý các thông tin liên quan đến các vụ việc vi phạm
quyền con người. Hội đồng còn giúp HĐKT-XH trong việc điều phối các hoạt
động về quyền con người trong hệ thống LHQ. Ngoài ra, theo Nghị quyết
A/60/251, trong năm đầu tiên, HĐNQ có nhiệm vụ xây dựng một cơ chế mới
là Kiểm điểm định kỳ tình hình thực nhân quyền của các nước trên thế giới.
- Hội đồng bảo an (HĐBA): là cơ quan đảm nhận trách nhiệm hàng đầu
trong việc duy trì hoà bình và an ninh quốc tế trong đó có những trường hợp
bao gồm cả các nhân tố có liên quan đến quyền con người.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status