Vấn đề kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài theo Pháp luật Việt Nam, so sánh với Pháp luật một số nước trên thế giới - Pdf 25

1

2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG NHƯ THÁI
VẤN ĐỀ KẾT HÔN GIỮA CÔNG DÂN VIỆT NAM
VÀ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM,
SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Chuyên ngành : Luật quốc tế
Mã số : 60 38 60
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2012
Công trình được hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng MỞ ĐẦU
1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾT HÔN VÀ GIẢI
QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN CÓ
YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI
5
1.1.
Khái niệm, nguyên nhân dẫn đến xung đột pháp luật về kết
hôn có yếu tố nước ngoài
5
1.1.1.
Khái niệm kết hôn có yếu tố nước ngoài
5
1.1.2.
Nguyên nhân dẫn đến xung đột pháp luật về kết hôn
10
1.2.


1.4.3.
Tập quán quốc tế
28
1.4.4.
Mối quan hệ giữa các loại nguồn pháp luật điều chỉnh quan
hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài
29

Chương 2: NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN GIỮA
CÔNG DÂN VIỆT NAM VÀ NGƢỜI NƢỚC NGOÀI SO
SÁNH VỚI PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƢỚC TRÊN THẾ
GIỚI
32
2.1.
Giải quyết vấn đề kết hôn giữa công dân Việt Nam và người
nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam so sánh với
pháp luật một số nước trên thế giới
32
2.1.1.
Giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn giữa công
dân Việt Nam và người nước ngoài so sánh với pháp luật một
số nước trên thế giới
32
2.1.2.
Giải quyết xung đột pháp luật về nghi thức kết hôn giữa công
dân Việt Nam và người nước ngoài
44
2.2.
Giải quyết vấn đề kết hôn giữa công dân Việt Nam và người

Một số kiến nghị
80
3.2.1.
Hoàn thiện cơ sở pháp lý giải quyết xung đột pháp luật về kết
hôn có yếu tố nước ngoài
80
3.2.2.
Kiến nghị trong quản lý nhà nước về kết hôn giữa công dân
Việt Nam và người nước ngoài
83

KẾT LUẬN
89

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
91
quan hệ một phần do trình độ lập pháp, một phần do hoàn cảnh lịch sử nước ta
khi đó mới đang dần củng cố quan hệ với các nước sau khi đất nước thoát khỏi
chiến tranh, các mối quan hệ quốc tế này cũng mới chỉ đặt ra với các nước
cùng chế độ xã hội chủ nghĩa, quan hệ với các nước tư bản hầu như chưa có.
2

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã dành hẳn một chương
(chương XI) quy định về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài,
trong đó xác định rõ nguyên tắc, cách giải quyết xung đột pháp luật và xung đột
về thẩm quyền, đáp ứng được yêu cầu thực tế trong việc giải quyết quan hệ hôn
nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Mặc dù trong thời gian vừa qua, các qui
định pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài đã có những đóng góp nhất định
nhưng vẫn còn thiếu sót và bộc lộ một số nhược điểm, nhất là trong xu thế ngày
càng phát triển của quan hệ quốc tế. Ví dụ: điều luật quy định về việc kết hôn vi
phạm "thuần phong mỹ tục" hay vì mục đích "trục lợi" chưa rõ ràng cụ thể
dẫn đến khó áp dụng hoặc dễ bị lợi dụng khi áp dụng; chưa có điều luật quy
định về hôn nhân đồng giới, hiện nay nước ta không công nhận vấn đề hôn
nhân đồng giới nhưng một số nước trên thế giới đã công nhận và ban hành
luật hôn nhân đồng giới. Pháp luật Việt Nam cần có quy định cụ thể hơn để
dự liệu trường hợp có hôn nhân đồng giới có yếu tố nước ngoài xảy ra…
Nhận thức được tính cấp thiết trên, chúng tôi đã mạnh dạn tìm hiểu,
nghiên cứu đề tài "Vấn đề kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước
ngoài theo pháp luật Việt Nam, so sánh với pháp luật một số nước trên thế
giới", từ việc nghiên cứu pháp luật một số nước trên Thế giới đưa ra một số
kiến nghị cho pháp luật Việt Nam.
2. Mục đích nghiên cứu
Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là một loại quan hệ khá nhạy
cảm và phức tạp. Do đó, đề tài nghiên cứu nhằm mục đích sau:
- Làm sáng tỏ những vấn đề chung về kết hôn và giải quyết xung đột
pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài được quy định trong pháp luật Việt

thể trong sự so sánh với pháp luật Việt Nam để từ đó đưa ra kiến nghị cho
pháp luật Việt Nam về giải quyết xung đột pháp luật trong vấn đề kết hôn.
Đề tài này mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Về lý luận, nó góp
phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về hôn
4

nhân gia đình nói riêng phù hợp với thực tiễn và phù hợp với xu hướng chung
của thế giới. Về thực tiễn, quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài phát triển dựa
trên khuôn khổ pháp lý phù hợp góp phần thúc đẩy quan hệ giữa nước ta với
các nước trong khu vực và trên thế giới về mọi mặt: kinh tế, chính trị, xã hội…
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên
cứu như:
- Phương pháp duy vật biện chứng
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
- Phương pháp so sánh.
- Phương pháp lịch sử.
- Phương pháp điều tra xã hội học.
- Phương pháp thống kê.
Đặc biệt là phương pháp so sánh, phương pháp này được sử dụng
trong các nội dung của đề tài để làm rõ điểm tương đồng và khác biệt của
pháp luật Việt Nam so với pháp luật một số nước trong giải quyết xung đột
pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về kết hôn và giải quyết xung đột
pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài.
Chương 2: Những qui định của pháp luật về kết hôn giữa công dân
Việt Nam và người nước ngoài so sánh với pháp luật một số nước.

pháp 1992 (sửa đổi 2001) qui định: "Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình".
Nhà nước chỉ bảo hộ quan hệ hôn nhân hợp pháp, đó là quan hệ hôn nhân
tuân thủ các qui định pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam.
6

Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài thuộc nhóm quan hệ hôn nhân
và gia đình có yếu tố nước ngoài là một loại quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài đặc biệt. Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài cũng được hình thành
trên nguyên tắc tự do ý chí, tự nguyện của hai bên nam, nữ thống nhất đến với
nhau, đăng ký kết hôn xác lập quan hệ hôn nhân bền vững, tạo nên tính đặc
biệt của quan hệ. Các nước trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về
"yếu tố nước ngoài" trong quan hệ dân sự nói chung và trong quan hệ kết hôn
nói riêng. Để xác định yếu tố nước ngoài trong quan hệ dân sự, các quốc gia
thường căn cứ vào ba dấu hiệu: i) Quan hệ đó có ít nhất một bên chủ thể là
người nước ngoài; ii) Đối tượng của quan hệ đó là tài sản hoặc quyền tài sản
và quyền nhân thân được thực thi ở nước ngoài; iii) Sự kiện pháp lý làm phát
sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài.
Theo Điều 758 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:
Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có
ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân
nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các
quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt
Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo
pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên
quan đến quan hệ đó ở nước ngoài [45].
Như vậy, yếu tố nước ngoài được xác định căn cứ vào các tiêu chí sau:
Thứ nhất, căn cứ vào chủ thể: có ít nhất một trong các bên tham gia
quan hệ dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc người Việt Nam
định cư ở nước ngoài. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài (sau đây gọi
tắt là người nước ngoài). Theo khoản 2, 3 Điều 3 Nghị định 138/NĐ-CP:

hôn nhân và gia đình theo pháp luật nước ngoài, tài sản liên quan đến quan hệ
đó ở nước ngoài. Trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài có
8

các loại sự kiện pháp lý: sự kiện làm phát sinh, sự kiện làm thay đổi, sự kiện
chấm dứt quan hệ hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, sự kiện kết hôn chỉ là loại
sự kiện làm phát sinh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài.
Căn cứ nơi cư trú của các bên đương sự, đây là một căn cứ mới quy
định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để xác định yếu tố nước
ngoài trong quan hệ kết hôn. Nơi cư trú của các bên đương sự trong quan hệ
kết hôn có yếu tố nước ngoài có hai trường hợp:
Trường hợp thứ nhất, công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài theo
quy định tại khoản 4 Điều 100 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì các
quy định tại chương XI của Luật này cũng được áp dụng đối với quan hệ kết
hôn giữa công dân Việt Nam với nhau mà một hoặc cả hai bên định cư ở nước
ngoài. Với quy định này, pháp luật được áp dụng theo nguyên tắc luật quốc
tịch của các bên đương sự. Việc áp dụng nguyên tắc này là hoàn toàn hợp lý,
thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta không có sự phân biệt đối xử
giữa công dân Việt Nam ở trong nước và ngoài nước, đồng thời thể hiện
chính sách "mở cửa", "hội nhập" với các nước trong khu vực và thế giới.
Trường hợp thứ hai, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam theo quy
định tại khoản 14 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng là một
căn cứ xác định yếu tố nước ngoài của quan hệ kết hôn. Pháp luật áp dụng
để điều chỉnh quan hệ kết hôn giữa người nước ngoài thường trú tại Việt
Nam là pháp luật Việt Nam, tức là áp dụng nguyên tắc luật nơi cư trú. Việc
áp dụng nguyên tắc này là hoàn toàn hợp lý vì người nước ngoài đang cư trú
tại Việt Nam, các cơ quan thẩm quyền Việt Nam áp dụng pháp luật Việt
Nam sẽ giải quyết vụ việc nhanh chóng, thuận lợi do không phải áp dụng
pháp luật nước ngoài.
Khác với pháp luật Việt Nam, yếu tố nước ngoài trong quan hệ kết

10

So với quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật Trung Quốc nêu
trên, pháp luật của Pháp có phạm vi điều chỉnh tương đối khác, pháp luật của
Pháp có sự phân biệt kết hôn giữa công dân Pháp với người nước ngoài tại
nước ngoài theo pháp luật Pháp và theo pháp luật của nước sở tại, đồng thời
lại không quy định cụ thể trường hợp hai người nước ngoài kết hôn với nhau
tại Pháp và theo quy định của pháp luật Pháp. Điều này sẽ gây khó khăn vì
Pháp là một nước có tiềm năng lớn về du lịch, việc người nước ngoài đến
Pháp và kết hôn tại Pháp sẽ rất phổ biến, nếu không có quy định điều chỉnh
đối với các trường hợp này thì hoặc sẽ không phù hợp với thông lệ chung
quốc tế hoặc sẽ hạn chế việc người nước ngoài đến Pháp và kết hôn tại Pháp.
Từ phân tích trên đưa ra khái niệm: Kết hôn có yếu tố nước ngoài là
quan hệ kết hôn phát sinh giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài hoặc
giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam hoặc giữa công dân
Việt Nam với nhau cư trú tại nước ngoài mà căn cứ để xác lập quan hệ đó
phát sinh ở nước ngoài.
1.1.2. Nguyên nhân dẫn đến xung đột pháp luật về kết hôn
Xuất phát từ đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế là các quan hệ
dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động… (các quan hệ
dân sự theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài nên các quan hệ Tư pháp quốc tế
thường liên quan đến nhiều hệ thống pháp luật. Nếu giữa các quốc gia đã ký kết
các Điều ước quốc tế song phương và đa phương về tương trợ tư pháp thì các
quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài giữa các nước thành viên
sẽ được điều chỉnh bởi điều ước đó. Nếu chưa có Điều ước quốc tế song phương
hoặc quốc gia chưa tham gia Điều ước quốc tế đa phương về vấn đề này thì sẽ
xuất hiện trường hợp cùng một quan hệ Tư pháp quốc tế nhưng lại được điều
chỉnh bởi nhiều hệ thống pháp luật. Khoa học Tư pháp quốc tế gọi hiện tượng
này là xung đột pháp luật (conflic of law). Ví dụ: Công dân Việt Nam kết hôn
với công dân Mỹ tại Pháp. Trong trường hợp này, quan hệ kết hôn có yếu tố

12

bằng, không bình đẳng đối với các nước không theo đạo Hồi. Và trường hợp
người đàn ông Ả Rập kết hôn lần thứ hai với người phụ nữ ở nước không theo
đạo Hồi khi cuộc hôn nhân trước vẫn đang tồn tại thì hôn nhân của họ sẽ
không được công nhận và không đúng quy định pháp luật ở tại nước đó.
Về mặt lý luận cũng như trong thực tiễn, việc kết hôn liên quan đến
công dân của quốc gia nào thì pháp luật quốc gia đó sẽ được áp dụng, vì quốc
gia là một thực thể độc lập, có chủ quyền và bình đẳng với nhau nên pháp luật
của quốc gia cũng phải bình đẳng với nhau trong việc điều chỉnh mối quan hệ
xã hội liên quan đến quốc gia đó. Thừa nhận chủ quyền quốc gia và bình đẳng
chủ quyền quốc gia thì phải thừa nhận sự bình đẳng giữa các hệ thống pháp
luật của các quốc gia đó. Do đó, "một số quan hệ pháp luật mang tính chất
tuyệt đối về lãnh thổ (hình sự, hành chính, tố tụng) thì vấn đề xung đột pháp
luật cũng hầu như không được đặt ra" [37, tr. 69].
Tiếp đến là sự khác biệt về điều kiện kinh tế - xã hội ở mỗi một quốc
gia. Mỗi một xã hội, một chế độ có điều kiện kinh tế, xã hội, phong tục, tập
quán khác nhau thì pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn cũng có nội dung
khác nhau. Ở những nước có nền kinh tế phát triển mạnh, chính sách quan hệ
ngoại giao mở rộng thì đồng thời với việc phát triển các quan hệ hôn nhân có
yếu tố nước ngoài, những quy định pháp luật về chế độ hôn nhân và gia đình
nói chung, kết hôn nói riêng, về nguyên tắc cũng tiến bộ hơn ở những nước có
nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, khép kín. Sự thật là ở các nước phương Tây
việc đón nhận một thành viên mới trong gia đình là người ngoại quốc cũng
bình thường như đối với người trong nước, mọi người không quá thành kiến
về việc lấy chồng, lấy vợ người nước ngoài. Quan niệm này khác xa với quan
niệm người Việt Nam.
Ngoài ra, sự khác nhau về phong tục, tập quán, lối sống văn hóa cũng
có ảnh hưởng sâu sắc đến những quy định về kết hôn trong pháp luật các nước.
Như vậy, xung đột pháp luật nói chung và xung đột pháp luật về kết

yếu tố nước ngoài.
14

Nguyên tắc điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước
ngoài là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo các qui phạm pháp luật điều chỉnh
quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Các nguyên tắc này được
qui định trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2000, và các văn bản quy phạm pháp luật khác.
Các nguyên tắc chung điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu
tố nước ngoài, ngoài các nguyên tắc qui định tại Điều 2, Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2000 còn bao gồm các nguyên tắc:
* Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quan hệ kết hôn có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam phù hợp các qui định của pháp luật Việt Nam và Điều ước
quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia.
Nguyên tắc này được qui định tại khoản 1 Điều 100 Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2000 như sau: "Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quan
hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được tôn trọng và bảo vệ phù
hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia" [43]. Điều đó có
nghĩa, các quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam phải tuân theo
pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia
về vấn đề liên quan.
Ví dụ: nam công dân Hungary kết hôn với nữ Công dân Việt Nam tại
Việt Nam phải tuân theo pháp luật Việt Nam, Hiệp định tương trợ tư pháp
giữa Việt Nam và Hungary về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.
Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài thực hiện theo qui định pháp
luật sẽ được tôn trọng và bảo vệ bằng nhiều biện pháp khác nhau. Tùy theo
mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra, các chủ thể có quyền sử dụng các biện
pháp bảo vệ mà pháp luật cho phép hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm
quyền bảo vệ quyền lợi cho mình bằng các biện pháp hình sự hoặc hành

trú, sinh sống và làm ăn ở nước ngoài do pháp luật nước sở tại qui định, đồng
16

thời vẫn chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam và các Điều ước quốc tế
mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Do vậy, công dân Việt Nam ở nước ngoài
khi tham gia vào các quan hệ kết hôn sẽ được pháp luật Việt Nam bảo hộ theo
quan điểm của Nhà nước thể hiện tại Điều 75 Hiến pháp năm 1992, Điều 7
Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 là:
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chính
sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người gốc Việt Nam
định cư ở nước ngoài giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê
hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước. Đồng thời, Nhà
nước có chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho người đã mất quốc
tịch Việt Nam được trở lại quốc tịch Việt Nam [46].
Khái niệm "Người Việt Nam định cư ở nước ngoài" cũng được giải
thích tại Điều 3 của Luật Quốc tịch như sau: "Người Việt Nam định cư ở nước
ngoài là công dân Việt Nam và người cố Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở
nước ngoài" [46]. Quy định này là thể hiện chính sách của Đảng và Nhà nước
ta luôn quan tâm đến người Việt Nam định cư ở nước ngoài, bao gồm công
dân Việt Nam, người gốc Việt Nam đang thường trú hoặc tạm trú ở nước
ngoài, tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích để họ giữ mối quan hệ gắn bó với
gia đình và quê hương. Việc bảo hộ này được thực hiện thông qua các cơ
quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài được
qui định tại khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 như sau:
"Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài…
có trách nhiệm thực hiện bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt
Nam trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài" [43].
Bên cạnh việc bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người Việt Nam
ở nước ngoài thì pháp luật Việt Nam cũng bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp
của người nước ngoài tại Việt Nam. Người nước ngoài tại Việt Nam được

Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam là những nguyên tắc được quy
18

định trong Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001) và các văn bản pháp luật khác của
Việt Nam. Việc không áp dụng trong trường hợp này không phải pháp luật
nước ngoài mâu thuẫn với pháp luật Việt Nam mà vì hậu quả của nó sẽ không
tốt, không lành mạnh, ảnh hưởng đến nền tảng đạo đức, thuần phong, mỹ tục
của dân tộc ta. Đây là nguyên tắc không chỉ Việt Nam quy định mà được ghi
nhận trong pháp luật một số nước, tại khoản 1 Điều 4 Luật Tư pháp quốc tế
Ba Lan quy định: "Khi luật nước ngoài được áp dụng theo quy định của đạo
luật này lại quy định rằng luật Ba Lan được áp dụng với quan hệ đó thì sẽ áp
dụng luật Ba Lan". Điều 2 Sắc luật về Tư pháp quốc tế Hungari năm 1979
quy định: "Sắc luật này không được áp dụng đối với các vấn đề đã được điều
chỉnh bởi một hiệp ước quốc tế".
Như vậy, pháp luật các nước đều có chung quy định về việc áp dụng
pháp luật nước ngoài không trái nguyên tắc cơ bản của pháp luật trong nước.
* Nguyên tắc áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam đối
với quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Nguyên tắc này được quy định tại
Điều 7 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 theo đó, nếu chương XI không
có quy định điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài thì sẽ áp dụng
các quy định của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam. Quy định này hoàn toàn
phù hợp với thực tế, pháp luật Việt Nam hiện chưa có các quy phạm xung đột để
điều chỉnh tất cả các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài phát
sinh, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền giải quyết vụ việc một cách nhanh chóng, đảm bảo quyền và lợi ích
hợp pháp của các bên đương sự cũng như lợi ích của Nhà nước [4, tr. 101].
Ngoài ra, Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng quy định
áp dụng Bộ luật dân sự điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình, có nghĩa Bộ
luật dân sự sẽ được áp dụng điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài
nếu như Luật hôn nhân và gia đình không quy định. Như vậy, theo nguyên tắc

các nước quy định nguyên tắc này. Tại điều 13 Bộ dân luật Đức quy định:
20

"điều kiện kết hôn của các bên đương sự là theo pháp luật nước đương sự
mang quốc tịch". Tuy nhiên quy định này sẽ rất khó giải quyết đối với trường
hợp một trong các bên đương sự là người không quốc tịch hoặc người nhiều
quốc tịch. Đối với trường hợp không quốc tịch thì không giải quyết được, còn
trường hợp nhiều quốc tịch thì sẽ khó khăn trong việc chọn luật của nước
mang quốc tịch nào để áp dụng. Như vậy rất dễ dẫn đến xung đột pháp luật
khó giải quyết.
* Nguyên tắc điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài theo
luật nơi cư trú của các bên đương sự (lex domicilli).
Nguyên tắc nơi cư trú của đương sự được áp dụng rộng rãi ở các nước
trong hệ thống pháp luật án lệ (common law). Nguyên tắc này được quy định
tại khoản 1 Điều 103 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000:"Việc kết hôn
giữa những người nước ngoài với nhau tại Việt Nam trước cơ quan có thẩm
quyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện
kết hôn" [43].
Cụ thể, khoản 2 Điều 10 Nghị định 68/2002NĐ-CP:
Trong trường hợp người nước ngoài kết hôn với nhau tại
Việt Nam trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì mỗi bên
phải tuân theo pháp luật nơi thường trú (đối với người không quốc
tịch) về điều kiện kết hôn; ngoài ra, các bên còn phải tuân theo
Điều 9 và Điều 10 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 về điều
kiện kết hôn và các trường hợp cấm kết hôn [30].
Việc pháp luật Việt Nam quy định áp dụng nguyên tắc này là hoàn
toàn phù hợp với thực tế quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Tham gia
quan hệ này, không chỉ có công dân Việt Nam và người có quốc tịch nước
ngoài mà còn cả người không quốc tịch, người nhiều quốc tịch. Do đó, nếu áp
dụng nguyên tắc luật quốc tịch sẽ không giải quyết được trong trường hợp

quy định của của pháp luật Pháp" (đoạn 2 điều 170 Bộ luật dân sự Pháp). Đối

Trích đoạn Phƣơng pháp xung đột Pháp luật trong nƣớc Tập quán quốc tế Mối quan hệ giữa các loại nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nƣớc ngoà
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status