Vấn đề ly hôn giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài theo pháp luật Việt Nam, so
sánh với pháp luật một số nước trên thế giới Bùi Thị Minh Nhã Khoa Luật
Luận văn ThS. ngành: Luật quốc tế; Mã số: 60 38 60
Người hướng dẫn: TS. Nông Quốc Bình
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Nghiên cứu những vấn đề mang tính khái quát về ly hôn có yếu tố nước
ngoài nói chung và ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài nói riêng.
Nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về ly hôn giữa công dân Việt Nam
với người nước ngoài. Với nội dung này, luận văn đi sâu phân tích nội dung những
quy định về ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài theo Luật Hôn
nhân và gia đình Việt Nam năm 2000, so sánh với pháp luật của một số nước trên
thế giới để thấy rõ những điểm thành công và hạn chế của pháp luật Việt nam trong
vấn đề ly hôn. Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về ly hôn giữa công dân Việt
Nam với người nước ngoài thông qua hoạt động xét xử của Tòa án, cụ thể là qua các
vụ việc. Qua đó, đánh giá về những thành công và hạn chế của việc áp dụng pháp
luật về ly hôn để từ đó sẽ nêu lên một số những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
về ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài.
Keywords. Luật hôn nhân và gia đình; Luật Quốc tế; Ly hôn; Pháp luật Việt Nam Content
tương trợ tư pháp với các nước về lĩnh vực này.
Nhìn chung, những vấn đề pháp lý về ly hôn có yếu tố nước ngoài nói chung, ly hôn giữa
công dân Việt Nam với người nước ngoài nói riêng đóng một vai trò quan trọng trong việc
xây dựng và phát triển xã hội. Nếu những vấn đề pháp lý không phù hợp sẽ làm xã hội hỗn
loạn và hậu quả là làm cho xã hội suy yếu. Ngược lại, nếu phù hợp thì không những làm cho
xã hội ổn định mà còn làm cho xã hội vững mạnh, mối quan hệ giữa Việt Nam với các quốc
gia trên thế giới cũng được phát triển, khăng khít. Bởi vì như đã nêu trên, ly hôn cũng có
những điểm tích cực trong việc thúc đẩy sự phát triển một xã hội dân chủ, công bằng, văn
minh.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển không ngừng của đời sống xã hội, nhất là một xã hội
mở rộng, hội nhập quốc tế như hiện nay thì thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết ly hôn giữa
công dân Việt Nam với người nước ngoài vẫn cần được nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn
đề lý luận và thực tiễn áp dụng nhằm đạt hiệu quả hơn. Vì vậy tác giả chọn đề tài "Vấn đề ly
hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài theo pháp luật Việt Nam, so sánh với
pháp luật một số nước trên thế giới" để viết luận văn nhằm tìm hiểu sâu hơn và mạnh dạn
phân tích, đưa ra những ý kiến chủ quan, thể hiện sự quan tâm của bản thân cũng như tính
bức thiết của đề tài.
1. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài đã được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu, tuy nhiên
ly hôn giữa công dân Việt Nam với người ngoài mới chỉ được lồng ghép trong nội dung nói
trên mà chưa có nghiên cứu chuyên sâu.
2. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là dựa trên cơ sở các quy định của luật thực định
để giải quyết việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giới thiệu một cách
khái quát các quy định về ly hôn có yếu tố nước ngoài, nghiên cứu quá trình phát triển các
quy định về ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giải quyết xung đột pháp
luật, chọn luật áp dụng, kết hợp so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới. Trên cơ sở
đó, tìm hiểu những quy định còn bất cập, chưa cụ thể, để từ đó có những nhận xét, kiến nghị
nhằm hoàn thiện vấn đề ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài.
Với mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau đây:
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm
3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Chương 2: Pháp luật Việt Nam về ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài,
so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới.
Chương 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh ly hôn giữa công dân
Việt Nam với người nước ngoài.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN HỆ LY HÔN
CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
1.1. Khái niệm
1.1.1. Ly hôn
Ly hôn mang bản chất xã hội và tính giai cấp sâu sắc, vì vậy ở mỗi chế độ xã hội khác
nhau, giai cấp thống trị đều thông qua nhà nước và bằng quy định hôn nhân nói chung, ly hôn
nói riêng phù hợp với lợi ích của giai cấp mình. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, ly
hôn được ghi nhận trong các văn bản pháp luật cụ thể như Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và
gia đình. Điều 42 Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005 quy định "Vợ, chồng hoặc cả hai người có
quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn", hoặc theo Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2000 thì " Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định
theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng".
Như vậy, ly hôn là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân trước pháp luật theo yêu cầu của vợ
hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng được công nhận hoặc quyết định của Tòa án.
1.1.2. Ly hôn có yếu tố nước ngoài
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 lần đầu tiên đưa ra khái niệm này, hôn nhân có yếu
tố nước ngoài, điều mà trước đây chưa một văn bản pháp luật nào về hôn nhân quy định theo
Khoản 14 Điều 8 Luật hôn nhân gia đình.
Việc xác định dấu hiệu có yếu tố nước ngoài trong quan hệ ly hôn theo Luật Hôn nhân và
gia đình căn cứ vào chủ thể, sự kiện pháp lý, đối tượng của quan hệ là tài sản và nơi cư trú
thỏa thuận của các bên chủ thể tham gia quan hệ Tư pháp quốc tế.
Theo pháp luật Việt Nam, nguyên tắc áp dụng tập quán quốc tế không được quy định cụ
thể trong Luật Hôn nhân và gia đình 2000 nhưng được quy định tại khoản 4 Điều 759 Bộ luật
dân sự.
1.2.4. Mối quan hệ giữa các loại nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố
nước ngoài
a) Nguồn luật trong nước
Nguồn pháp luật trong nước điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài được coi là
nguồn luật cơ bản và phổ biến, dựa trên những cơ sở:
Chủ thể trong quan hệ ly hôn nói chung và quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng
là những con người cụ thể, vì vậy pháp luật điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của một người
trong đó có quyền và nghĩa vụ trong quan hệ ly hôn được dựa trên dấu hiệu quốc tịch hoặc
dấu hiệu nơi cư trú. Vì vậy, dù dựa trên dấu hiệu quốc tịch hay nơi cư trú thì hệ thống pháp
luật được chọn áp dụng vẫn được coi là hệ thống pháp luật của một quốc gia nhất định.
Vì vậy, có thể nhận định, pháp luật trong nước được coi là nguồn luật cơ bản và phổ biến
điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài.
b) Nguồn luật quốc tế
Đối với Điều ước quốc tế
Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa quy định rõ ràng về việc điều ước quốc tế mà Việt
Nam đã ký kết hoặc gia nhập có vị trí như thế nào trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp
luật trong nước. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 6 của Luật ký kết, gia nhập và thực hiện
điều ước quốc tế năm 2005, trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc
tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một
vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế,
Đối với Tập quán quốc tế
Tập quán quốc tế không được coi là nguồn pháp luật bắt buộc áp dụng đương nhiên trong
việc điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài. Thông thường, tập quán quốc tế chỉ
được áp dụng trong trường hợp không có quy phạm ghi nhận trong pháp luật trong nước hoặc
trong điều ước quốc tế có liên quan không có quy định hoặc các bên của thể không có thỏa
thuận.
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ LY HÔN GIỮA CÔNG DÂN VIỆT NAM VỚI NGƯỜI
NƯỚC NGOÀI, SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT
MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
2.1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển pháp luật về ly hôn giữa công dân
Việt Nam với người nước ngoài
2.1.1. Pháp luật quốc gia
Hôn nhân là một hiện tượng xã hội mang tính giai cấp. Trong từng giai đoạn lịch sử, ở
mỗi chế độ khác nhau, giai cấp thống trị xã hội đều thông qua Nhà nước và pháp luật quy
định chế độ hôn nhân phù hợp với lợi ích của giai cấp mình. Có nghĩa là, bằng hệ thống pháp
luật, Nhà nước đưa ra những điều kiện, căn cứ nhất định cho phép xóa bỏ hôn nhân hay còn
gọi là ly hôn.
2.1.1.1. Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
2.1.1.2. Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành Luật Hôn
nhân và gia đình năm 1986.
Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành Luật Hôn nhân và gia đình đầu tiên được
chia thành ba giai đoạn:
a) Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954.
Ngày 10/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh về quy định tạm giữ các luật lệ hiện
hành ở Việt Nam để thi hành cho đến khi ban hành những bộ luật mới cho toàn cõi Việt Nam,
trừ những quy định đi ngược lại độc lập dân tộc và quyền lợi của nhân dân.
Sắc lệnh số 51-SL ngày 17/4/1946 đã có một bước phát triển mới trong việc quy định về
vấn đề liên quan đến yếu tố nước ngoài,
Văn bản pháp lý có giá trị cao nhất đầu tiên đề cập gián tiếp đến quan hệ hôn nhân là
Hiến pháp năm 1946.
Ngày 22/5/1950, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ký Sắc lệnh số 85/SL về cải
cách tư pháp và luật tố tụng đã có những quy định mới về việc hòa giải các việc kiện dân sự,
kể cả việc ly hôn. Cùng ngày, Sắc lệnh số 97-SL cũng được ra đời, quy định sửa đổi một số quy
lệ và chế định dân luật. Sau khi đã đưa ra các quy định tiến bộ điều chỉnh quan hệ dân sự nói
chung,
Văn bản pháp lý riêng biệt đầu tiên đề cập đến lĩnh vực hôn nhân là Sắc lệnh số 159-SL
Có thể nói trong giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2000, cùng với các văn bản khác, Luật
Hôn nhân và gia đình năm 1986, Pháp lệnh hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài đã đánh dấu sự phát triển đáng kể của pháp luật về ly hôn giữa công dân
Việt Nam với người nước ngoài. Cho dù, hiện nay các văn bản này không còn hiệu lực bằng
sự ra đời của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, nhưng những nội dung cơ bản của các
văn đề nêu trên đã được kế thừa và ghi nhận trong các văn bản pháp luật hiện hành.
2.1.1.4. Giai đoạn từ khi ban hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đến nay
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã giành một chương riêng (Chương XI) gồm 7
điều quy định chế độ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Riêng ly hôn có yếu tố nước
ngoài nói chung, ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài nói riêng được quy
định tại hai điều, Điều 102 và Điều 104 đã chấm dứt hiệu lực của Pháp lệnh về hôn nhân và
gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài năm 1993.
Nhằm cụ thể hóa một số quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về quan hệ
hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 về Quy định chi tiết một số điều của Luật Hôn nhân và gia
đình có yếu tố nước ngoài. Bên cạnh đó, ngày 16/4/2003, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng pháp luật
trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, trong đó có việc ly
hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài
Ngày 15/6/2004, tại kỳ họp thứ V Quốc hội khóa XI đã thông qua Bộ luật Tố tụng dân sự
của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là lần đầu tiên các vấn đề của luật tố
tụng được ban hành dưới hình thức một bộ luật, đánh dấu bước phát triển mới của hệ thống
pháp luật Việt Nam
2.1.2. Điều ước quốc tế
Trong giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992, Việt Nam đã ký được 06 Hiệp định và kể từ
khi ban hành Hiến pháp 1992 đến trước khi ban hành Luật Tương trợ tư pháp 2007, Việt
Nam ký thêm được 09 Hiệp định Tương trợ tư pháp với các nước, cụ thể: Ba Lan, Bêlarút,
Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, Lào, Mông Cổ, Pháp, Trung Quốc, Ucraina, Hàn
Quốc.
2.1.3. Tập quán quốc tế
Khoản 3 Điều 100 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 ghi nhận việc bảo hộ quyền, lợi
ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình phù
hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật nước sở tại, pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế.
Đây cũng chính là một quy định pháp luật cần thiết, là cơ sở pháp lý để các cơ quan có thẩm
quyền áp dụng tập quán quốc tế khi pháp luật trong nước hoặc Điều ước quốc tế mà Việt
Nam là thành viên không có quy định áp dụng. Tuy nhiên, chủ thể trong quan hệ ly hôn có
yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam không chỉ có công dân Việt Nam ở nước ngoài,
mà còn có người nước ngoài và người không quốc tịch trên lãnh thổ Việt Nam. Như vậy, tập
quán quốc tế không được áp dụng đối với chủ thể là người nước ngoài và người không quốc
tịch. Như vậy, có thể thấy quy định này đang chưa phù hợp và cần thiết phải sửa đổi, bổ sung
nhằm hoàn thiện vấn đề này.
2.2.2.Quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ ly hôn giữa công dân Việt
Nam với người nước ngoài
2.2.2.1. Quy định về luật nội dung
- Về căn cứ cho ly hôn
So sánh với pháp luật Nhật Bản có điểm giống pháp luật Việt Nam khi căn cứ vào bản
chất của cuộc hôn nhân nếu thấy có tồn tại những lý do dẫn tới các bên không thể tiếp tục
hôn nhân. Tuy nhiên, bên cạnh đó, pháp luật Nhật Bản cũng căn cứ yếu tố lỗi của vợ chồng
nếu một trong hai bên bị bên kia ngược đãi, hành hạ thậm tệ hoặc một trong hai bên có
hành vi không chung thủy. Căn cứ để kiện đòi ly hôn theo pháp luật Thái Lan được quy
định rất cụ thể. Tuy nhiên, cũng như pháp luật Nhật Bản, yếu tố lỗi cũng được xem là một
trong những căn cứ chủ yếu làm phát sinh quan hệ ly hôn.
- Về việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn
Vấn đề cấp dưỡng sau khi ly hôn như quy định của pháp luật Việt Nam mặc dù không
được pháp luật dân sự Nhật Bản quy định cụ thể trong Bộ luật, song "những vấn đề cần thiết
khác đối với việc chăm sóc" đã bao hàm rất nhiều nội dung liên quan đến việc cha mẹ có
nghĩa vụ đóng góp tài chính, cùng nhau nuôi dưỡng, dạy bảo con cái họ sau khi ly hôn. Tuy
nhiên, pháp luật dân sự Nhật Bản lại dành một chương riêng (Chương VI) quy định về nghĩa
vụ cấp dưỡng, áp dụng đối với những người thân theo huyết thống trực hệ và anh chị em hoặc
trong hoàn cảnh nhất định Tòa án có thể buộc những người thân trong phạm vi ba đời có
Thẩm quyền theo lãnh thổ để giải quyết vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với người
nước ngoài được xác định theo Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu được quy định tại Điều 36
Bộ luật Tố tụng dân sự.
b) Vấn đề thủ tục giải quyết các vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài nói chung, ly hôn
giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài nói riêng
Thủ tục sơ thẩm vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài tựu chung
có những đặc điểm sau:
- Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ án giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài nếu
vợ chồng trong quan hệ kết hôn đó đã đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Việt
Nam theo pháp luật Việt Nam hoặc đăng ký kết hôn của họ được công nhận trên lãnh thổ
Việt Nam, hoặc đã được hợp pháp hóa lãnh sự và đã được ghi chú vào các sổ thay đổi về hộ
tịch theo quy định tại Nghị định số 83/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính Phủ.
- Đơn ly hôn của đương sự ở nước ngoài phải được chứng thực hợp pháp.
- Việc lấy lời khai của đương sự ở nước ngoài, việc điều tra, xác minh về tài sản chung ở
nước ngoài phải được thực hiện qua con đường ủy thác tư pháp cho Tòa án nước ngoài
hoặc cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở sở tại.
- Vấn đề hòa giải đoàn tụ trong vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài trong trường hợp người nước ngoài không có mặt tại Tòa án vào thời điểm thụ lý, giải
quyết vụ án không được đặt ra, coi như trường hợp không thể hòa giải. Do đó, Tòa án không
phải báo gọi đương sự ở nước ngoài về tham gia hòa giải.
- Đối với trường hợp thuận tình ly hôn mà có một trong hai bên đương sự đang ở nước
ngoài, mặc dù cả hai bên thuận tình ly hôn và quan điểm của họ được thể hiện trong đơn cùng
các lời khai, đồng thời đương sự ở nước ngoài xin giải quyết vắng mặt tại Tòa án, thì Tòa án
có thẩm quyền phải mở phiên tòa họp để xét việc xin thuận tình ly hôn, sau đó mới được ra
quyết định công nhận thuận tình ly hôn.
- Tòa án không phải triệu tập đương sự ở nước ngoài tham gia tố tụng tại phiên tòa mà
chỉ thông báo cho họ biết việc Tòa án ở phiên tòa.
- Việc tống đạt bản án, quyết định của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài cũng được thực
hiện qua con đường ủy thác tư pháp.
tích hoặc đã chết. Trên thực tế thì Tòa án không ra quyết định tạm đình chỉ để chờ giải quyết mất
tích xong mới giải quyết ly hôn mà thường là ra quyết định chuyển vụ án cho Tòa án cấp huyện
có thẩm quyền giải quyết việc mất tích đồng thời giải quyết luôn việc ly hôn. Hướng giải
quyết này chỉ là giải pháp tình thế vì quy định của pháp luật chưa có chế định về vấn đề ly
thân như một số nước trên thế giới, chưa coi ly thân là một trong những căn cứ pháp lý để
giải quyết cho ly hôn.
3.1.2. Từ khi ban hành Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 ra đời đã khắc phục những điểm bất cập không còn phù
hợp nói trên. Theo Điều 189 quy định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thì không có quy
định về trường hợp không tìm thấy địa chỉ của bị đơn. Để hướng dẫn áp dụng thống nhất
pháp luật trong toàn ngành Toà án khôngdân, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
đã ban hành Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 hướng dẫn thi hành các quy
định trong phần thứ hai "Thủ tục giải quyết các vụ án Tòa án cấp sơ thẩm của Bộ luật Tố
tụng dân sự".Do đó, kể từ khi áp dụng Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 và các văn bản
hướng dẫn, việc ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài nói
chung, vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài nói riêng vì lý do chưa
tìm được địa chỉ của bị đơn đã không còn, chấm dứt tình trạng các vụ án bị "treo" trong sổ
thụ lý như những thời gian trước đây.
3.2. Kiến nghị việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về ly hôn giữa công dân Việt
Nam với người nước ngoài
3.2.1. Hoàn cảnh quốc tế liên quan đến vấn đề ly hôn giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài
Các vụ việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài hiện nay diễn ra ngày
càng phổ biến khi xu thế hội nhập quốc tế về kinh tế, xã hội ngày càng mở rộng. Theo báo
cáo thống kê của Liên Hợp quốc thì số lượng người di cư trên thế giới tăng nhanh đáng kể từ
mức 84 triệu người vào năm 1975 lên 104 triệu người vào năm 1985 và hiện nay ước tính có
khoảng 130 đến 145 triệu người sống ở ngoài đất nước mình. Những con số thống kê trên chỉ
bao gồm những người nhập cư có đăng ký hợp pháp, trên thực tế, số người nhập cư bất hợp
pháp chiếm một số lượng đáng kể do đó con số thực tế về số người nhập cư trên thế giới hàng
năm là một con số không nhỏ.
còn cả đối với các nhà khoa học, hiện nay còn nhiều quan điểm nhìn nhận khác nhau, nhiều
câu hỏi đặt ra mà chưa có câu trả lời rõ ràng. Song trong thực tiễn, án lệ đã được xem như
một nguồn tài liệu quan trọng trong việc giải thích và hướng dẫn thực hiện pháp luật. Hàng
năm, Tòa án nhân dân Tối cao thường đưa ra các vụ án điển hình để rút kinh nghiệm.Vì vậy,
kiến nghị cơ quan có thẩm quyền nên xem xét công nhận án lệ như một nguồn pháp luật
trong nước điều chỉnh các quan hệ pháp luật nói chung, quan hệ ly hôn giữa công dân Việt
Nam với người nước ngoài nói riêng.
3.3.1.3. Thành lập Tòa án gia đình nằm trong hệ thống Tòa án Việt Nam
Ở Nhật Bản đã có Tòa án gia đình ở cấp quận, huyện từ năm 1949. Tòa án gia đình theo
quy định của pháp luật Nhật Bản có nhiệm vụ giải quyết các vụ án về hôn nhân và gia đình
như hủy bỏ việc kết hôn, yêu cầu ly hôn, quan hệ cha mẹ với con cái, cấp dưỡng Ở một số
nước khác như Đài Loan, Hàn Quốc thì Tòa án gia đình cũng được thành lập và nằm trong hệ
thống Tòa án.
Vì vậy, nên chăng khi pháp luật Việt Nam cũng thành lập Tòa án gia đình ở cấp quận,
huyện để giải quyết các vấn đề về hôn nhân và gia đình, nhằm đẩy mạnh việc thụ lý và giải
quyết các vụ việc ngay từ địa phương và chuyên môn hóa cao chức năng, nhiệm vụ của tòa
án đặc biệt này.
3.3.2. Đưa ra những giải pháp nhằm bảo đảm quyền lợi của đương sự
3.3.2.1. Quy định rõ hơn về cách thức tống đạt cho đương sự ở nước ngoài trong một số
trường hợp cụ thể
Để việc ủy thác tư pháp có hiệu quả, ngoài việc nguyên đơn cần phải cung cấp chính xác
địa chỉ của bị đơn ở nước ngoài thì cần nghiên cứu bổ sung quy định pháp luật về cách thức
tống đạt giấy tờ qua trực tiếp qua đường bưu điện hoặc qua nhân thân của đương sự ở nước
ngoài sẽ mang lại hiệu quả cao. Trên thực tế có nhiều trường hợp Tòa án làm thủ tục lấy lời
khai, tống đạt bản án qua ủy thác tư pháp thì không có kết quả nhưng khi làm thủ tục gửi trực
tiếp cho đương sự thì họ có đơn và văn bản phúc đáp yêu cầu của Tòa án rất kịp thời.
3.3.2.2. Đưa ra cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Tòa án và Bộ Tư pháp, các cơ quan đại
diện ngoại giao của nước ta ở nước ngoài trong việc ủy thác tư pháp
Để việc điều tra, xác minh, định giá, lấy lời khai của đương sự ở nước ngoài trong vụ án
ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, cũng như việc tống đạt cho họ bản án,
một số Điều ước quốc tế với các quốc gia, trong đó có thỏa thuận về nguyên tắc xác định luật
áp dụng để giải quyết quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài nói chung, ly hôn giữa công dân
Việt Nam với người nước ngoài nói riêng. Việc áp dụng các quy phạm quy định trong Điều
ước quốc tế tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết các vấn đề liên quan đến ly hôn giữa
công dân Việt Nam với công dân các nước là thành viên.
Bên cạnh đó, mặc dù việc áp dụng các tập quán quốc tế để giải quyết ly hôn giữa công
dân Việt Nam với người nước ngoài còn hạn chế, song cùng với việc áp dụng các quy phạm
pháp luật được quy định trong luật trong nước và điều ước quốc tế, tập quán quốc tế cũng
được Việt Nam thừa nhận và áp dụng.
Việc điều chỉnh quan hệ ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài phải tuân
thủ một số nguyên tắc chung: Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quan hệ hôn nhân và gia đình
có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam phù hợp với pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà
Việt Nam ký kết hoặc tham gia; nguyên tắc bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Việt Nam ở nước ngoài phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật nước sở tại, pháp luật và
tập quán quốc tế….
Các quy định điều chỉnh quan hệ ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài
đã và đang đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết cụ thể các vụ án ly hôn. Tuy nhiên,
để đáp ứng những yêu cầu thực tiễn về lĩnh vực này, hệ thống các văn bản pháp luật cần được
hoàn thiện hơn và cần thiết tăng cường ký kết, tham gia, bảo đảm thực hiện các Điều ước
quốc tế song phương và đa phương về vấn đề hôn nhân và gia đình với các quốc gia trên thế
giới. Đó cũng là nhiệm vụ trọng tâm mà Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến
lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đã đề ra. Bên cạnh đó, nên xây
dựng một số chế định phù hợp với thực tế của đời sống quốc tế trong lĩnh vực ly hôn như ly
thân; quy định án lệ là nguồn pháp luật trong nước; thành lập Tòa án gia đình nằm trong hệ
thống Tòa án Việt Nam. Quy định rõ hơn về cách thức tống đạt cho đương sự ở nước ngoài
trong một số trường hợp cụ thể; tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nâng cao
cơ sở vật chất cũng chính là một trong những nội dung quan trọng góp phần hoàn thiện pháp
luật và nâng cao hiệu quả trong việc giải quyết các vụ án ly hôn. Hoàn thiện hệ thống pháp
luật nói chung cũng chính là góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập kinh tế,
quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ theo xu thế thời đại ở đất nước ta.
k. Bộ Tư pháp (1998), Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia
đình, lao động và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng
hòa dân chủ nhân dân Lào, Hà Nội.
l. Bộ Tư pháp (1998), Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia
đình, lao động và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng
hòa nhân dân Trung Hoa, Hà Nội.
m. Bộ Tư pháp (1999), Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia
đình, lao động và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng
hòa Pháp, Hà Nội.
n. Bộ Tư pháp (2000), Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia
đình, lao động và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Ucraina,
Hà Nội.
o. Bộ Tư pháp (2000), Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự và hình
sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Mông Cổ, Hà Nội.
p. Bộ Tư pháp (2000), Hiệp định tương trợ về hình sự và dân sự giữa nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam với Bêlarus, Hà Nội.
q. Chính phủ (1950), Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5 của Chủ tịch Nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa, Hà Nội.
r. Chính phủ (1950), Sắc lệnh số 159/SL ngày 17/11 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa, Hà Nội.
s. Chính phủ (2002), Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7 về quy định chi tiết thi hành
một số điểm của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố
nước ngoài, Hà Nội.
t. Chính phủ (2006), Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7 về sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 về quy định chi tiết thi hành một
số điểm của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước
ngoài, Hà Nội.
u. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27/11 của Bộ Chính trị
về hội nhập kinh tế quốc tế, Hà Nội.
v. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị
đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần
thứ hai "thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm" của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hà
Nội.
tt. Tòa án nhân dân tối cao (2005), Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/ của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong
phần thứ nhất "Những quy định chung" của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Hà Nội.
uu. Tòa án nhân dân tối cao (2006), Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5 hướng dẫn
thi hành các quy định trong phần thứ hai "Thủ tục giải quyết các vụ án Tòa án cấp sơ
thẩm của Bộ luật Tố tụng dân sự", Hà Nội.
vv. Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp (1986), Thông tư
liên tịch số 06/TTLN ngày 30/12 hướng dẫn về thủ tục và thẩm quyền giải quyết những
việc ly hôn giữa công dân Việt Nam mà một bên ở nước chưa ký Hiệp định tương trợ tư
pháp với Việt Nam, Hà Nội.
ww. Nguyễn Hùng Trương (1972), Bộ luật dân sự và thương sự tố tụng năm 1972, Nhà sách
Khai Trí, Sài Gòn.
xx. Trường Đại học Luật Hà Nội (1994), Giáo trình Luật quốc tế, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội.
yy. Trường Đại học Luật Hà Nội (2000), Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội.
zz. Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
aaa. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (1989), Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Hà
Nội.
bbb. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (1993), Pháp lệnh Hôn nhân và gia đình giữa công dân
Việt Nam với người nước ngoài, Hà Nội.
ccc. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (1993), Pháp lệnh Thi hành án dân sự, Hà Nội.