Vấn đề kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài - Pdf 20

Vấn đề kết hôn giữa công dân Việt Nam và
người nước ngoài theo Pháp luật Việt Nam, so
sánh với Pháp luật một số nước trên thế giới Hoàng Như Thái Khoa Luật
Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật quốc tế; Mã số: 60 38 60
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Hồng Bắc
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Làm sáng tỏ những vấn đề chung về kết hôn và giải quyết xung đột pháp
luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài được quy định trong pháp luật Việt Nam, điều
ước quốc tế mà Việt Nam ký kết, từ đó so sánh với pháp luật một số nước. Đánh giá
thực trạng pháp luật và thực tiễn giải quyết quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở
Việt Nam. Đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam
về vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài.

Keywords. Luật Quốc tế; Luật hôn nhân và gia đình; Công dân Việt Nam; Người
nước ngoài; Pháp luật Việt Nam

Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển của các quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, Đảng và Nhà nước
ta đã đổi mới chính sách, pháp luật góp phần quan trọng vào quá trình giao lưu dân sự quốc tế
điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng.
Cụ thể, để giải quyết vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài Nhà nước đã ban hành các văn bản

Nhận thức được tính cấp thiết trên, chúng tôi đã mạnh dạn tìm hiểu, nghiên cứu đề tài
"Vấn đề kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài theo pháp luật Việt Nam,
so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới", từ việc nghiên cứu pháp luật một số nước
trên Thế giới đưa ra một số kiến nghị cho pháp luật Việt Nam.
2. Mục đích nghiên cứu
Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là một loại quan hệ khá nhạy cảm và phức tạp. Do
đó, đề tài nghiên cứu nhằm mục đích sau:
- Làm sáng tỏ những vấn đề chung về kết hôn và giải quyết xung đột pháp luật về kết hôn có
yếu tố nước ngoài được quy định trong pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam ký
kết, từ đó so sánh với pháp luật một số nước.
- Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn giải quyết quan hệ kết hôn có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam.
- Qua quá trình nghiên cứu đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật
Việt Nam về vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài.
3. Phạm vi nghiên cứu
Vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài là vấn đề tương đối rộng, vì vậy đề tài chỉ tập trung
nghiên cứu về vấn đề kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài theo pháp luật
Việt Nam trong đó tập trung giải quyết xung đột pháp luật về kết hôn và so sánh với pháp
luật một số nước trên thế giới.
4. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Từ trước đến nay có rất nhiều tác giả viết về đề tài kết hôn có yếu tố nước ngoài. Có thể
kể đến công trình nghiên cứu của TS. Nông Quốc Bình, TS. Nguyễn Hồng Bắc với đề tài
"Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc
tế", Nxb Tư Pháp, Hà Nội 2006. TS. Trần Văn Chiến, Ths. Đinh Văn Quảng, Khoa xã hội
học - Đại học khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh (2005) với bài viết "Tìm
hiểu thực trạng phụ nữ kết hôn với người Đài Loan tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long".
Nguyễn Bá Chiến với luận án tiến sĩ "Hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật xung đột của
Việt Nam trong hội nhập quốc tế", luận án tiến sĩ Nguyễn Hồng Bắc với đề tài "Pháp luật
điều chỉnh quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới", TS.
Nông Quốc Bình, TS. Nguyễn Hồng Bắc với đề tài "Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố

kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này.

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾT HÔN VÀ GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP
LUẬT VỀ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
1.1. Khái niệm, nguyên nhân dẫn đến xung đột pháp luật về kết hôn có yếu tố
nước ngoài
1.1.1. Khái niệm kết hôn có yếu tố nước ngoài
Theo qui định khoản 2, Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2000, kết hôn là "việc nam và nữ xác
lập quan hệ vợ chồng theo qui định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn".
Việc xác định "yếu tố nước ngoài" trong quan hệ HN&GĐ theo Luật HN&GĐ căn cứ
vào: chủ thể, sự kiện pháp lý, đối tượng của quan hệ là tài sản, và nơi cư trú của các bên
đương sự.
Khác với pháp luật Việt Nam, yếu tố nước ngoài trong quan hệ kết hôn của pháp luật
Trung Quốc quy định tại Điều 147, những nguyên tắc chung về pháp luật dân sự của nước
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa gồm:
- Kết hôn giữa người Trung Quốc và người nước ngoài được đăng ký tại Trung Quốc;
- Kết hôn giữa người Trung Quốc và người nước ngoài được đăng ký tại nước ngoài;
- Kết hôn giữa người nước ngoài với nhau đăng ký tại Trung Quốc;
- Kết hôn giữa người nước ngoài với nhau đăng ký tại nước ngoài.
Theo quy định tại Điều 170 Bộ luật dân sự Pháp, quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài
bao gồm các quan hệ sau:
- Kết hôn giữa công dân Pháp với nhau tại nước ngoài;
- Kết hôn giữa công dân Pháp với người nước ngoài tại nước nước ngoài theo thủ tục
của nước đó; và
- Kết hôn giữa công dân Pháp với người nước ngoài tại nước ngoài do nhân viên ngoại giao
hoặc nhân viên lãnh sự của Pháp thực hiện theo quy định của pháp luật Pháp (áp dụng ở những
nước quy định trong lệnh của Tổng thống).
Từ phân tích trên đưa ra khái niệm: Kết hôn có yếu tố nước ngoài là quan hệ kết hôn
phát sinh giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài hoặc giữa người nước ngoài với

Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài thực hiện theo qui định pháp luật sẽ được tôn trọng
và bảo vệ bằng nhiều biện pháp khác nhau phù hợp với pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc
tế mà Việt Nam ký kết. Trong trường hợp Điều ước quốc tế có quy định khác với pháp luật
Việt Nam thì ưu tiên áp dụng Điều ước quốc tế.
Nguyên tắc này cũng được quy định trong đoạn 1 Điều 170 (Luật ngày 21-6-1907) Bộ
luật dân sự Pháp.
* Nguyên tắc bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài phù
hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế. Đồng thời
không phân biệt đối xử với người nước ngoài trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở
Việt Nam. Nguyên tắc này được qui định tại khoản 2, 3 Điều 100 Luật HN&GĐ năm 2000.
Công dân Việt Nam ở nước ngoài khi tham gia vào các quan hệ kết hôn sẽ được pháp luật
Việt Nam bảo hộ theo quy định tại Điều 75 Hiến pháp năm 1992, Điều 7 Luật Quốc tịch Việt
Nam năm 2008.
Pháp luật Việt Nam cũng bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người nước ngoài tại Việt
Nam như công dân Việt Nam. Quy định này là phù hợp với quy định pháp luật các nước trên
thế giới.
* Nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài đối với quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài
không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam về HN&GĐ. Nguyên tắc này
được quy định tại Điều 101 Luật HN&GĐ năm 2000. Theo đó, pháp luật nước ngoài được áp
dụng trong các trường hợp sau:
- Luật HN&GĐ Việt Nam 2000, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam quy định;
- Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia viện
dẫn.
Trong tất cả các trường hợp áp dụng pháp luật nước ngoài nêu trên, pháp luật nước ngoài
chỉ được áp dụng nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên
tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
Nguyên tắc này còn được ghi nhận tại khoản 1 Điều 4 Luật tư pháp quốc tế Ba Lan, Điều
2 Sắc luật về Tư pháp quốc tế Hungari năm 1979.
Như vậy, pháp luật các nước đều có chung quy định về việc áp dụng pháp luật nước
ngoài không trái nguyên tắc cơ bản của pháp luật trong nước.

hành vi (lex loci astus)
Nguyên tắc này được hiểu là các hành vi được thực hiện ở nước nào sẽ được điều chỉnh
theo pháp luật của nước đó. Điều 147, những nguyên tắc chung về pháp luật dân sự của nước
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định, những người nước ngoài đăng ký kết hôn tại Trung
Quốc phải tuân theo pháp luật Trung Quốc cả về điều kiện kết hôn và nghi thức kết hôn. Kể
cả trường hợp người nước ngoài đủ điều kiện kết hôn theo pháp luật nước mà họ là công dân
nhưng theo pháp luật Trung Quốc chưa đủ điều kiện kết hôn cũng không được đăng ký kết
hôn.
So với pháp luật Việt Nam, pháp luật Trung Quốc có điểm khác biệt chỉ áp dụng duy
nhất hệ thuộc luật nơi thực hiện hành vi, pháp luật Pháp áp dụng nguyên tắc luật nơi thực
hiện hành vi và luật quốc tịch để giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn.
1.3 Các phương pháp giải quyết xung đột pháp luật về kết hôn giữa công dân Việt
Nam và người nước ngoài
1.3.1. Phương pháp thực chất
Phương pháp thực chất hay còn gọi là phương pháp điều chỉnh trực tiếp là phương pháp
điều chỉnh thông qua các quy phạm định rõ các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan
hệ. "Phương pháp trực tiếp ít phổ biến nhưng có xu hướng phát triển".
1.3.2. Phương pháp xung đột
Phương pháp xung đột là phương pháp điều chỉnh gián tiếp, các quy phạm này không
trực tiếp điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài mà nó chỉ ra pháp luật nước nào sẽ
điều chỉnh cụ thể.
Có hai loại quy phạm xung đột: quy phạm xung đột một bên và quy phạm xung đột hai
bên.
1.4. Nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài
1.4.1. Pháp luật trong nước
Nguồn pháp luật Việt Nam là hệ thống pháp luật thành văn, pháp luật điều chỉnh quan hệ
kết hôn có yếu tố nước ngoài bao gồm:
Hiến pháp: Là văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất, quy định các nguyên tắc cơ
bản của pháp luật Việt Nam nói chung và của quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài nói
riêng


Chương 2
NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN GIỮA CÔNG DÂN VIỆT NAM VÀ
NGƯỜI NƯỚC NGOÀI SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ
GIỚI
2.1. Giải quyết vấn đề kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài theo
quy định của pháp luật Việt Nam so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới
2.1.1. Giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn giữa công dân Việt Nam và
người nước ngoài so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới
Điều kiện kết hôn là những đòi hỏi của pháp luật đặt ra đối với các đương sự khi kết hôn.
Khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện đó thì việc kết hôn là hợp pháp, được pháp luật công nhận
và bảo vệ. Do vậy, đây là một trong hai tiêu chí xem xét tính hợp pháp của việc kết hôn.
Thông thường các nước theo hệ thống Civil Law quy định dùng dấu hiệu quốc tịch, các
nước theo Common law dùng dấu hiệu nơi cư trú của đương sự để xác định luật áp dụng.
Theo đó, pháp luật Việt Nam hiện hành giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết
hôn có yếu tố nước ngoài theo các nguyên tắc: Luật quốc tịch, luật nơi cư trú và luật nơi thực
hiện hành vi. Công dân Việt Nam và người nước ngoài phải tuân theo pháp luật nước mà họ là
công dân về điều kiện kết hôn.
Điều kiện về tuổi kết hôn: Pháp luật tất cả các nước đều xem tuổi kết hôn là một trong
những điều kiện kết hôn quan trọng. So với pháp luật một số nước như Pháp, Nhật Bản... độ
tuổi kết hôn được quy định theo pháp luật của Việt Nam tương đối cao (nam công dân Việt
Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên). Đối với người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status