Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền xã trên địa bàn Hà Nội trong giai đoạn hiện nay - Pdf 25


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ MINH PHƯƠNG

ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA CHÍNH QUYỀN XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số : 60 38 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

1.4 Thuận lợi và khó khăn trong tổ chức và hoạt động của chính quyền xã 34
1.5 Mô hình tổ chức bộ máy chính quyền cơ sở ở một số nƣớc trên thế giới . 36
1.5.1 Tổ chức chính quyền cơ sở ở Hàn Quốc
36
1.5.2 Chính quyền cơ sở ở Nhật Bản
37
1.5.3 Chính quyền cơ sở ở Phần Lan
40
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH
QUYỀN XÃ Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI 42
2.1 Một số đặc điểm của Thủ đô Hà Nội. 42
2.1.1 VÒ d©n c- l·nh thæ
43
2.1.2 Về tình hình kinh tế- xã hội.
45
2.1.3 Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội đến năm
2030, tầm nhìn đến năm 2050
48
2.1.4 Quy định pháp lý đặc thù với Thủ đô Hà Nội
50

4
2.2 Thực trạng tổ chức và hoạt động của chính quyền xã ở Thành phố Hà
Nội 53
2.2.1 Thực trạng về tổ chức
53
2.2.2 Thực trạng về hoạt động
60
2.2.3 Nguyên nhân của thực trạng trên
66
5
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
HĐND: Hội đồng nhân dân
UBND: Uỷ ban nhân dân 6
MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết của việc nghiên cứu
Chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân (HĐND) và Uỷ
ban nhân dân (UBND). HĐND giữ vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước ở
địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân.
HĐND với 2 chức năng chính là: quyết định và giám sát, hai chức năng này
bổ trợ cho nhau, giúp hoạt động của HĐND có hiệu quả.
Đảng và Nhà nước luôn đề cao vị trí, vai trò của HĐND, nhất là trong
giai đoạn đổi mới, xây dựng nhà nước pháp quyền, xu thế dân chủ được phát
huy. Nghị quyết Đại hội đảng lần thứ X cũng đã khẳng định “phát huy vai trò
giám sát của Hội đồng nhân dân”, bên cạnh đó cũng đề ra định hướng “tổ
chức hợp lý chính quyền địa phương, phân định lại thẩm quyền đối với chính
quyền ở nông thôn, đô thị, hải đảo”, trong đó có chức năng giám sát của
HĐND ba cấp cũng cần được phân định cho hợp lý. Trong đổi mới, cải cách
bộ máy hành chính, UBND xã cũng là cấp mà nhà nước đặt ra yêu cầu phải
đổi mới. Trong đó mối quan hệ giữa HĐND và UBND được đặt ra như thế
nào, có nên giữ nguyên mô hình hiện nay hay thực hiện dân bầu trực tiếp Chủ

và vì dân. Hoạt động của HĐND và UBND xã trong thời gian qua tuy đã có
đổi mới, được coi trọng hơn, toàn diện hơn và có tiến bộ, song chưa đáp ứng
được yêu cầu và mong đợi của người dân. Mặc dù Luật tổ chức HĐND và
UBND đã quy định tương đối cụ thể chức năng, nhiệm vụ của chính quyền xã
nhưng thực tiễn hơn 5 năm hoạt động cho thấy, nhiều địa phương còn vướng
mắc trong quá trình thực thi vì nhiều lý do. Những lý do này xuất phát từ sự
chưa hoàn thiện của quy định pháp luật cũng như từ thực tiễn hoạt động, tổ
chức bộ máy nhà nước
Hiện nay, đối với Thủ đô, là địa phương có dân cư đông, địa bàn lớn, do
sáp nhập tỉnh Hà Tây và Thành phố Hà Nội, với mục đích xây dựng Thủ đô là

8
trung tâm chính trị- hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hoá, khoa học,
giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước. Vì vậy, việc xây dựng
chính quyền các cấp càng cần phải được đặt ra, để đảm bảo quản lý nhà nước
theo mô hình đô thị với tính đặc thù kết hợp với quản lý nhà nước ở khu vực
nông thôn hiện chiếm 84,9% diện tích tự nhiên (2.841,8km2/3.348,5km2),
dân số chiếm 63,1% (4,07 triệu người/6,45 triệu người) với 408 xã phân bổ tại
19 huyện, thị. Với đặc thù riêng của mô hình chính quyền xã, đặt nặng yếu tố
tự quản, chính quyền xã ở thành phố Hà Nội không chỉ mang tính chất đơn
thuần là chính quyền nông thôn mà phải gắn với chính quyền đô thị một cách
mật thiết, phục vụ cho sự phát triển chung của cả Thủ đô, vì mục tiêu chung,
chính quyền xã phải có sự gắn bó mật thiết, hữu cơ với chính quyền đô thị,
bên cạnh đó đảm bảo sự chỉ đạo thông suốt từ thành phố xuống đến cấp cơ sở.
Nhất là khi việc thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường đang
được triển khai.
Xuất phát từ các lý do trên, tác giả chọn đề tài "Đổi mới tổ chức và
hoạt động của chính quyền xã trên địa bàn Hà Nội trong giai đoạn hiện
nay" làm Luận văn Thạc sỹ luật học, chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà
nước và pháp luật. Đây là đề tài cấp bách, có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận

- "Các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt Nam" của Học
viện Hành chính Quốc gia do tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hiến chủ biên, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2001.
- "Chính quyền cấp xã và quản lý nhà nước ở cấp xã" của Ban Tổ chức
Cán bộ Chính phủ, Viện Khoa học tổ chức Nhà nước do tiến sĩ Chu Văn
Thành chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.
- Một số vấn đề tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương
trong giai đoạn hiện nay do phó giáo sư, tiến sĩ Bùi Tiến Quý chủ biên.
- 55 năm xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân - Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.

10
Bên cạnh đó cũng có một số đề tài thạc sĩ nghiên cứu riêng biệt về tổ
chức và hoạt động của HĐND hay UBND xã, phường hoặc nghiên cứu cả về
HĐND và UBND cấp xã nhưng ở các địa phương cụ thể như Ninh Bình,
Thanh Hóa trong giai đoạn gần đây, chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu
về tổ chức và hoạt động của chính quyền xã ở địa bàn Hà Nội.
Ngoài ra, sau khi Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 và Quy chế
hoạt động của HĐND năm 2005 ra đời với nhiều quy định mới về hoạt động
giám sát thì hầu như chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào về đề tài này.
3. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn không đi sâu nghiên cứu các chế định cụ thể liên quan đến tổ
chức bộ máy nhà nước mà Luận văn đề cập tới những vấn đề thông qua việc
phân tích, tổng hợp những nội dung liên quan trong các bản Hiến pháp, Luật tổ
chức HĐND và UBND cũng như Quy chế hoạt động của HĐND, để từ đó, đưa
ra những kiến giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền xã.
Luận văn cũng dùng quy định pháp luật để soi rọi hoạt động thực tiễn về
hoạt động của HĐND và UBND xã ở thành phố Hà Nội trước đây và sau khi
sáp nhập tỉnh Hà Tây, từ đó đánh giá tính hợp lý, khả thi của hệ thống pháp
luật, những vấn đề còn tồn tại, những quy định chưa phù hợp hay những nội

5. Phƣơng pháp nghiên cứu của Luận văn.
Trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, luận văn sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau đây:
- Tổng hợp, phân tích các thông tin, số liệu liên quan đến nội dung
nghiên cứu.
- So sánh, đối chiếu các quy định của pháp luật qua các thời kỳ, từ đó
soi rọi vào thực tiễn tổ chức và hoạt động của HĐND, UBND xã trên địa bàn
Hà Nội. 12
6. Ý nghĩa khoa học của Luận văn.
Dựa vào thực tiễn tổ chức và hoạt động của HĐND, UBND xã trên cả
nước và ở thành phố Hà Nội nói riêng, Luận văn sẽ khái quát thành những
vấn đề lý luận; rút ra những giá trị lịch sử, những bài học kinh nghiệm về tổ
chức và hoạt động của HĐND, UBND xã ở Thành phố Hà Nội. Đây là những
đóng góp mới vào việc tổng kết thực tiễn hoạt động của chính quyền xã ở
Thành phố Hà Nội nhằm góp phần đổi mới tổ chức của bộ máy chính quyền
Thủ đô.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn.
Kết quả nghiên cứu của Luận văn có giá trị tham khảo đối với các hoạt
động nghiên cứu lý luận về tổ chức và hoạt động của HĐND, UBND xã trên
địa bàn Hà Nội. Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng cho quá trình tiếp tục
hoàn thiện các quy định pháp luật nói chung, đề ra những chủ trương, chính
sách đặc thù cho Thành phố Hà nội và đổi mới tổ chức của chính quyền xã
trên địa bàn Hà Nội chuẩn bị cho HĐND nhiệm kỳ mới bắt đầu năm 2011.
8. Kết cấu của Luận văn.
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, kết cấu của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1- Cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của chính quyền xã

cầu nối giữa chính quyền trung ương và địa phương, thì xã là cầu nối giưã
Nhà nước với nhân dân, là nơi nhân dân trực tiếp thực hiện quyền dân chủ của
mình. Từ đó, việc nghiên cứu để đổi mới chính quyền nhà nước ở địa phương

14
hiện nay, theo suy nghĩ của chúng tôi, trước hết phải được bắt đầu từ cơ sở, từ
việc củng cố và đổi mới tổ chức, hoạt động của chính quyền xã.
Từ rất lâu trong lịch sử, xã đã xuất hiện, hình thành với ý nghĩa là tổ
chức hành chính cấp cơ sở, mặc dầu không liên tục nhưng nhiều nhà nước
phong kiến Việt nam và các chính quyền đô hộ đã sử dụng mô hình tổ chức
bộ máy nhà nước có cấp xã.
Sau Cách mạng tháng Tám thành công ngày 2 tháng 9 năm 1945,
Chính phủ lâm thời của nước Việt nam dân chủ cộng hoà đã xúc tiến các biện
pháp nhằm thành lập và hoàn chỉnh hệ thống cơ quan chính quyền địa phương
kiểu mới. Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt nam mới, Hiến pháp 1946 đã
quy định xã là một cấp hành chính cơ sở trong hệ thống bộ máy nhà nước.
Tiếp đó, ngày 29 tháng 4 năm 1958, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật tổ
chức chính quyền địa phương, quy định rõ về tổ chức và hoạt động, nhiệm vụ
quyền hạn của chính quyền địa phương trong đó có chính quyền cấp xã. Kể từ
đó đến nay, chính quyền cấp xã được duy trì và không ngừng được củng cố
qua hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật như Hiến pháp 1992.
Xuất phát từ đặc điểm cấp xã là đơn vị hành chính lãnh thổ nhỏ nhất
trong hệ thống bộ máy nhà nước nên chính quyền xã có đặc điểm
như sau:
Một là, chính quyền xã là cấp cơ sở tiếp xúc trực tiếp với nhân dân.
Cán bộ xã từ cán bộ Đảng, đoàn thể tới cán bộ HĐND, UBND hàng ngày sinh
hoạt với dân trong mối quan hệ không chỉ là giữa chính quyền với dân mà còn
là quan hệ gia tộc và xóm làng lâu đời. Đây là những người thay mặt Nhà
nước giải quyết trực tiếp công việc hàng ngày. Bên cạnh đó, đối với đơn vị
hành chính phường, mối quan hệ gia tộc, xóm làng gần như không có, dân cư

quyền dân chủ của mình. Trong hệ thống bộ máy nhà nước ở nước ta, xã là
cấp chính quyền cơ sở có vị trí, vai trò rất quan trọng, đó là cấp cuối cùng,
thấp nhất của hệ thống chính quyền nhà nước, là nơi chính quyền gắn bó, tiếp

16
xúc mật thiết với nhân dân, mọi chủ trương, chính sách của Nhà nước đều bắt
nguồn từ đây và cũng chính từ đây các chủ trương, chính sách đó đi vào cuộc
sống, xã là nơi sinh sống của phần lớn dân cư trong cả nước (khoảng 80%),
diện tích cũng chiếm tỷ lệ lớn so với khu vực đô thị.
Hiến pháp 1992, Điều 1 Luật Tổ chức HĐND và UBND quy định:
“HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí,
nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra,
chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên.
- HĐND xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, vừa là một bộ
phận cấu thành không thể tách rời với quyền lực Nhà nước thống nhất trong
cả nước, với quyền làm chủ của nhân dân, vừa đại diện cho ý chí, nguyện
vọng, quyền lợi và quyền làm chủ mọi mặt của nhân dân địa phương. HĐND
xã có vai trò vừa là cơ quan nhà nước, vừa là cơ quan dân cử thể hiện quyền
tự quản ở địa phương. HĐND vừa chịu trách nhiệm trước nhân dân địa
phương, vừa chịu trách nhiệm trước chính quyền cấp trên. Trong tổ chức và
hoạt động của mình, vai trò của HĐND xã được biểu hiện:
Một mặt, với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương,
HĐND xã được nhân dân giao quyền thay mặt thực hiện quyền lực Nhà nước,
quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương, ra nghị quyết chứa quy
phạm pháp luật mang tính quyền lực nhà nước buộc UBND cùng cấp và
người dân thực hiện.
Mặt khác, với tư cách là cơ quan đại diện, HĐND xã là cơ quan do cử
tri bầu ra, HĐND thể hiện tiếng nói, ý chí của nhân dân địa phương khi đưa ra
các quyết định của mình. Quyết định của HĐND chứa đựng mong muốn của
nhân dân xã.

Nhà nước Văn Lang, Âu Lạc xuất hiện rất sớm, cách thời đại ngày nay
khoảng 2500-2700 năm, có sự phân hóa xã hội rõ nét, tổ chức chính quyền
khá đơn sơ. Nhà nước cai quản bằng cách dựa vào bộ máy tự quản ở các làng

18
xã. Luật tục làng xã được thể chế hóa thành phép nước, người dân có đời sống
chính trị khá tự do và dân chủ kiểu làng xã, nhà nước khó có sự can thiệp vào
làng xã. Bộ máy tự quản làng xã phát triển, là cấp trung gian thực hiện quyền
lực nhà nước.
Nhà nước Chămpa trên vùng đất miền Trung từ Đèo Ngang đến Phan
Rang, tổ chức chính quyền cơ sở chịu sự ảnh hưởng của mô hình Ấn Độ và tư
tưởng nền tảng là Ấn Độ giáo.
Nhà nước Phù Nam trên cơ sở văn hóa Đồng Nai, hình thành vào đầu
Công nguyên dưới tác động của văn minh Ấn Độ giáo.
Đặc trưng của chính quyền cơ sở là: Cơ cấu tổ chức mang tính đại diện
làng xã, chức năng hoạt động chủ yếu là liên kết xã hội, các chế định nhà
nước thực chất từ luật tục, ứng xử chính trị lấy hòa đồng làng – nước làm
nguyên tắc.
1.2.1.2 Tổ chức chính quyền cơ sở qua các thời kỳ phong kiến
- Thời kỳ Ngô – Đinh – Tiền Lê: Sử sách lưu lại không ghi chép về
chính quyền cơ sở thời kỳ này, nhưng cấp giáp và cấp xã từ thời kỳ họ Khúc
vẫn được giữ nguyên, tùy từng thời kỳ mà cấp cơ sở là giáp, hương hay dưới
giáp là xã.
- Thời Lý – Trần – Hồ: Năm 1242 nhà Trần chi lại các đơn vị hành
chính, có các cấp Lộ - Phủ (miền xuôi) hoặc Châu (miền núi) – xã. Thời kỳ
sau này, lập thêm cấp huyện trên cấp xã. Thời kỳ này, chính sách tổ chức liên
xã (gồm 2 hay 3 xã có đặc điểm chung được gộp lại) bắt đầu được thực thi.
Đứng đầu Liên xã là chức quan Đại tư xã (quan ngũ phẩm) hay Tiểu tư xã
(quan lục phẩm) do nhà vua bổ nhiệm. Đứng đầu mỗi xã là một xã quan với
tên gọi Xã chính, ngoài ra còn có Xã xử, Xã giám giúp việc. Đến thời Hồ,

trưởng (giữ gìn an ninh, trật tự). Từ 1832 đến 1884 có sự thay đổi căn bản ở
chính quyền xã, bao gồm cơ quan quyết nghị (Hội đồng kỳ mục, Hội đồng
xã…) và cơ quan chấp hành. Người đứng đầu Hội đồng là Tiên chỉ, nhân vật

20
uy tín nhất trong làng (mà không phải Lý trưởng), có quyền xét xử vụ án hình
sự nhỏ. Hội đồng kỳ mục không do dân bầu, không giới hạn số lượng, không
có nhiệm kỳ. Tham gia Hội đồng là người có danh tiếng trong xã như người
đỗ đạt trong các kỳ khoa cử, người có phẩm hàm vua ban, người có tài sản,
người cao niên có uy tín. Lý trưởng, Phó lý, Trương tuần. Lý trưởng và Phó
lý do dân bầu và cấp trên phê chuẩn với nhiệm kỳ 3 năm. Trương tuần do Hội
đồng kỳ mục chỉ định. Điểm khác biệt là mỗi xã chỉ có 1 Lý trưởng.
1.2.2 Quá trình phát triển chính quyền cơ sở từ năm 1945 đến nay.
Trong lịch sử phát triển của Việt Nam, xã đã xuất hiện, hình thành với
ý nghĩa là tổ chức hành chính cấp cơ sở, nhiều nhà nước phong kiến Việt nam
và cả các chính quyền đô hộ đã sử dụng mô hình tổ chức bộ máy nhà nước có
cấp xã. Về mặt văn hoá, cơ sở cũng là hình thức cộng đồng làng xã.
Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt nam Dân chủ cộng hoà, Hiến
pháp 1946, đã quy định xã là một cấp hành chính cơ sở trong hệ thống bộ máy
nhà nước. Tiếp đó, ngày 29 tháng 4 năm 1958, Quốc hội đã biểu quyết thông
qua Luật tổ chức chính quyền địa phương, quy định rõ về tổ chức, hoạt động,
nhiệm vụ và quyền hạn của chính quyền địa phương, trong đó có chính quyền
xã. Kể từ đó đến nay, chính quyền xã được duy trì và không ngừng được củng
cố qua hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật như Hiến pháp các năm 1959,
1980 và các văn bản liên quan, Hiến pháp 1992, Luật tổ chức Hội đồng nhân
dân và Uỷ ban nhân dân (sửa đổi) năm 1994, Pháp lệnh về nhiệm vụ, quyền
hạn cụ thể của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ở mỗi cấp ngày 25
tháng 6 năm 1996 và các nghị định của Chính phủ, Luật tổ chức Hội đồng nhân
dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003
Ngay từ thời kỳ đầu tiên, xã và Hội đồng nhân dân xã đã được coi

có các ban chuyên môn như cấp tỉnh và cấp huyện. Uỷ ban nhân dân xã cũng
không có các cơ quan chuyên môn mà chỉ bao gồm Chủ tịch, các Phó Chủ

22
tịch và các uỷ viên, khác với cấp tỉnh và cấp huyện, các uỷ viên nhìn chung
đều đứng đầu các cơ quan chuyên môn giúp việc cho Uỷ ban nhân dân.
Theo mô hình tổ chức chung, Hội đồng nhân dân xã thành lập ra Uỷ ban
nhân dân, ra các nghị quyết quyết định những vấn đề quan trọng ở địa
phương, giám sát hoạt động thực hiện nghị quyết Hội đồng nhân dân, văn bản
của cơ quan nhà nước cấp trên của Uỷ ban nhân dân và các tổ chức, công dân
trên địa bàn xã. Hội đồng nhân dân xã cũng quyết định tất cả các vấn đề quan
trọng ở địa phương thuộc thẩm quyền của mình trong các lĩnh vực: kinh tế;
văn hoá, giáo dục, xã hội và đời sống; quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã
hội; thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo; thi hành pháp luật;
xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính; hoạt động
giám sát (Các Điều từ 57 đến 63 Pháp lệnh về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của
Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ở mỗi cấp, ban hành năm 1996). Nhìn
chung, pháp luật của chúng ta không có sự phân biệt khác nhau về vị trí, vai
trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã, phường và thị trấn. Tại
Pháp lệnh về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban
nhân dân ở mỗi cấp quy định 7 Điều về thẩm quyền của Hội đồng nhân dân
xã và thị trấn, Hội đồng nhân dân phường cũng có nhiệm vụ, quyền hạn tương
tự như xã và thị trấn và có một Điều quy định Hội đồng nhân dân phường
thực hiện thêm 3 nhiệm vụ, quyền hạn so với Hội đồng nhân dân xã (Điều 64)
Hội đồng nhân dân xã có nhiệm vụ, quyền hạn tập trung vào 3 chức
năng chủ yếu sau:
- Chức năng quyết định. Hội đồng nhân dân căn cứ vào Hiến pháp,
luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nhu cầu và điều kiện cụ thể
của địa phương, trong phạm vi thẩm quyền theo quy định của pháp luật, quyết
định các chủ trương, biện pháp quan trọng nhằm xây dựng và phát triển kinh

- Xã, thị trấn miền núi và hải đảo có từ ba nghìn người trở xuống đến
hai nghìn người được bầu hai mươi lăm đại biểu, có trên ba nghìn

24
người thì cứ thêm một nghìn người được bầu thêm một đại biểu,
nhưng tổng số không quá ba mươi lăm đại biểu; xã, thị trấn có dưới
hai nghìn người trở xuống đến một nghìn người được bầu mười chín
đại biểu; xã, thị trấn có dưới một nghìn người được bầu mười lăm đại
biểu;
Về cơ cấu tổ chức, so với quy định trong Luật trước đây thì HĐND xã
đã có Thường trực HĐND tuy chỉ có 2 người gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch
(trong khi Thường trực HĐND cấp huyện và cấp tỉnh có 3 người). Xét dưới
góc độ Thường trực HĐND làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa
số thì số lượng chỉ có 2 người rất khó đảm bảo nguyên tắc này. HĐND xã
không thành lập các Ban chuyên môn như HĐND cấp tỉnh và huyện.
Nhiệm kỳ mỗi khoá HĐND các cấp là 5 năm.
1.3.1.2 Chức năng, thẩm quyền của HĐND xã
HĐND các cấp nói chung và HĐND xã nói riêng đều có 2 chức năng, đó là
chức năng giám sát và chức năng quyết định.
HĐND xã thực hiện chức năng quyết định thông qua việc xem xét, ban hành
nghị quyết tại kỳ họp HĐND, nội dung, quyền quyết định của HĐND xã trên các
mặt sau:
- Trong lĩnh vực kinh tế: Quyết định biện pháp thực hiện kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội hàng năm; biện pháp thực hiện chương trình khuyến nông, khuyến
lâm, khuyến ngư, khuyến công và chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cây trồng, vật nuôi
theo quy hoạch chung. Quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự
toán thu, chi ngân sách địa phương và phân bổ dự toán ngân sách cấp mình; phê
chuẩn quyết toán ngân sách địa phương; các chủ trương, biện pháp để triển khai
thực hiện ngân sách địa phương và điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương theo
quy định của pháp luật; giám sát việc thực hiện ngân sách đã được Hội đồng nhân

thực hiện xoá đói, giảm nghèo.

26
- Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội: Quyết định
biện pháp bảo đảm thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự; xây dựng lực lượng dân
quân, tự vệ và quốc phòng toàn dân; thực hiện nhiệm vụ hậu cần tại chỗ; thực hiện
chính sách hậu phương quân đội và chính sách đối với các lực lượng vũ trang nhân
dân ở địa phương. Quyết định biện pháp bảo đảm giữ gìn an ninh, trật tự công cộng,
an toàn xã hội; phòng, chống cháy, nổ; đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm và
các hành vi vi phạm pháp luật khác trên địa bàn.
- Trong việc thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo: Quyết
định biện pháp thực hiện chính sách dân tộc, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần,
nâng cao dân trí của đồng bào các dân tộc thiểu số; bảo đảm thực hiện quyền bình
đẳng giữa các dân tộc, tăng cường đoàn kết toàn dân và tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau
giữa các dân tộc ở địa phương. Quyết định biện pháp thực hiện chính sách tôn giáo,
bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân địa phương theo quy định
của pháp luật.
- Trong lĩnh vực thi hành pháp luật: Quyết định biện pháp bảo đảm việc thi
hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của
mình ở địa phương. Quyết định biện pháp bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân
phẩm, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân. Quyết định biện pháp bảo
vệ tài sản, lợi ích của Nhà nước; bảo hộ tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa
phương. Quyết định biện pháp bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công
dân theo quy định của pháp luật.
- Trong việc xây dựng chính quyền địa phương: Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm
Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch và thành viên
khác của Uỷ ban nhân dân cùng cấp; bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân và chấp
nhận việc đại biểu Hội đồng nhân dân xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu theo quy định
của pháp luật. Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân
bầu. Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định, chỉ thị trái pháp luật của Uỷ ban


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status