ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NINH THỊ THU HƯƠNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUẢNG CÁO
Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
PGS,TS. HOÀNG THỊ KIM QUẾ
HÀ NỘI - NĂM 2006 MỤC LỤC
TRANG
MỞ ĐẦU
1
CHƢƠNG 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về
quản lý nhà nước đối với hoạt động quảng cáo
5
1.1.
Một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động quảng
cáo và pháp luật quảng cáo
39
2.1.1.
Thực trạng về hoạt động của các doanh nghiệp
39
2.1.2.
Thực trạng hoạt động quảng cáo trên các phƣơng
tiện quảng cáo
45
2.1.3.
Thực trạng thực hiện các quy định của pháp luật về
vấn đề bảo vệ ngƣời tiêu dùng, cạnh tranh không
lành mạnh và vấn đề văn hoá, thuần phong mỹ tục,
đạo đức xã hội trong quảng cáo
50
2.2.
Thực trạng quản lý nhà nước về quảng cáo
59
2.2.1.
Thực trạng pháp luật về quản lý nhà nƣớc đối với
hoạt động quảng cáo
59
2.2.2.
Thực trạng về bộ máy quản lý Nhà nƣớc về quảng
cáo
86
96
3.2.
Những giải pháp chủ yếu hoàn thiện pháp luật
quảng cáo ở Việt Nam
96
3.2.1.
Hoàn Thiện Pháp lệnh Quảng cáo và các văn bản
hƣớng dẫn thực hiện
96
3.2.2.
Hƣớng sửa đổi, bổ sung một số quy định của Pháp
lệnh Quảng cáo
97
3.3.
Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về quảng cáo
103
3.3.1.
Điều kiện tính chất của cơ quan quản lý nhà nƣớc về
quảng cáo
103
3.3.2.
Tăng cƣờng đào tạo nhân lực cho ngành quảng cáo
106
3.3.3.
Cải cách thủ tục hành chính trong cấp phép thực
1
MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài
Những năm gần đây hoạt động quảng cáo ở nƣớc ta đã có những bƣớc
phát triển mạnh mẽ, trở thành hoạt động thƣờng xuyên của các doanh nghiệp
trong nƣớc và các thƣơng nhân nƣớc ngoài hoạt động tại Việt Nam. Nhiều
doanh nghiệp chuyên kinh doanh dịch vụ Quảng cáo đã ra đời với những hình
thức, phƣơng tiện hoạt động phong phú, tạo nên sự cạnh tranh sôi động. Đó là
một xu hƣớng tất yếu của nền kinh tế trong xu thế hội nhập khu vực và toàn
cầu. Để thúc đẩy xu hƣớng đó phát triển, đồng thời kiềm toả những mặt trái
của nó, tất yếu phải có sự can thiệp của nhà nƣớc vào hoạt động quảng cáo
với sự định hƣớng cần thiết để hoạt động quảng cáo diễn ra trong khuôn khổ
pháp luật.
Tuy nhiên, thực tiễn về hoạt động quảng cáo đang đặt ra nhiều vấn đề bức
xúc. Hoạt động quảng cáo còn lộn xộn, tuỳ tiện, sự cạnh tranh giữa các chủ
thể còn thiếu lành mạnh, ảnh hƣởng đến lợi ích của ngƣời tiêu dùng và lợi ích
của nền kinh tế. Các quy định pháp luật về hoạt động quảng cáo còn nhiều
điểm chồng chéo và nhiều kẽ hở…. Nguyên nhân của những tình trạng này là
do tính hiệu lực và hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nƣớc về quảng cáo
chƣa cao, các chủ thể tham gia vào hoạt động này chƣa hiểu biết hết các
quyền và nghĩa vụ của mình theo pháp luật, hoặc biết nhƣng cố tình làm sai,
từ đó dẫn đến rất nhiều hành vi vi phạm của cả hai phía, đối tƣợng quản lý và
quảng cáo. Do đó việc lựa chọn đề tài" Quản lý nhà nƣớc về quảng cáo ở Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay, thực trạng và giải pháp phát triển" để nghiên
cứu có ý nghĩa thiết thực và bức xúc cả về lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích nghiên cứu của luận văn
3
Mục đích của quảng cáo là kinh tế nhƣng nội dung, hình thức của quảng cáo
lại mang đậm yếu tố văn hoá. Vì vậy, việc nghiên cứu để làm rõ những đặc thù
đó, phát hiện những vấn đề còn vƣớng mắc, bất cập, không còn phù hợp với thực
tiễn của hoạt động quảng cáo. Từ đó có những kiến giải giúp các nhà làm luật, cơ
quan nghiên cứu pháp lý, cơ quan quản lý Nhà nƣớc về hoạt động quảng cáo và
các chủ thể tham gia hoạt động quảng cáo đề ra những phƣơng hƣớng, giải pháp
khắc phục, hoàn thiện chính sách pháp luật đối với hoạt động này.
4. Nội dung và phạm vi nghiên cứu
Căn cứ vào thực tiễn pháp luật Việt Nam, trên cơ sở tham khảo thông lệ
quốc tế, luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nƣớc trong lĩnh
vực quảng cáo để đƣa ra những thực trạng, từ đó thể hiện những đề xuất, kiến
nghị nhằm hoàn thiện hơn hoạt động quản lý nhà nƣớc về quảng cáo ở Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay.
5. Cơ sở khoa học của đề tài
5.1. Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên phƣơng pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
5.2. Cơ sở thực tiễn: Thực tiễn của hoạt động quảng cáo và quản lý hoạt
động quảng cáo ở Việt Nam.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Phƣơng pháp biện chứng khoa học kết hợp với một số phƣơng pháp
nghiên cứu sau đây:
6.1. Phƣơng pháp thống kê, tổng hợp
5
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO
1.1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động quảng cáo
1.1.1. Sự ra đời của hoạt động quảng cáo
Quảng cáo có lịch sử rất lâu đời, ngay từ thời Trung cổ, việc sử dụng
những cái loa và tín hiệu để truyền tin đã đƣợc tìm thấy ở Hy Lạp và Rôma.
Sau phát minh về máy in của Johaun Gutenberg ra đời năm 1438, các tín hiệu
đƣợc thay thế dần bằng chữ viết. Đến cuối thế kỷ XVII, khi tờ báo đầu tiên
xuất hiện trên thế giới, quảng cáo trên báo bắt đầu phát triển, đây là một giai
đoạn quan trọng trong lịch sử quảng cáo. Những quảng cáo đầu tiên trên báo
là một sự nhắn tin, chủ yếu là của các nhà nhập khẩu về hàng hoá họ định
mua. Quảng cáo chào bán cà phê lần đầu tiên xuất hiện trên báo nƣớc Anh
năm 1652, tiếp theo là quảng cáo về sôcôla và chè xuất hiện vào năm 1657-
1658. Chẳng bao lâu sau, khoảng năm 1840 khi thu nhập từ quảng cáo trở
thành nguồn thu chính của nhiều tờ báo thì việc bán không gian trên báo bắt
tƣợng vậy mà quảng cáo vẫn xuất hiện, song chủ yếu là quảng cáo văn hoá,
xã hội nhƣ quảng cáo phim mới tại các rạp chiếu phim; quảng cáo vở diễn
mới tại các rạp hát hoặc các băng rôn, pa-nô, áp -phích; đƣa ra đề nghị hoặc
vận động xã hội nhƣ xoá nạn mù chữ, diệt giặc dốt Đó là quảng cáo ít đƣợc
chú ý vì cho là việc giới thiệu của các cơ quan hoặc tổ chức với công chúng
một sản phẩm văn hoá mới hoặc là một cuộc vận động thực hiện một chủ
trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc. Những dịch vụ quảng cáo xuất hiện ở Việt
7
Nam khi đất nƣớc bắt đầu bƣớc vào thời kỳ đổi mới, đó là từ cuối những năm
1980, đầu những năm 1990 cả nƣớc bắt đầu có vài ba doanh nghiệp kinh
doanh dịch vụ quảng cáo bằng bảng, biển, panô tấm lớn. Thời kỳ phát triển
mạnh mẽ quảng cáo là những năm 1990 đến năm 1995 nhƣng cũng chỉ tập
trung vào quảng cáo bằng chất liệu tôn sơn với những tấm panô, bảng biển
lớn đến cả trăm mét vuông, với khoảng 40 doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ
quảng cáo.
Đến đầu năm 2000, cả nƣớc có gần 3.000 doanh nghiệp kinh doanh
dịch vụ quảng cáo với đủ các thành phần kinh tế, tập trung ở một số thành phố
lớn nhƣ Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng Lực lƣợng quảng cáo
lớn mạnh hơn nữa là phƣơng tiện thông tin đại chúng với gần 500 tờ báo, tạp
chí và hơn 60 đài phát thanh, truyền hình, hơn 40 Nhà xuất bản đều kinh
doanh dịch vụ in, đăng phát quảng cáo. Từ khi Luật doanh nghiệp đƣợc Quốc
hội thông qua và ban hành, số lƣợng các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ
quảng cáo tiếp tục phát triển mạnh.
Ngày nay, hoạt động quảng cáo trở thành nhu cầu thƣờng xuyên, mang
tính sống còn của các nhà kinh doanh. Nó thể hiện ở việc chi phí cho các hoạt
động này ngày càng gia tăng nhanh chóng. Chỉ tính riêng ở Mỹ, chi tiêu cho
quảng cáo lên tới hàng chục tỷ đô la mỗi năm. ở Pháp cũng vậy, hoạt động
cung cấp ra thị trƣờng ngày càng đa dạng và phong phú sẽ cho ngƣời tiêu
dùng nhiều cơ hội để lựa chọn; cùng theo đó là sự thay đổi nhu cầu của ngƣời
tiêu dùng từ đơn giản đến ngày càng khắt khe hơn, do đó việc tiêu thụ sản
phẩm của các thƣơng nhân không dễ dàng nhƣ trƣớc. Mọi sự khan hiếm và
thói quen dễ dãi chấp nhận ở ngƣời tiêu dùng không còn nữa, thay vào đó là
thái độ thờ ơ, hờ hững và kén chọn trong mua sắm, tiêu dùng. Một sản phẩm
cho dù đƣợc sản xuất đặc sắc đến mấy, nếu không gây đƣợc sự chú ý của
9
ngƣời tiêu dùng thì sẽ bị nhấn chìm trong thị trƣờng hỗn độn.
Vậy phải làm thế nào để thị trƣờng biết đến sản phẩm của mình? Làm
thế nào để lôi kéo sự quan tâm và nhu cầu của ngƣời tiêu dùng đối với sản
phẩm, dịch vụ của mình? Đó là vấn đề sống còn đối với các nhà kinh doanh.
Câu trả lời duy nhất đối với họ là phải tìm mọi giải pháp nhằm vào việc gây
sự chú ý của khách hàng, định hƣớng, dẫn dắt, kích thích nhu cầu, hình thành
thói quen tiêu dùng để có thể để gia tăng cơ hội bán hàng. Tất cả những giải
pháp đó đƣợc biết đến nhƣ là nội hàm của khái niệm quảng cáo.
Nhƣ vậy có thể nói quảng cáo ra đời nhƣ là một tất yếu trong nền kinh
tế thị trƣờng. Quảng cáo cũng chỉ ra đời và thể hiện vai trò của nó trong điều
kiện nền kinh tế thị trƣờng, khi mà nền sản xuất hàng hoá xã hội đã đạt đến
một trình độ nhất định, và sự tác động của quy luật cạnh tranh không loại trừ
bất kỳ một chủ thể hay một hoạt động kinh doanh riêng lẻ nào.
Ngày nay, mỗi khi có dịp đến những thành phố xƣa kia phong kín và
nghiêm khắc nhƣ Thƣợng Hải, Phnom Penh hoặc Warsaw, ta thấy hình ảnh
quảng cáo đầy khắp đƣờng phố, trên bảng hiệu, trên tƣờng, trên xe điện, trên
bìa tạp chí, bằng tranh vẽ, bằng đền màu. Tất cả nhƣ thể những tín hiệu tƣợng
trƣng cho đổi mới, cho sự phát triển của nền kinh tế.
Thật vậy, trong những thập niên gần đây, quảng cáo không những đã
cáo theo nghĩa rộng có mặt hầu hết trong mọi ngõ ngách cuộc sống từ các
thông báo về chính trị, pháp luật, văn hoá đến các thông báo cần mua, cần bán
hoặc chuyển dịch về tài sản… Có vai trò hết sức to lớn trong giao tiếp xã hội,
thúc đẩy các mối quan hệ giữa con ngƣời với nhau và nâng cao chất lƣợng cuộc
sống. Theo nghĩa này cũng có nhiều định nghĩa khác nhau.
Theo cuốn Bách khoa Trung Quốc thì quảng cáo là hoạt động nhằm
mục đích báo tin và tuyên truyền quảng cáo[39,tr. 46]. Các nhà khoa học
11
thuộc Viện Nghiên cứu và phổ biến tri thức Bách khoa Trung Quốc đƣa ra
khái niệm quảng cáo nhƣ sau: “Quảng cáo kinh tế là quảng cáo tuyên truyền
tƣ liệu sản xuất, tƣ liệu sinh hoạt, tƣ liệu kỹ thuật, dịch vụ lao động hoặc
thông tin về dịch vụ”[39, tr.54]. “Quảng cáo xã hội là quảng cáo không có
mục đích sinh lợi, phục vụ cho quần chúng nhân dân”[39,tr. 54]. “Quảng cáo
văn hoá là quảng cáo có nội dung tuyên truyền giáo dục, khoa học, xuất bản,
phim ảnh, tranh vẽ [39, tr.55].
Quảng cáo theo nghĩa hẹp là quảng cáo kinh doanh hay quảng cáo
thƣơng mại. Theo nghĩa này quảng cáo cũng đƣợc định nghĩa theo nhiều cách
khác nhau.
Hiệp hội Marketing Mỹ đƣa ra định nghĩa: “Quảng cáo là bất cứ loại
hình nào của sự hiện diện không trực tiếp của hàng hoá, dịch vụ mà ngƣời ta
phải trả tiền để nhận biết ngƣời quảng cáo” [51, tr.45].
Theo hiệp hội quảng cáo Mỹ : “Quảng cáo là hoạt động truyền bá thông
tin, trong đó nói rõ ý đồ của chủ quảng cáo, tuyên truyền hàng hoá, dịch vụ
của chủ quảng cáo trên cơ sở có thu phí quảng cáo, không trực tiếp nhằm
công kích ngƣời khác”[52,tr.34]. “Quảng cáo là một phƣơng thức tuyên
truyền, nó thông qua những phƣơng tiện trung gian nhất định để truyền đạt
một cách có kế hoạch đến cho mọi ngƣời về kiến thức của hàng hoá và tính
hƣớng vào việc tác động ngƣời mua và sử dụng sản phẩm vào kinh doanh.
Quảng cáo loại này còn đƣợc chia thành nhiều lĩnh vực nhƣ: Quảng cáo
nhằm đến lĩnh vực công nghiệp; lĩnh vực nông nghiệp; nhằm đến cơ sở
thƣơng mại hoặc những ngƣời chuyên nghiệp.
Theo phạm vi địa lý: Quảng cáo quốc tế có phạm vi vƣợt ra khỏi biên
giới một nƣớc. Quảng cáo quốc gia chỉ giới hạn trong một nƣớc duy nhất.
Quảng cáo địa phƣơng thực hiện trong một vùng lãnh thổ nhƣ các thành phố,
13
tỉnh…phạm vi tác động hẹp.
Theo phương tiện sử dụng: Quảng cáo in ấn: sử dụng công nghệ in ấn
nhƣ báo, tạp chí, các ấn phẩm. Quảng cáo phát sóng: truyền hình, truyền
thanh. Quảng cáo ngoài trời: Panô, áp phích, băng rôn, biểu ngữ…Quảng cáo
quá cảnh: sử dụng các phƣơng tiện vận chuyển và đặt tại các điểm đỗ, bến
bãi, nhà ga…điểm dừng của các phƣơng tiện vận chuyển. Quảng cáo qua các
phƣơng tiện khác: thƣ trực tiếp, email, website….
Nhƣ vậy có thể thấy hoạt động quảng cáo rất đa dạng và phong phú,
nhƣng trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tác giả đề cập chủ yếu vào
những loại quảng cáo có tính chất phổ biến thƣờng sử dụng và có vai trò
quyết định để tăng tính tập trung của kết luận nghiên cứu. Đó là loại quảng
cáo nhằm vào ngƣời tiêu dùng cuối cùng. Những loại quảng cáo khác sẽ đƣợc
xem xét ở góc độ bổ xung để đảm bảo tính hệ thống của hoạt động này
[38,tr.26].
Vai trò và chức năng của quảng cáo trong đời sống kinh tế - văn hoá -
xã hội: Chúng ta thƣờng thấy về Quảng cáo nhƣ một hoạt động riêng rẽ, thực
ra quảng cáo là một trong bốn chính sách hợp thành chính sách xúc tiến
thƣơng mại tại doanh nghiệp, cụ thể: khuyến mại; hội chợ, triển lãm thƣơng
mại; trƣng bày giới thiệu hàng hoá và quảng cáo. Mỗi công cụ xúc tiến
nghiệp là thoả mãn nhu cầu khách hàng một cách cạnh tranh trên thị trƣờng
mục tiêu. Trong đó quảng cáo có vai trò quan trọng là thúc đẩy và hỗ trợ cho
hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp, giúp cho hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp trở nên hiệu quả hơn, giảm bớt rủi ro, gia tăng vị thế
và sự an toàn cho doanh nghiệp.
Một trong những công việc chủ yếu của các nhà quản lý và điều hành
marketing là đánh giá vai trò cần đảm nhiệm của quảng cáo trong truyền
15
thông maketing, xác định những triển vọng tốt nhất, các đặc tính của sản
phẩm và xác định ngân sách dành cho công tác truyền thông. Các nhà sản
xuất, kinh doanh cũng nên hiểu rằng, quảng cáo không phải là lời giải đáp cho
mọi vấn đề maketing, không phải lúc nào quảng cáo cũng thành công. Bởi vì,
quảng cáo phụ thuộc vào mức độ chấp nhận của ngƣời tiêu dùng hay sử dụng
đối với sản phẩm. Quảng cáo là để làm cho ngƣời tiêu dùng hay sử dụng biết
và cảm nhận đƣợc sự ra đời hay thay thế của một sản phẩm mới, sự cần thiết
hay hữu dụng của sản phẩm đang tồn tại cũng nhƣ kích thích sự tiêu dùng
không ngừng tăng lên. Song để làm đƣợc điều đó, nhà sản xuất, nhà quản lý,
nhà kinh doanh phải nắm đƣợc vòng đời của sản phẩm.
Đối với nền kinh tế quốc dân và sự phát triển của xã hội nói chung:
quảng cáo có tầm quan trọng đáng kể. Xuất phát từ những lợi ích mà quảng
cáo đem lại không chỉ với ngƣời tiêu dùng mà cả những ngƣời sản xuất, kinh
doanh đã góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế đất nƣớc. Quảng cáo thúc
đẩy quan hệ cung-cầu hàng hoá, dịch vụ trong từng lĩnh vực, từng ngành và
trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân có điều kiện gặp nhau. Bởi trên thực tế,
thông tin không phải lúc nào cũng đến đúng lúc, đúng nơi cần đến nếu không
có một kế hoạch truyền thông. Không những thế, quảng cáo cũng tham gia
vào việc hình thành môi trƣờng cạnh tranh lành mạnh trong thƣơng mại, bảo
Trong các doanh nghiệp thực hiện sản xuất và thƣơng mại, quảng cáo
không phải là chức năng kinh doanh nhƣng lại là một vũ khí sắc bén để nhà
quản trị sử dụng nhằm vƣơn tới mục tiêu của mình một cách hữu hiệu. Có
đƣợc ƣu thế này là nhờ vào các chức năng đặc biệt của quảng cáo:
Thứ nhất, chức năng thông tin truyền cảm về sản phẩm: sản phẩm và
dịch vụ tự nó ít có khả năng gây ấn tƣợng cho khách hàng, đặc biệt là khách
hàng nằm ngoài thị trƣờng hiện hữu, họ chƣa một lần mua và sử dụng sản
phẩm của doanh nghiệp. Nhờ vào khả năng truyền bá thông tin rộng rãi trên
các phƣơng tiện đại chúng, qua tính lan truyền kết hợp với năng lực diễn đạt
17
khuyếch đại của quảng cáo mà khách hàng tiềm năng vẫn có thể biết và có
thái độ ƣa thích về sản phẩm, từ đó dẫn tới hành động mua hàng. Nhƣ vậy
Quảng cáo là hoạt động đặc biệt gây ảnh hƣởng tới ngƣời tiêu dùng qua khả
năng thông tin truyền cảm về sản phẩm, nhờ đó doanh nghiệp có cơ hội lôi
cuốn thêm khách hàng, mở rộng thị trƣờng và phát triển kinh doanh của mình.
Thứ hai, chức năng phân biệt các sản phẩm của doanh nghiệp với đối
thủ cạnh tranh: quảng cáo là một diễn đàn công khai mà qua đó các doanh
nghiệp cạnh tranh nhau về sản phẩm và dịch vụ bằng cách thuyết phục ngƣời
tiêu dùng. Để thuyết phục, quảng cáo phải tạo ra sự chú ý cho khách hàng
bằng những ƣu thế của sản phẩm so với các sản phẩm khác. Nếu không quảng
cáo thì làm sao khách hàng biết đƣợc có sự khác nhau giữa các sản phẩm
cùng loại. Điều này tạo cơ hội cho sự tự do lựa chọn của ngƣời tiêu dùng, nó
có lợi cho doanh nghiệp và sự cần thiết cho xã hội.
Thứ ba, chức năng khuyến khích ngƣời tiêu dùng sử dụng sản phẩm:
quảng cáo đƣợc coi nhƣ một chất xúc tác cho quá trình tiêu thụ. Nó gợi mở
những nhu cầu còn tiềm ẩn của con ngƣời, nó hƣớng con ngƣời tới một cuộc
sống văn minh, hiện đại với chất lƣợng cao hơn. Thực tế cho thấy quảng cáo
động văn hoá, xã hội có phƣơng tiện vật chất đƣợc thể hiện. Nó khai thác
những đòi hỏi cao cả của con ngƣời.
Không chỉ truyền đạt cảm xúc, tạo sự thích thú, thông điệp quảng cáo
còn trang bị cho ngƣời tiêu dùng những kiến thức cần thiết để lựa chọn thông
minh, mách bảo họ có thể mua hàng ở đâu, khi nào, giá cả ra sao, tiết kiệm
thời gian mua sắm, thúc đẩy ngƣời tiêu dùng khao khát có mức sống tốt hơn.
Điều này chứng tỏ quảng cáo có vai trò giáo dục, giáo dƣỡng, khuyến khích
nhu cầu sâu sắc bắt nguồn từ giá trị đích thực của sản phẩm và qua đó hƣớng
dẫn đúng đắn của quảng cáo.
19
Các chức năng trên cho thấy quảng cáo có vai trò to lớn trong việc tạo
ra năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp. Nhờ quảng cáo ngƣời tiêu dùng có
đầy đủ thông tin về các sản phẩm trên thị trƣờng, từ đó họ có thể lựa chọn
một cách thông minh những sản phẩm có giá cả, chất lƣợng và thuộc tính ƣu
việt. Lúc này những nhãn hiệu thua kém sẽ phải cố gắng hơn nữa để cải thiện
các đặc điểm cho phù hợp với sự lựa chọn của ngƣời tiêu dùng hoặc thuyết
phục họ chấp nhận những thuộc tính riêng có của mình. Dù bằng cách nào thì
quảng cáo đã thúc đẩy nỗ lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng vƣơn
lên để hoàn thiện sản phẩm của mình tốt hơn trong nhận thức khách hàng, hay
nó chính là công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp. Mức độ cạnh tranh càng
gay gắt thì quảng cáo càng đƣợc chú trọng, chi phí quảng cáo càng gia tăng.
Tuy nhiên, quảng cáo cũng có thể làm giảm đi sự cạnh tranh trong trƣờng hợp
các doanh nghiệp cùng một ngành kinh doanh đều tăng cƣờng vô hạn độ, gây
lãng phí tiền bạc. Thậm chí tình trạng thái quá có thể làm bùng nổ các cuộc
“chiến tranh quảng cáo” hoặc nhằm thôn tính đối tác nhƣ trong liên doanh
CocacolaViệt Nam trƣớc đây, đơn giản vì không phải doanh nghiệp nào cũng
có hàng trăm triệu chi cho quảng cáo và nếu không thể quảng cáo cho sản
luôn luôn hồ hởi, phấn khởi, đem hết năng lực và trí tuệ của mình để sáng tạo
ra lợi ích cho mình, cho Nhà nƣớc và cho xã hội. Quản lý chứa đựng hai
phƣơng diện cơ bản là chính trị- xã hội và tác động, điều khiển.
Trong thời đại ngày nay, quá trình xây dựng nền kinh tế thị trƣờng định
hƣớng xã hội chủ nghĩa đã và đang thay đổi mạnh mẽ vị trí, vai trò của nhà
nƣớc trong đời sống kinh tế đất nƣớc. Quản lý là một yếu tố quan trọng không
thể thiếu đƣợc trong đời sống xã hội. Quản lý là đối tƣợng nghiên cứu của
nhiều ngành khoa học, trong đó có cả khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội.
Mỗi ngành khoa học nghiên cứu về quản lý từ góc độ riêng của mình
và đƣa ra định nghĩa riêng về quản lý. Định nghĩa chung nhất về quản lý là
định nghĩa của điều khiển học. Theo điều khiển học thì quản lý là điều khiển,