ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
番
LƯƠNG T H I K IM DUNG
THỬ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH v ự c XÂY DỤKG
- MỘT SỐ VÂN ĐỂ LÝ LUẬN VÀ THựC TIÊN
• • •
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH sử NHÀ NƯỚC
VÀ PHÁP LUẬT
MÃ SỐ: 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC s ĩ LUẬT HỌC
• • • *
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. PHẠM HỒNG THÁI
Đ A I HOC Q U Ố C GIA HÁ NÓI
TRUNG ĨÁM ĨHỘ N G tin thư v iệ n
HÀ NỘI - NÃM 2006
L Ờ I C ẢM ƠN
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn PGS.TS,
Phạm Hổng Thái đã tận tình chỉ bảo giúp tồi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
này, Đồng thời, tôi cũng đã nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi
của cô chủ nhiệm lớp Cao học Luật khoá 9,sự đìu dắt của các thầy, cô và sự
động viên của gia đình, bạn bè trong suốt 3 năm của khóa học, Tôi xin được
bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới những sự quan tâm, giúp đỡ quý báu
đó !
Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2006
Tác giả
LƯƠNG THỊ KIM DUNG
1
LỜI CAM ĐOAN
nồm
50 đến 26
nhữnu nãĩiì đầu tlìập kỷ 70
2.1.2. Giai đoạn từ nãm 1975 đến năm 1990 27
2.1.3. Giai đoạn từ nãm 1990 đến trước khi có 34
luật Xúy cỉựno; năm 2003
2.2 Thủ tục hành chính trong lĩnh vực xây dựng sau khi có Luật 48
Xay dựng (từ nãm 2003 đến nay)
2.3 Thú lục lạp, thẩm định' plie duyệt đầu tư dự án đầu tư xay 51
dựng công trình theo quy định phấp luật hiện hành
2.3.1. Lạp dự án đẩu tư xãy dựng công trình 5 1
2.3.2. Thẩm định dự án dầu tư xây dựng công trình 53
2.3.3. Quyết định đầu tư xây dựng công trì nil 56
2.4. Thủ tục cấp phép xây dựng 57
2.4.1 Cơ quan có tliẩm quyền cấp giấy phép xây dựng 60
2.4.2 Hổ sơ xin cấp giấy phép xây dựng 63
2A3. Quyền và nghĩa vụ của người xin cấp phép xây dựng 69
2.4.4.Thực tế thực hiện thủ tục cấp phép xây dựng ở một 70
số địa phương
2.5.
Một số nguycn nhân hạn chế 73
2.5.1. vể pháp luật 74
2.5.2. Vồ tổ chức bộ máy quán lý lĩnh vực xây dựng 77
2.5.4. Về đội ngũ cán bộ, công chức. 78
2.5.5. Cơ sở vạt chất 79
Chương 3. NHŨNG YÊU CẦU VÀ KIÊN NGHỊ HOÀN THIỆN THỦ TỤC 71
HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH v ụ c XÂY DỤNG
3.1. Quail đicm hoàn ứiiộn thủ (ục liành chính trong ỉĩnh vực xây dụììg 71
3.2. Những yêu cầu khi hoàn thiện thủ tục hành chính trong 83
lĩnh vực xây dự! ì g
trương, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về cải cách thủ tục hành
3
chính nói chung và cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực xây dựng nói
riêng. Nhiều nghị quyết của Đảng đã đưa ra định hướng về việc cải cách một
bước cơ bản của thủ tục hành chính, cả về thể chế và tổ chức thực hiện, loại bỏ
những khâu xin phép, xét duyệt không cần thiết, giảm phiền hà, ngăn chặn tệ
cửa quyền, sách nhiễu, tham nhũng, hối lộ, vi phạm pháp luật; tập trung cải
cách hành chính trong lĩnh vực tác động trực tiếp tới đời sống và sản xuất kinh
doanh của nhân dân, đẩy mạnh việc giải quyết khiếu kiện của dân. Tăng
cường trách nhiệm của cơ quan quản lý cán bộ trong việc giải quyết các đơn,
thư tố cáo về những sai phạm của cán bộ, công chức • • •
Ngày 05/4/2004 Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ số 09/2005/CT-TTg
về tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính. Tại mục 1 của Chỉ thị quy
định: "Tổng rà soát và sửa đổi, đơn giản hoá thủ tục hành chính trên các lĩnh
vực thuộc phạm vi quản lý được phân công. Tập trung trước hết đối với một số
lĩnh vực đang có nhiều bức xúc là: đăng ký hộ tịch, hộ khẩu, công chứng,
cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở、cấp phép xây dựng,
thi hành tuyển cán bộ, công chức, đăng ký kinh doanh, thuế, hải quan' Như
vậy, thủ tục hành chính cấp phép xây dựng, lập, thẩm định, phê duyệt dự án
đầu tư xây dựng hiện nay đang là một trong những khâu cấp bách mà trong
những năm tới tiếp tục cần phải được thực hiện cải cách triệt để.
Từ những yêu cầu của thực tiễn cùng với cơ sở pháp lý nói trên, đã đòi
hỏi chúng ta phải tiếp tục nghiên cứu về thủ tục hành chính trong lĩnh vực xây
dựng để để tìm ra một thủ tục hành chính trong hoạt động xây dựng sao cho
đơn giản, công khai, minh bạch, phù hợp với thực tiễn là một đòi hỏi khách
quan, cấp thiết, góp phần làm cho hoạt động đầu tư xây dựng ngày có hiệu quả
hơn, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư sản xuất kinh doanh phù hợp
với nền kinh tế nước ta hiện nay, qua đó đưa ra những kiến nghị khoa học cho
việc tiếp tục cải cách thủ tục hành chính trong hoạt động xây dựng nói chung
và hoạt động cấp phép, thẩm định dự án đầu tư nói riêng.
4. Giới hạn của đề tàỉ
Thủ tục hành chính trong lĩnh vực xây dựng rất rộng lớn, bắt đầu từ thủ
tục lập dự án, đánh giá dự án, phê duyệt dự án đầu tư, xây dựng, cấp phép xây
dựng, giám sát, kiếm định chất lượng công trình, hoàn công…Trong khuôn
khổ của luận văn, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu đến thủ tục hành chính
trong giai đoạn lập dự án đầu tư, và cấp phép xây dựng.
5* Cơ sở phương pháp luận và phương nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận chủ nghĩa Mác-
Lênin: phương pháp biện chứng duy vật, phương pháp duy vật lịch sử; các
phương pháp cụ thể: so sánh, phân tích tổng hợp, diễn dịch, quy nạp và các
phương pháp nghiên cứu khác.
6. Bố cục luận văn
Bố cục luận văn bao gồm:
- Mở đầu
- Phần nội dung:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thủ tục hành chính trong lĩnh vực
xây đựng
Chương 2: Thực trạng về thủ tục hành chính trong lĩnh vực xây dựng
Chương 3: Những yêu cầu và kiến nghị hoàn thiện thủ tục hành chính
trong lĩnh vực xây dựng
- Kết ỉuận
- Tài liêu tham khảo.
CHUƠNG 1
NHŨHG v ấ n đ ê Lý lu ậ n v ề t h ủ t ụ c h à n h c h ín h
TRONG LĨNH v ự c XÂY DỤNG
1.1. THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
1.1.1. Quan niệm về thủ tục hành chính
lý nào đều có thể nhận thấy tính kế tiếp, liên tục của các hành động, nhưng
không chỉ trình tự thời gian của các hành động, mà bên cạnh đó, phương pháp,
cách thức thực hiện các hành động cũng vô cùng quan trọng.
Đồng thời, hoạt động quản lý nhà nước luôn tuân thủ những quy tắc
pháp lý, những quy định cụ thể về trình tự, cách thức khi sử dụng thẩm quyền
nhà nước đối với từng cơ quan để giải quyết công việc, gọi chung là những
quy phạm thủ tục, trong đó có thủ tục lập pháp, thủ tục tố tụng tư pháp và thủ
tục hành chính. Tất cả các quy tắc pháp lý, quy định về trình tự thực hiện thẩm
quyển của cơ quan nhà nước trong việc giải quyết các nhiệm vụ nhà nước và
công dân tạo nên hệ thống quy phạm thủ tục. Sự tham gia của nhiều thành
viên chức năng (chức năng chuyên ngành và chức năng theo khu vực, lãnh
thổ), theo trình tự thời gian và các bước trong thủ tục hành chính còn gọi là
quy trình (ví dụ,quy trình thủ tục hải quan). Đó là những quy tắc bắt buộc các
cơ quan nhà nước cũng như công chức nhà nước phải tuân theo trong quá trình
giải quyết cồng việc theo chức năng và thẩm quyền được phân công.
Vì vậy, thủ tục hành chính là phương tiện đảm bảo cho các quy phạm
vật chất quy định trong các quyết định hành chính được thi hành thuận lợi, nó
đảm bảo cho việc thi hành các quyết định được thống nhất và có thể kiểm tra
được tính hợp pháp, hợp lý cũng như các hệ quả do việc thực hiện các quyết
định hành chính tạo ra. Khi thủ tục hành chính được vận hành một cách hợp
lý, các thủ tục hành chính sẽ tạo khả năng sáng tạo trong việc thực hiện các
quyết định quản lý đã được thông qua, đem lại hiệu quả thiết thực cho quản lý
nhà nước, giảm sự phiền hà, củng cố quan hệ giữa nhà nước và nhân dân.
8
Tóm lại,
Thủ tục hành chính là trình tự’ cách thức quản lý của cơ quan
hành chính Nhà nước khi thực thi công vụ, là công cụ có tính pháp ỉỷy giúp
cho hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan nhà nước được trật tự
các quy phạm thủ tục của Luật Hành chính quy định mới là thủ tục hành
chính, thủ tục hành chính được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố và
thực thi, việc thực hiện phải tuân theo quy định trong hệ thống văn bản quy
phạm pháp luật nhà nước. Đó là cơ sở xác định tính pháp lý của thủ tục hành
chính. Vì mang tính pháp lý nên thủ tục hành chính trở thành công cụ có giá
trị giúp cơ quan hành chính nhà nước tổ chức điều hành trật tự thống nhất.
Thứ hai,
thù tục hành chính gắn liền với hoạt động quản lý của cơ quan
hành chính nhà nước.
Nhà nước thành lập các cơ quan hành chính nhà nước, với chức năng là
hoạt động chấp hành và điều hành. Các hoạt động này diễn ra liên tục theo
một trình tự nhất định. Thủ tục hành chính do cơ quan hành chính nhà nước có
thẩm quyền ban hành và thực thi,quy định trình tự, cách thức giải quyết công
việc của cơ quan hành chính nhà nước. Đó là những thủ tục để giải quyết công
việc nội bộ cơ quan nhà nước và công việc liên quan tới việc cơ quan nhà nước
giải quyết quyền chủ thể, nghĩa vụ pháp lý của công dân. Mặt khác các hoạt
động quản lý được các quy phạm thủ tục của Luật hành chính quy định do vậy
các thủ tục hành chính gắn liền với hoạt động quản lý của cơ quan hành chính
nhà nước. Hoàn thiện thủ tục hành chính không ngoài mục đích là để tăng
cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý của cơ quan hành chính nhà nước
hiện nay.
Thứ ba,
thủ tục hành chính có tính thích ứng linh hoạt
10
Quản lý hành chính là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước vì vậy
phương pháp quản lý là mệnh lệnh, quyền uy nhưng có kết hợp thoả thuận.
Nhưng cuộc sống luôn vận động và không ngừng biến đổi, các đối tượng quản
lý rất đa dạng và có những yêu cầu rất khác nhau, có đối tượng cần phải quản
lý chặt chẽ, nhưng có đối tượng lại cần phải cởi mở, thông thoáng vì vậy về
trình tự, cách thức tiến hành quản lý không thể cứng nhắc áp dụng cho mọi
,
chồng chéo làm phát sinh những tiêu cực, phiền hà cho nhân dân.
l.l,3,Nhữ ng nguyên tắc cơ bản của thủ tục hành chính
Việc xây dựng thủ tục hành chính là nghiên cứu để đề ra những cách
thức giải quyết công việc nhằm thực hiện các quy định nội dung của pháp luật
và đáp ứng yêu cầu đỏi hỏi của thực tế.
Do đó, việc xây dựng thủ tục hành chính được đặt trên những nguyên
tắc cơ bản do Hiến pháp quy định.
Thủ tục hành chính được xây dựng trên nguyên tắc chung là phù hợp
với chức năng quản lý được giao và theo thẩm quyền do luật pháp cho phép
[17
,
tr59].
Thủ tục hành chính quy định trình tự về thời gian, cách thức giải quyết
nhàm mục đích để điều hành, quản lý được trật tự, thống nhất. Mỗi cơ quan
hành chính nhà nước khi thành lập đều được giao chức năng, nhiệm vụ cụ thể.
Do vậy, thủ tục hành chính khi xây dựng sẽ căn cứ vào chức năng quản lý,
thẩm quyền do pháp luật cho phép để xây dựng và ban hành. Việc xây dựng
và ban hành thủ tục hành chính là cả một nghệ thuật của nhà quản lý nhưng
phải tuân theo những nguyên tắc chung cơ bản sau:
Thứ nhất, việc xây dựng và ban hành thủ tục hành chính phái phù hợp
với pháp chếXHCN,với pháp luật hiện hành của nhà nước ta,
nhằm tạo được
một công cụ quản lý hữu hiệu cho bộ máy nhà nước.
12
Theo nguyên tắc này thì chỉ những cơ quan nhà nước có thẩm quyền
mới được ban hành các thủ tục hành chính. Các thủ tục hành chính được ban
hành phải đảm bảo không mâu thuẫn, trái với pháp luật, trái với vãn bản của
cơ quan nhà nước cấp trên. Phải thực hiện đúng trình tự với phương tiện, biện
không phù hợp với thực tế. Cần phải được đảm bảo rằng mọi thủ tục đều được
cồng khai cho mọi người biết để tuân thủ.
Thứ tư, thủ tục hành chính cần phải đảm bảo tính hệ thốngy
có nghĩa là
các thủ tục không được mâu thuẫn với nhau trong cùng một lĩnh vực cũng như
với các lĩnh vực khác. Khi thủ tục được thống nhất thì việc áp dụng thuận tiện,
hiệu quả.
Như vậy, hoạt động xây dựng và thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh
vực xây dựng cũng phải đáp ứng được những nguyên tắc trên để đảm bảo cho
thủ tục hành chính đơn giản, gọn nhẹ, hiệu quả, hiện đại, phù hợp với đường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng.
Thực hiện thủ tục hành chính là việc chấp hành các quy định của pháp
luật, do vậy chủ thể thực hiện thủ tục nói chung và người được trao thẩm
quyền thực hiên nói riêng cần phải nghiêm túc, thực hiện đúng và đủ các
nguyên tắc được pháp luật quy định khi thực thi công vụ.
1.2. Thủ tục hành chính trong lĩnh vực xây dựng
1.2.L Khái quát về hoạt động xây dựng
Theo quy định của Luật xây dựng năm 2003 thì hoạt động xây dựng là
hoạt động bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công
trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi công xây dựng công
trình, giám sát thi công xây dựng công trình, quản lý dự án đầu tư xây dựng
công trình, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác
có liên quan đến xây dựng công trình [18, tr 19].
Trong đó dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có
liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công
14
trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công
trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định, Dự án đầu tư xây
dựng được chủ đầu tư xây dựng công trình lập.
Hoạt động lập dự án đầu tư xây dựng công trình gồm việc lập: phần
nhiên, môi trường đổ thị, các di sản văn hoá,lịch sử và các công trình kiến
trúc có giá trị; bảo đảm việc xây dựng và sử dụng công trình theo quy định
của pháp luật có liên quan, làm căn cứ để giám sát thi công, xử lý các vi phạm
về trật tự xây đựng, lập hồ sơ hoàn công và đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền
sử dụng công trình. Vì vậy, quá trình thẩm định dự án đầu tư xây dựng và cấp
giấy phép xây dựng là một công cụ chủ yếu để kiểm soát hoạt động xây dựng
nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thực hiện xây dựng
các công trình nhanh chóng, thuận tiện.
Với đặc thù của ngành xây dựng là liên quan đến nhiều ngành, nhiều
cấp nên thủ tục hành chính được thực hiện bởi nhiều cơ quan và công chức
nhà nước. Và đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập
quốc tế,do đó đòi hỏi thủ tục hành chính cần phải kịp thời, thích ứng với điều
kiện kinh tế hiện nay*
Thủ tục hành chính trong lĩnh vực xây dựng là phương tiện để đưa các
quy phạm pháp luật nội dung trong lĩnh vực xây dựng vào đời sống thực tế,
được thi hành thuận lợi, nó đảm bảo cho việc thi hành các quyết định được
thống nhất và có thể kiểm tra được tính hợp pháp, hợp lý cũng như các hệ quả
do việc thực hiên các quyết định hành chính tạo ra. Khi thủ tục hành chính
được xây dựng và vận dụng một cách hợp lý nó sẽ tạo ra khả năng sáng tạo
trong việc thực hiện các quyết định quản lý đã được thông qua, được đem lại
hiệu quả thiết thực cho quản lý nhà nước. Thủ tục hành chính nói chung và
thủ tục hành chính trong lĩnh vực xây dựng nói riêng liên quan đến quyền và
lợi ích của công dân, tổ chức, đo vậy khi được xây dựng hợp lý và vận dụng
16
tốt vào đời sống nó sẽ có ý nghĩa rất thiết thực, làm giảm sự phiền hà,củng cố
được quan hệ giữa nhà nước và dân. Công việc được giải quyết nhanh chóng,
giảm sự phiền hà tới người dân, góp phần chống tệ nạn tham nhũng, sách
nhiễu.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, ngành xây dựng đã có những bước
phát triển không ngừng về mọi mặt. Hệ thống ván bản quy phạm pháp luật về
___
. ■— _ I ■■- r -I •一 ■ ■ 1 ■ ^
giúp cho hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan hành chính nhà
nước được trật tự thống nhất về trình tự và cách thức giảỉ quyết công việc
trong mối quan hệ với tổ chức và công dân.
Trong đó thủ tục hành chính giai đoạn lập dự án đầu tư xây dựng công
trình, quyết định đầu tư xây dựng công trình là quy trình, quy tắc, các bước
phải tuân thủ trong việc lập dự án đầu tư xây dựng công trình của chủ đầu tư
xây đựng công trình, trình tự thực hiện thẩm quyền của người quyết định đầu
tư xây dựng công trình.
Thủ tục lập dự án đầu tư xây đựng cồng trình, quyết định đầu tư xây
dựng công trình gồm các bước cơ bản sau:
Bước 1:
Chủ đầu tư lập dự án đầu tư xây dựng công trình (gồm phần
thuyết minh, thiết kế cơ sở, hoặc báo cáo kinh tế
一
kỹ thuật, phụ thuộc vào
từng loại cồng trình);
Bước 2:
Người có thẩm quyền quyết định đầu tư xây dựng công trình tổ
chức thẩm định;
Bước 3:
Người có thẩm quyền phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công
trình, và tổ chức kiểm tra việc thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình.
Thủ tục cấp giấy phép xây dựng là trình tự những việc làm giữa cơ quan
quản lý nhà nước về xây dựng với chủ đầu tư xây dựng cổng trình để bảo đảm
cho các hoạt động xây dựng được tiến hành kiểm tra, giám sát, xử lý trong
khuôn khổ pháp luật Xây dựng.
công cụ có tính pháp ỉý cho nên những quy định của thủ tục hành chính mang
tính mệnh lệnh, uy quyền đòi hỏi các chủ thể khi tham gia thủ tục hành chính
phải thực hiện đúng như quy định, như vậy thủ tục hành chính trực tiếp giúp
19
cho việc điều hành, quản lý của cơ quan hành chính nhà nước được trật tự,
thống nhất tránh được tình trạng lộn xộn, thiếu khách quan. Nó đảm bảo cho
việc thi hành các quyết định được thống nhất và có thể kiểm tra được tính hợp
pháp, hợp lý cũng như các hệ quả do việc thực hiện các quyết định hành chính
tạo ra.
Qua thủ tục hành chính bản thân chủ thể thực hiện cũng như các chủ thể
tham gia thủ tục có thể dễ dàng kiểm tra, giám sát cách thức, quy trình giải
quyết công việc của cán bộ,công chức nhà nước, kịp thời phản ánh, kịp thời
ngăn chặn các hành vi tiêu cực, sách nhiễu.
Nếu thiếu thủ tục hành chính trong lĩnh vực xây dựng thì làm hạn chế
các quyết định hành chính của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền, như nếu
không cấp giấy phép xây dựng thì rất khó kiểm soát việc xây đựng cồng trình
có phù hợp với quy hoạch xây dựng mà nhà nước đã đưa ra hay không và khó
khăn trong việc đăng ký quyển sở hữu hoặc sử dụng công trình.
Thủ tục hành chính còn là cầu nối giữa cơ quan nhà nước với nhân dân
với các doanh nghiệp, qua thủ tục hành chính nhân dân và các doanh nghiệp
thực hiện quyền chủ thể của mình và hiểu được công việc các cơ quan nhà
nước phải làm, từ đó tạo ra sự gắn bó, cộng tác để cùng giải quyết công việc.
Thủ tục hành chính trong lĩnh vực xây dựng ngoài vai trò có giá trị
pháp lý để thiết lập trật tự trong điều hành công việc của các cơ quan hành
chính nhà nước trong lĩnh vực xây dựng còn là phương tiện để đưa các quy
định pháp luật xây dựng vào cuộc sống.
Ngày nay, trong cơ chế thị trường và xu thế hội nhập quốc tế,để thu hút
được mọi nguồn lực trong nước và ngoài nước vào đầu tư xây dựng cơ bản,
xây dựng cơ sở hạ tầng thì thủ tục hành chính cần phải cởi mở, thông thoáng
và thuận tiện. Thủ tục hành chính luôn là công cụ nhạy bén, là trợ thủ đắc lực
trong điều hành, quản lý của nhà nước nói chung và quản lý lĩnh vực xây dựng
nói riêng.
21
trạng không đồng bộ, chồng chéo, thiếu cơ chế phù hợp của các văn bản pháp
quy hiện hành về lĩnh vực xây dựng.
Việc xây dựng và thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực xây dựng
phù hợp quy định của pháp luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và với
yêu cầu đòi hỏi của sự phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo tính minh bạch, công
bằng khi hoạt động xây dựng và ban hành pháp luật thống nhất, kịp thời thể
chế hoá chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng, phản ánh đúng những
đặc điểm của kinh tế-xã hội trong mỗi giai đoạn cụ thể.
Vì vậy. tháng 11 nãm 2003,Luật xây dựng được Quốc hội thông qua
mới mục đích thể chế hoá các quan điểm của Đảng, tạo động lực thúc đẩy
phát triển ngành xây dựng, tạo lập khuôn khổ pháp lý cho các doanh nghiệp
trong lĩnh vực xây dựng có điều kiện phát triển thuận lợi hơn, nâng cao chất
lượng và sức cạnh tranh, góp phần vào sự phát triển đất nước.
Thứ hai, hệ thống các cơ quan quản lỷ về xây dựng.
Nội dung quản lý nhà nước về xây dựng đó là: Xây dựng và chỉ đạo
thực hiện chiến lược, kế hoạch phát triển các hoạt động xây dựng; Ban hành
quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng; Quản lý chất lượng, lưu trữ hổ sơ công trình
xây dựng; Cấp, thu hồi các loại giấy phép trong hoạt động xây dựng; Hướng
dẫn, kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm trong
hoạt động xây dựng; Tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ trong hoạt
động xây dựng; Đào tạo nguồn nhân lực cho hoạt động xây dựng; Hợp tác
quốc tế trong lĩnh vực hoạt động xây dựng. [Điều 111,Luật Xây dựng năm
2003].
Để thực hiện nội dung quản lý nhà nước về xây dựng, cơ quan nhà nước
có thẩm quyền đó là: Chính phủ thống nhất và quản lý nhà nước về xây dựng
trong phạm vi cả nước; Bộ xây dựng, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi, nhiệm
vụ của mình phối hợp với Bộ xây dựng để thực hiện quản lý nhà nước về xây