ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TẠ THỊ THU HƯỜNG
VAI TRÒ CỦA DƯ LUẬN XÃ HỘI
VỚI VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT Ở NƯỚC TA
HIỆN NAY luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc
Hµ néi - 2009 MỤC LỤC Trang
Trang phụ bìa Mục lục MỞ ĐẦU
1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DƯ LUẬN
XÃ HỘI VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
5
1.1.
Những vấn đề cơ bản về dư luận xã hội
5
1.1.1.
Các quan niệm khác nhau về dư luận xã hội
5
1.1.5.
Quá trình hình thành dư luận xã hội
20
1.1.5.1.
Các giai đoạn hình thành dư luận xã hội
20
1.1.5.2.
Các yếu tố tác động đến quá trình hình thành dư luận xã hội
22
1.2.
Một số vấn đề lý luận cơ bản về thực hiện pháp luật
28
1.2.1.
Khái niệm thực hiện pháp luật
28
1.2.2.
Các hình thức thực hiện pháp luật
30
1.2.3.
Khái niệm và đặc điểm của áp dụng pháp luật
31
1.3.
Vai trò của dư luận xã hội với việc thực hiện pháp luật
40
1.3.1.
Mối quan hệ giữa dư luận xã hội và pháp luật
40
1.3.2.
Vai trò của dư luận xã hội với việc thực hiện pháp luật
44
69
2.2.
Những kết quả đạt được qua việc phát huy vai trò của dư
luận xã hội trong việc thực hiện pháp luật ở nước ta hiện nay
75
2.2.1.
Mở rộng khả năng tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã
hội của đông đảo nhân dân
75
2.2.2.
Nhân dân tham gia tích cực, chủ động vào công tác thanh
tra nhân dân
76
2.2.3.
Nhân dân tích cực tham gia đóng góp ý kiến với Đảng, Nhà
nước về những vấn đề phát triển kinh tế - xã hội thông qua
các cơ quan dân cử
77
2.2.4.
Nhân dân trực tiếp đấu tranh chống tiêu cực thông qua việc
khiếu nại, tố cáo và thông qua các diễn đàn nhân dân, nhất
là bằng các phương tiện thông tin đại chúng
80
2.2.5.
Nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân
81
2.3.
Những hạn chế của dư luận xã hội trong việc thực hiện
pháp luật và nguyên nhân
82
Dân chủ hóa các lĩnh vực của đời sống xã hội
96
3.2.1.1.
Dân chủ hóa một số lĩnh vực cơ bản
98
3.2.1.2.
Đổi mới các yếu tố cấu thành hệ thống chính trị và mối
quan hệ giữa các yếu tố đó để phát huy hơn nữa quyền dân
chủ của nhân dân
99
3.2.1.3.
Hoàn chỉnh hình thức dân chủ đại diện, mở rộng hình thức
dân chủ trực tiếp nhằm phát huy dân chủ ở nước ta hiện nay
101
3.2.1.4.
Nâng cao tính tích cực về chính trị của dư luận
103
3.2.1.5.
Khắc phục bệnh quan liêu của đội ngũ cán bộ, công chức
trong cơ quan nhà nước
103
3.2.2.
Nâng cao vai trò của báo chí và thông tin đại chúng
105
3.2.3.
Nâng cao trình độ văn hóa chính trị của nhân dân
110
3.2.4.
Sử dụng kết quả nghiên cứu dư luận xã hội trong lãnh đạo
và quản lí xã hội
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do
dân, vì dân là một định hướng lớn được Đảng khẳng định trong Văn kiện Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ IX với các giải pháp được đặt ra như kiện toàn tổ
chức và hoạt động của Quốc hội với trọng tâm là tăng cường chức năng lập
pháp; xây dựng đội ngũ cán bộ công chức trong sạch, vững mạnh, có năng lực;
cải cách tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp; xây dựng và hoàn thiện cơ
sở pháp lý cho việc mở rộng dân chủ, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân,
bảo đảm cho nhân dân tham gia tích cực và chủ động trong quản lý xã hội.
Với định hướng xây dựng nền kinh tế thị trường và Nhà nước pháp quyền
hiện nay, song song với hình thức dân chủ trực tiếp như trưng cầu dân ý (người
dân bỏ phiếu trực tiếp quyết định về một số vấn đề của đất nước), việc tiếp tục
tìm kiếm những mô hình mới nhằm phát huy vai trò của quần chúng nhân dân
và các tổ chức xã hội thông qua dư luận xã hội đối với quá trình hoạch định
và tổ chức thực thi đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước
đang được đặt ra như một nhu cầu cấp bách cả về mặt lý luận và thực tiễn.
Dư luận xã hội là một hiện tượng đặc biệt trong đời sống xã hội. Trên
bình diện chung, nó biểu thị những mối quan tâm, tâm tư, nguyện vọng, được
thể hiện dưới dạng ý kiến phán xét, đánh giá của đông đảo người dân về một
hiện tượng, quá trình, sự kiện nào đó xảy ra trong xã hội. Trong bất kỳ xã hội
nào, dư luận xã hội cũng có những ảnh hưởng nhất định, nhiều khi rất mạnh
mẽ đến các quá trình chính trị - xã hội của đất nước, đến việc lãnh đạo và
quản lý người dân.
Để quản lí xã hội, Nhà nước với tư cách là một tổ chức quyền lực
chính trị đặc biệt đã ban hành ra pháp luật. Pháp luật là hệ thống các quy tắc
xử sự do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội và đảm bảo
2
thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế. Để đưa các qui định của pháp luật
vào cuộc sống phải kể đến vai trò của hoạt động thực hiện pháp luật. Thực
Dư luận xã hội không phải là một đề tài mới mẻ, nó đã được rất nhiều
nhà khoa học, nhà tâm lí xã hội, nhà xã hội học quan tâm, nghiên cứu. Điều
đó thể hiện thông qua một số công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề
này như: "Dư luận xã hội trong sự nghiệp đổi mới" của PTS. Lương Khắc
Hiếu; "Tác động của dư luận xã hội đối với ý thức pháp luật của đội ngũ cán
bộ cấp cơ sở" của TS. Trần Thị Hồng Thúy và ThS. Ngọ Văn Nhân; "Một số
vấn đề về công tác tư tưởng và nghiên cứu dư luận xã hội ở Hà Nội
"
của tác
giả Lưu Minh Trị; "Dư luận xã hội" của TS. Bùi Hoài Sơ; "Xã hội học về dư
luận xã hội" của tác giả Nguyễn Quý Thanh; các bài đăng trên tạp chí: "Tâm
trạng, dư luận xã hội và những vấn đề đặt ra đối với công tác tư tưởng của
Đảng hiện nay" của Tô Ngọc Quyết, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 9/2004;
"Dư luận xã hội và pháp luật" của Nguyễn Văn Luyện, Tạp chí Nhà nước và
pháp luật, số 3/2003; "Dư luận xã hội và quyết định của nhà nước" của
Nguyễn Hữu Khiển, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 2/2005
Song việc nghiên cứu vai trò của dư luận xã hội trong quan hệ với pháp
luật chưa được nhiều tác giả viết đến và đặc biệt đối với việc thực hiện pháp luật thì
còn hạn chế hơn. Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, tác giả luận văn chỉ
đề cập đến một khía cạnh nhỏ, đó là vai trò của dư luận xã hội trong việc thực hiện
pháp luật, tức là sự tham gia của các chủ thể của xã hội vào quá trình thực hiện
pháp luật và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng hiệu quả của hoạt động này.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
* Mục đích
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là để làm rõ hơn vai trò của dư
luận xã hội với việc hiện thực hóa các qui định của pháp luật vào cuộc sống,
đồng thời nêu ra những giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của dư luận
xã hội với việc thực hiện pháp luật ở nước ta hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
5
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
VỀ DƢ LUẬN XÃ HỘI VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DƢ LUẬN XÃ HỘI
1.1.1. Các quan niệm khác nhau về dƣ luận xã hội
Trong đời sống hằng ngày, trên báo chí, tài liệu, chúng ta thường thấy
từ ngữ "dư luận xã hội" hay còn gọi là "công luận" hoặc "dư luận quần chúng".
Theo cách hiểu phổ thông nhất của nhiều nhà nghiên cứu thì đó là một sự việc,
một sự kiện diễn ra trong xã hội, chúng ta không thể dừng lại ở định nghĩa ấy
mà cần tìm hiểu sâu hơn về bản chất của dư luận xã hội, những đặc điểm cơ bản
của nó. Cho đến nay trong các nhà nghiên cứu về dư luận xã hội ở các nước
đã có nhiều định nghĩa khác nhau, kể cả trong các nước xã hội chủ nghĩa.
Điều đó có nhiều nguyên nhân một mặt do bản thân dư luận xã hội là một hiện
tượng xã hội phong phú, năng động, phức tạp, mặt khác do các nhà nghiên cứu ở
các thời kỳ lịch sử khác nhau tìm hiểu hiện tượng này, ở các góc độ khác
nhau, trên các quan điểm lý luận khác nhau, theo các thế giới quan khác nhau.
Dư luận xã hội có gốc chữ dịch theo tiếng Anh là Public opinion.
+ Public: công chúng, công khai
+ Opinion: ý kiến, quan điểm
Hiện nay, thuật ngữ trên đã được sử dụng rộng rãi trong công tác
nghiên cứu khoa học cũng như trong đời sống hàng ngày. Tuy nhiên, các
nhà khoa học, những người làm công việc chính trị, lãnh đạo lại có những
cách hiểu tương đối khác nhau về nội hàm của thuật ngữ này. Sự khác biệt
xuất phát từ bản chất phức tạp của dư luận xã hội như một hiện tượng xã
hội đặc biệt, năng động và hàm chứa mâu thuẫn biện chứng giữa cái riêng và
cái chung [10].
6
7
- Việc duy trì hình thức lãnh đạo hiện đang tồn tại có còn có lợi cho
nhân dân hay không?
- Chính quyền của Nhà nước có còn nằm trong tay những người đang
cầm quyền hay không?
Theo Rútxô, trong các điều kiện như vậy chính phủ luôn nằm dưới sự
đe doạ bị bãi miễn và phải tuân theo những mệnh lệnh của hội nghị nhân dân.
Hêghen, nhà triết học cổ điển Đức, cho rằng bản chất của dư luận xã
hội rất mâu thuẫn. Theo ông, dư luận xã hội là "cái phổ biến, cái cốt tuỷ, cái
chân lý" gắn liền với cái đối lập của nó là các ý kiến có sắc thái "riêng và đặc
thù của mọi người". "Các nguyên tắc về sự công bằng, nội dung và kết quả
của toàn bộ hệ thống nhà nước, hệ thống pháp luật và nội dung của toàn bộ
tình trạng các công việc - được phản ánh trong dư luận xã hội dưới dạng các
tư tưởng nhân văn, thông thái".
Tuy nhiên, Hêghen lại cho rằng, cái đặc thù và cái riêng trong ý kiến
của mọi người bao gồm trong nó toàn bộ tính ngẫu nhiên của dư luận, sự dốt
nát, sự xuyên tạc, sự giả dối, sự lừa phỉnh của nó.
Theo ông, các nguyên tắc cốt lõi tạo ra cơ sở đạo đức của mọi dư luận
là các thành kiến. Với các luận điểm trên đây, Hêghen muốn khẳng định luận
điểm của mình về bản chất mâu thuẫn của dư luận xã hội, rằng "cơ sở đạo
đức" của dư luận không chỉ là "các thành kiến", "các sai lầm" mà còn là cái
chân lý. Tuy nhiên, ông lại khẳng định rằng cái cốt lõi, cái chân lý trong dư
luận xã hội "không thể nhận thức từ sự biểu hiện của dư luận xã hội". Với
quan niệm này, chính Hêghen đã xa rời phương pháp biện chứng của mình.
Ông đã tách nội dung ra khỏi hình thức, đối lập nội dung và hình thức biểu
hiện của dư luận xã hội, phủ nhận khả năng nhận thức về nội dung bên trong
của dư luận xã hội. Từ đó ông đi đến khẳng định: về mặt nội dung, dư luận xã
hội mang tính chủ quan, nó đối lập với kiến thức và khoa học. Còn thái độ của
ông đối với dư luận xã hội là:
luận xã hội là sự biểu hiện trạng thái ý thức xã hội của một cộng đồng người
nào đó, là sự phán xét, đánh giá của đại đa số trong cộng đồng người đối với
các sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội có liên quan đến nhu cầu, lợi ích của
họ trong một thời điểm nhất định"
[9].
9
Theo Chung Á, Nguyễn Đình Tấn: "Dư luận xã hội là một hiện tượng
xã hội đặc biệt biểu thị sự phán xét, đánh giá của quần chúng đối với các vấn
đề mà xã hội quan tâm" [1].
Việc đưa ra các quan niệm khác nhau về dư luận xã hội xuất phát từ
bản chất phức tạp của dư luận xã hội, như một hiện tượng đặc biệt, năng động
và hàm chứa giữa cái chung và cái riêng.
1.1.2. Định nghĩa dƣ luận xã hội
Trong hầu hết các định nghĩa đều đề cập tới những nội dung chính của
khái niệm dư luận xã hội, bao gồm:
Thứ nhất, dư luận xã hội là tập hợp những ý kiến, quan điểm, thái độ
mang tính chất phán xét đánh giá của nhiều người trước một thực tế xã hội
nhất định.
Thứ hai, sự phán xét đánh giá đó chỉ nảy sinh khi trong xã hội có
những vấn đề mang tính thời sự, có liên quan đến lợi ích chung của các nhóm
xã hội, cộng đồng xã hội.
Thứ ba, vấn đề mang tính thời sự đó phải thu hút được sự quan tâm,
chú ý của nhiều người, của đa số các thành viên trong xã hội.
Kết hợp với vai trò, ý nghĩa thực tiễn của dư luận xã hội, có thể định
nghĩa dư luận xã hội như sau: Dư luận xã hội là tập hợp các ý kiến, quan
điểm, thái độ có tính chất phán xét đánh giá của các nhóm xã hội hay của xã
hội nói chung trước những vấn đề mang tính thời sự, có liên quan tới lợi ích
chung, thu hút được sự quan tâm của nhiều người và được thể hiện trong các
gồm cả ba loại phán xét: phán xét mô tả, phán xét chế định và phán xét đánh
giá, trong đó phán xét đánh giá là hình thức biểu hiện chủ yếu. Chỉ như thế
chúng ta mới bao quát được hết tất cả các hình thức biểu hiện khác nhau của
dư luận xã hội.
Theo góc độ nhận thức, trong dư luận xã hội có chứa đựng những yếu
tố tri thức, chứa đựng chân lý khách quan, dù đó là chân lý hữu hạn, bởi vì dư
luận xã hội có căn cứ là hiện thực khách quan. Tuy nhiên, không thể đồng
11
nhất dư luận xã hội với tri thức, với chân lý khách quan. Tri thức trong dư
luận xã hội thường ở dạng hỗn tạp, có đúng đắn và có sai lầm. Con đường tạo
ra tri thức khoa học với con đường tạo ra dư luận xã hội hoàn toàn khác nhau.
Để có tri thức khoa học, các nhà nghiên cứu phải tuân thủ các qui trình nghiên
cứu nghiêm ngặt như giả thuyết, kiểm chứng, kiểm nghiệm Thông qua các
qui trình này, các yếu tố chủ quan, thiên lệch của giả thuyết bị gạt bỏ, kết quả
của quá trình nghiên cứu sẽ là tri thức khoa học. Con đường tạo ra dư luận xã
hội tuy không bắt buộc phải tuân thủ các qui trình, qui tắc phải có như con
đường tạo ra tri thức khoa học, nhưng nó bị ràng buộc bởi các yếu tố chủ
quan như nhu cầu, động cơ, tình cảm, định kiến , của chủ thể. Do đó, dư luận
xã hội phụ thuộc và mang sắc thái của các nhân tố chủ quan ấy.
Đối tượng của dư luận xã hội chính là những sự kiện, hiện tượng xã
hội hay quá trình xã hội được phản ánh bởi dư luận xã hội. Đối tượng của dư
luận xã hội không phải là mọi thực tế xã hội nói chung, mà chỉ là những vấn
đề, những sự kiện, hiện tượng xã hội hay quá trình xã hội được cộng đồng xã
hội quan tâm tới, vì nó có liên quan tới các nhu cầu, lợi ích về vật chất hay về
tinh thần của họ. Chỉ những sự kiện, hiện tượng xã hội nào mang tính thời sự,
cập nhật trình độ hiểu biết của công chúng, được công chúng quan tâm tới
mới có khả năng trở thành đối tượng của dư luận xã hội. Như vậy, dư luận xã
hội chỉ nảy sinh khi có những vấn đề có ý nghĩa xã hội đụng chạm đến lợi ích
chung của cộng đồng xã hội, có tầm quan trọng và có tính cấp bách, đòi hỏi
tạp, muốn đi vào cuộc sống, phải được đơn giản hoá ai cũng có thể hiểu được;
nói cách khác, phải chuyển hoá thành những khuôn mẫu tư duy. Trong tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội đâu đâu cũng tồn tại những khuôn mẫu tư duy.
Khuôn mẫu tư duy ngoài chức năng thống nhất nhận thức, ý chí, hành
động, còn có nhiều chức năng quan trọng khác, đặc biệt là chức năng tiết
kiệm trí lực.
Chức năng tiết kiệm trí lực thể hiện trong cuộc sống hàng ngày người
ta phải luôn đối phó với nhiều tình huống. Muốn đối phó nhanh, phải hiểu
13
được tình huống. Khuôn mẫu tư duy giúp người ta nhanh chóng nắm bắt được
tình huống, không phải tiêu tốn cho việc tìm hiểu bối cảnh.
Mọi định nghĩa ngắn gọn, phổ cập về sự sống đều có thể được coi là
khuôn mẫu tư duy. Sự tồn tại của các khuôn mẫu tư duy là cực kỳ cần thiết,
không có nó sẽ không thành hành động xac hội. Cái sai chỉ xuất hiện khi con
người tuyệt đối hoá thành các định nghĩa, các khuôn mẫu tư duy, vẫn bám lấy
chúng khi chúng đã lỗi thời.
Chỉ có các khái quát, phán xét, suy lý phổ biến trong xã hội mới có thể
trở thành khuôn mẫu tư duy xã hội. Dư luận xã hội là phương thức tồn tại của
khuôn mẫu tư duy xã hội. Để chủ động hình thành dư luận xã hội trước hết phải
hình thành khuôn mẫu tư duy xã hội. Khi có khuôn mẫu tư duy xã hội, dư luận
xã hội mà chúng ta muốn sẽ hình thành khi gặp tình huống, bối cảnh tương ứng.
1.1.3.2. Cơ sở xã hội của dư luận xã hội
Các yếu tố xã hội trước hết là lợi ích nhóm, tầng lớp, giai cấp, quốc
gia, dân tộc có mối quan hệ chặt chẽ với nội dung và sắc thái của dư luận xã
hội. Trong một nhà nước mạnh chính quyền và nhân dân gắn bó với nhau, lợi
ích quốc gia, lợi ích dân tộc thường được coi trọng hơn các lợi ích khác, trước
những sự kiện, hiện tượng, vấn đề xã hội người ta thường lấy lợi ích quốc gia,
lợi ích của cộng đồng làm cơ sở đưa ra những nhận xét, đánh giá, bày tỏ thái
độ của mình. Trong một nhà nước yếu, dân chủ không được coi trọng, pháp
khác. Chính nhờ vào sự tồn tại của các thủ lĩnh mà tiếng nói của nhóm này
đưa đến nhóm khác và đưa ra ngoài xã hội và chính các thủ lĩnh ý kiến này là
đầu mối thông tin cho các cuộc trao đổi thảo luận giữa các nhóm với nhau.
- Đối với đối tượng của dư luận xã hội
Thông tin về các sự kiện, hiện tượng này phải được tìm kiếm thông
qua các con đường chính thức và công khai. Các con đường chính thức này là
các kênh thông tin của nhà nước, chính quyền, các đoàn thể xã hội khác có
trách nhiệm, liên quan đến các vấn đề mà dư luận xã hội quan tâm. Như năm
2006 vừa qua, dư luận xã hội xôn xao về các thông tin trứng gà, tương ớt hay
15
mỹ phẩm có chứa chất sudan một chất có khả năng gây ung thư, thì những
nguồn tin này cần phải được kiểm chứng trên cơ sở khoa học.
Con đường thứ hai, để người dân nhận biết về các vấn đề đang diễn ra
là thông tin qua các kênh thông tin đại chúng. Với vai trò là một thiết chế xã
hội đảm bảo thoả mãn các nhu cầu giao tiếp và tìm kiếm thông tin của xã hội,
hệ thống thông tin đại chúng cung cấp các thông tin về tất cả các vấn đề khác
nhau của cuộc sống. Các luồng thông tin này đã trải qua quá trình phi cá nhân
hoá và trở thành sản phẩm thông tin công cộng, được đông đảo người dân đón
nhận và sử dụng nó như nguồn thông tin trong các cuộc tranh luận, trao đổi ý
kiến. Chính vì vậy, ở nơi nào có mật độ tập trung cao các phương tiện thông
tin đại chúng như ở các khu vực đô thị thì nơi đó, dư luận xã hội có điều kiện
hình thành và phát triển tốt hơn.
Tính công khai cũng là đặc điểm cơ bản để phân biệt dư luận xã hội
với tin đồn.
Theo vẻ bề ngoài, dư luận xã hội và tin đồn giống nhau, trước hết ở
chỗ cả hai đều là hiện tượng tâm lý xã hội. Cả hai đều là những kết cấu tinh
thần, tâm lý đặc trưng cho nhóm người nhất định, trong những thời điểm nhất
định. Cả hai có vẻ có chung nguồn gốc: từ một sự kiện ban đầu có liên quan
đến nhiều người về lợi ích, cảm xúc.
kiến chung. Tin đồn là đề cao chính kiến cá nhân, nó bị xuyên tạc bởi khuynh
hướng cá nhân mang màu sắc chủ quan đậm nét của người truyền tin.
Dư luận xã hội thì ngược lại, được lan truyền bằng cả lời và chữ viết,
cả con đường chính thức và không chính thức, cả công khai và bí mật, trong
khi đó tin đồn truyền miệng theo con đường không chính thức, bí mật, thêm thắt.
Dư luận xã hội thể hiện ra là sự phán xét, đánh giá, biểu thị thái độ của
các nhóm người hoặc của cộng đồng, của giai cấp đối với các sự kiện, hiện
tượng, quá trình xã hội. Còn tin đồn chỉ là thông tin bình thường về hiện
tượng, sự kiện theo lối mô tả. Dư luận xã hội lúc đầu có thể có nhiều luồng ý
17
kiến khác nhau nhưng khi lan càng rộng, càng có xu hướng thống nhất về nội
dung phán xét, hoặc tựu trung thành một vài luồng cơ bản.
1.1.4.2. Tính lợi ích
Không phải bất cứ sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội đang diễn ra
cũng trở thành đối tượng của dư luận xã hội mà những sự kiện, hiện tượng,
quá trình ấy phải liên quan mật thiết đến lợi ích của các nhóm khác nhau
trong xã hội. Nhờ có sự liên quan đến quyền lợi của mình mà họ mới tiến
hành bàn bạc, tranh luận, trao đổi ý kiến.
Lợi ích được đề cập đến bao gồm cả lợi ích vật chất và lợi ích tinh
thần. Nó có thể liên quan trực tiếp đến cá nhân, các nhóm xã hội khác nhau
hoặc có thể tác động đến lợi ích lâu dài của họ.
Các lợi ích vật chất mà họ hướng tới đó là những lợi ích liên quan chặt
chẽ đến hoạt động kinh tế và sự ổn định cuộc sống của đông đảo người dân:
như các quyết định của nhà nước về tăng giá điện, giá xăng dầu, sửa đổi Luật
thuế thu nhập cá nhân Đó là những sự kiện thu hút sự quan tâm của dư luận
vì nó ảnh hưởng đến quyền lợi của họ.
Các lợi ích tinh thần được đề cập đến khi các vấn đề đang diễn ra
đụng chạm đến hệ thống giá trị chuẩn mực, các phong tục tập quán, khuôn
mẫu hành vi và ứng xử văn hoá của cộng đồng người, của cả một dân tộc.
Những quan điểm, phán xét, đánh giá của các cá nhân, các nhóm xã
hội ở mỗi quốc gia khác nhau, mỗi một thời kỳ khác nhau về một sự kiện,
hiện tượng xã hội nào đó thì luôn luôn thay đổi và có nhiều điểm khác nhau.
Có thể nói tính dễ biến đổi cũng là một trong những thuộc tính của dư luận xã
hội. Nó được thể hiện trên hai khía cạnh sau:
Biến đổi theo không gian và môi trường văn hóa: sự phán xét, đánh
giá của dư luận xã hội về bất cứ sự kiện, hiện tượng, quá trình nào cũng phụ
thuộc vào hệ thống giá trị chuẩn mực xã hội đang tồn tại trong nền văn hoá
của một quốc gia, một dân tộc, một khu vực nào đó. Cho nên, đối với cùng
một vấn đề diễn ra, dư luận xã hội của cộng đồng khác nhau lại có sự phán
19
xét, đánh giá khác nhau. Việc tảo hôn và chế độ đa thê được coi là một hiện
tượng bình thường ở một số nước khu vực Trung Đông, châu Phi. Nhưng theo
luật của nhiều quốc gia khác trong đó có Việt Nam lại cấm những người đang
có vợ hoặc chồng kết hôn.
Biến đổi theo thời gian: Cùng với sự phát triển của xã hội, nhiều giá
trị chuẩn mực văn hoá thay đổi ngay trong cùng một nền văn hoá. Do đó, dẫn
đến sự thay đổi trong cách nhìn nhận của dư luận xã hội. Ví dụ, ở Việt Nam
trong thời kỳ bao cấp trước đây khi Nhà nước chịu trách nhiệm chu cấp và
bảo đảm cho cuộc sống tối thiểu của người dân thì hoạt động buôn bán kiếm
lời của cá nhân bị xã hội lên án và qui kết thành tội đầu cơ, tích trữ. Hiện nay,
khi nước ta xoá bỏ nền kinh tế bao cấp chuyển sang kinh tế thị trường thì
quan niệm của dư luận xã hội nhìn nhận các hoạt động buôn bán đó một cách
tích cực, nó được coi là một hoạt động thương mại bình thường và được nhà
nước khuyến khích. Hay theo qui định của Luật Hôn nhân và gia đình Việt
Nam trước đây cấm những người nhiễm HIV kết hôn nhưng theo qui định của
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì lại không cấm điều đó. Sở dĩ có sự
thay đổi là do quan niệm nhìn nhận của xã hội thay đổi
Phụ thuộc vào những đối tượng cụ thể, dư luận xã hội còn biến đổi theo