ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ HỒNG HUỆ
VAI TRÒ CỦA Ý THỨC PHÁP LUẬT
VỚI VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
Chuyên ngành: L lun và lịch s nhà nƣớc và php lut
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS. TSKH. Đào Trí Úc
HÀ NỘI - 2014
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục bảng biểu
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA Ý THỨC PHÁP LUẬT
ĐỐI VỚI THỰC HIỆN PHÁP LUẬT 13
1.1. KHÁI NIỆM Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ CẤU TRÚC CỦA Ý
THỨC PHÁP LUẬT 13
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của ý thức pháp luật 13
1.1.2. Cấu trúc và hình thức của ý thức pháp luật 18
1.2. KHÁI NIỆM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VÀ CÁC HÌNH THỨC
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT 21
1.2.1. Khái niệm thực hiện pháp luật 21
1.2.2. Các hình thức thực hiện pháp luật 22
1.3. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG TỚI Ý THỨC PHÁP LUẬT Ở
NƢỚC TA 23
1.3.1. Ảnh hƣởng của lệ làng truyền thống 24
1.3.2. Ảnh hƣởng của những yếu tố lịch sử 30
1.3.3. Ảnh hƣởng của chiến tranh 38
1.3.4. Ảnh hƣởng của cơ chế hành chính tập trung, quan liêu, bao cấp 41
1.3.5. Công cuộc đổi mới và sự thay đổi của ý thức pháp luật 44
1.4. TÁC ĐỘNG CỦA Ý THỨC PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI VIỆC THỰC
HIỆN PHÁP LUẬT Ở NƢỚC TA 47
Kết luận Chƣơng 1 58 Chƣơng 2: THỰC TRẠNG VỀ VAI TRÒ CỦA SỰ TÁC ĐỘNG Ý
THỨC PHÁP LUẬT LÊN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT 59
2.1. ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG PHÁP LUẬT 59
BHXH: Bảo hiểm xã hội
CNXH: Chủ nghĩa xã hội
HĐND: Hội đồng nhân dân
STT: Số thứ tự
TBCN: Tƣ bản chủ nghĩa
UBND: Ủy ban nhân dân
XHCN: Xã hội chủ nghĩa DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
1
Bảng 2.1:
Khảo sát tình hình vi phạm pháp luật trong lĩnh
vực xâm phạm sức khỏe, danh dự, nhân phẩm
của công dân
73
2
Bảng 2.2:
Khảo sát tình trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh
vực bảo vệ tài sản của nhà nƣớc, của cộng cộng
74
3
Bảng 2.3:
Khảo sát vai trò của kiến thức pháp luật của đối
tiếp cho việc thực hiện pháp luật, xây dựng, phát triển và hoàn thiện hệ thống
pháp luật; là cơ sở hình thành văn hoá pháp lý của các chủ thể pháp luật, tạo
cho chủ thể có khả năng và kỹ năng sử dụng có hiệu quả cơ chế điều chỉnh
pháp luật để bảo vệ lợi ích chính đáng cho bản thân mình, cho nhà nƣớc và cho
xã hội, đồng thời có những xử sự đúng đắn, phù hợp với pháp luật. Ý thức pháp
luật có ảnh hƣởng rất lớn tới việc thực hiện hành vi pháp luật hợp pháp của chủ
thể và góp phần nâng cao phẩm chất, nhân cách con ngƣời, từ đó hình thành
trách nhiệm của mỗi ngƣời với bản thân, với gia đình và với xã hội.
Tuy nhiên thực tế hiện nay cho thấy: trong xã hội ta nhà nƣớc là của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân còn “pháp luật là thể chế hoá đƣờng lối,
chủ trƣơng của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân ” nên cả nhà nƣớc và nhân
dân cùng quan tâm tới việc thực hiện pháp luật nghiêm minh. Mặc dù vậy,
thái độ bất tuân pháp luật đã trở thành thói quen, đã ăn sâu trong ý thức của
một bộ phận ngƣời dân, do vậy trong họ luôn tiềm ẩn khuynh hƣớng tìm mọi
cách để lẩn tránh luật pháp, tìm cách “lách luật”, tìm ra những kẽ hở, những
hạn chế của pháp luật để hễ có cơ hội thì vụ lợi.
Trong nhiều hoạt động nhà nƣớc ở nƣớc ta vẫn còn biểu hiện của tâm
lý cửa quyền, quan liêu, hách dịch, sách nhiễu nhân dân. Tình trạng nhân
nhƣợng, nể nang của một số cơ quan chức năng và cán bộ, công chức nhà
nƣớc trong việc bảo vệ pháp luật, duy trì trật tự pháp luật chính là những yếu 2
tố góp phần tạo ra tâm lý chây ỳ, thách thức chính quyền, coi thƣờng pháp
luật của một số kẻ bất tuân pháp luật.
Đồng thời ngƣời dân do không hiểu biết đầy đủ về pháp luật đã dẫn đến
tâm lý thiếu tự tin trong các hoạt động. Điều này, một mặt làm giảm khả năng
của ngƣời dân trong việc tự bảo vệ quyền lợi của mình khi bị xâm hại, mặt khác
có thể góp phần làm tăng khả năng khiếu kiện bừa bãi, không đủ căn cứ, không
đúng thủ tục dẫn tới bất ổn định xã hội. Tình trạng kém hiểu biết về pháp luật
công trình sau đây:
2.1.1. Đề tài cấp Bộ, cấp Nhà nước
- Cơ sở khoa học của việc xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật,
chƣơng trình khoa học công nghệ cấp Nhà nƣớc KX-07, đề tài KX-07-17
(1995), do GS.TSKH Đào Trí Úc làm chủ nhiệm.
- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công
cuộc đổi mới, Đề tài khoa học cấp bộ năm 1995 của Bộ Tƣ pháp.
2.1.2. Luận án Tiến sĩ
- Nâng cao ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ hành chính Nhà nƣớc ở
nƣớc ta hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, tác giả Lê Đình Khiên, năm 1996.
- Những đặc điểm của quá trình hình thành ý thức pháp luật ở Việt
Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, tác giả Đào Duy Tấn, năm 2000.
- Sự hình thành và phát triển ý thức pháp luật của nhân dân đồng bằng
sông Cửu Long trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ
luật học, tác giả Hồ Việt Hiệp, năm 2000.
- Logic khách quan của quá trình hình thành và phát triển ý thức pháp luật
ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Triết học, tác giả Nguyễn Thị Thúy Vân, năm 2001.
2.1.3. Sách, báo, tạp chí
- Chính sách pháp luật và ý thức pháp luật Việt Nam, Tạp chí Nhà nƣớc
và pháp luật, số 4/1993, của tác giả Nguyễn Nhƣ Phát. 4
- Bàn về ý thức pháp luật. Tạp chí Luật học, số 1/2003, của TS. Hoàng
Thị Kim Quế.
- Vai trò của Ý thức pháp luật đối với việc thực hiện pháp luật. Tạp chí
Luật học, số 3/2011, của Ths. Nguyễn Văn Năm.
- Vai trò của ý thức pháp luật đối với hoạt động xây dựng và thực hiện
pháp luật. Tạp chí Nhà nƣớc và Pháp luật, số 8/ 2005, của Ths. Trần Thị Nguyệt.
Công trình nghiên cứu này đã có những đóng góp nhất định, chủ yếu
pháp luật. Theo tác giả, chúng ta phải coi giáo dục, hình thành và nâng cao ý
thức pháp luật cho toàn xã hội là một quá trình liên tục, thƣờng xuyên, nhất
quán chứ không phải là hoạt động mang tính phong trào. Bên cạnh đó còn
phải thực hiện đồng bộ các giải pháp nhƣ mở rộng và bảo vệ dân chủ; công
khai hóa các hoạt động lập pháp; chú ý hơn nữa công tác kiểm tra, giám sát
việc tuân thủ, chấp hành pháp luật ở mọi lúc, mọi nơi, mọi đối tƣợng; tạo điều
kiện cho nhân dân tiếp cận và tiếp cận đƣợc một cách dễ dàng.
Hoạt động xây dựng, ban hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật
chính là các phƣơng thức chủ yếu nhất của cơ chế điều chỉnh pháp luật, mà ở
đó ý thức pháp luật có vai trò to lớn trong việc hình thành thái độ ứng xử,
hình thành động cơ, mục đích bên trong của các hành vi pháp luật. Nó có khả
năng biến cải và thôi thúc quá trình thực hiện hành vi xử sự của con ngƣời.
Tổng thể những yếu tố đó trở thành cơ sở khoa học cho việc hình thành lối
sống tuân thủ pháp luật ở nƣớc ta trong điều kiện xây dựng nhà nƣớc pháp
quyền XHCN hiện nay.
Theo GS.TSKH Đào Trí Úc, bản chất của việc thực hiện pháp luật là sự
chuyển hóa các yêu cầu chung đƣợc xác định trong các nguyên tắc và quy
phạm pháp luật vào trong các hành vi cụ thể của các chủ thể. Nói thực hiện
pháp luật là nói đến một kết quả tích cực của quá trình điều chỉnh pháp luật,
mà điều chỉnh pháp luật thì hƣớng tới hai yêu cầu: thực hiện hành vi hợp pháp 6
hoặc không thực hiện hành vi trái pháp luật. Bên cạnh đó, quá trình và kết quả
của việc thực hiện pháp luật là thƣớc đo hiệu quả điều chỉnh pháp luật. Với
những yếu tố thuộc về nội dung và hình thức của quá trình thực hiện pháp luật
cũng nhƣ các yếu tố mang tính tác nhân của quá trình đó, có thể thấy rõ vị trí
và tầm quan trọng của thực hiện pháp luật trong hệ thống pháp lý. Bởi lẽ, thứ
nhất, thực hiện pháp luật là một phạm vi độc lập với những hình thức gắn với
hoạt động của các chủ thể tƣơng ứng và theo đó là những nguyên tắc, những
luật nếu không có những bảo đảm về ý thức và văn hóa pháp luật của cá nhân,
của xã hội. Đồng thời, cơ chế thực hiện pháp luật vận hành thông qua các
hình thức thực hiện pháp luật và đƣợc cụ thể bởi các hình thức đó. Để vận
hành cơ chế thực hiện pháp luật trong các hình thức mà công dân là chủ thể
thì các điều kiện cần thiết là thủ tục thực hiện pháp luật, hoạt động tuyên
truyền, phổ biến pháp luật, tƣ vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý – tức là toàn bộ
những hoạt động hƣớng vào mục đích tiếp cận thông tin, tiếp cận pháp luật.
Trong khi đó, đối với việc thi hành và áp dụng pháp luật của các thiết chế
công quyền thì điều kiện đảm bảo hiệu quả thực hiện pháp luật là kiểm tra,
giám sát quá trình thực hiện pháp luật, giáo dục ý thức tôn trọng quyền con
ngƣời, quyền công dân và ý thức trách nhiệm, đạo đức công vụ, trình độ
chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức bộ máy công
quyền. Có thể thấy rằng, bài viết đã có những đóng góp đáng kể trong việc
thực hiện pháp luật và cơ chế thực hiện pháp luật ở Việt Nam.
2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Ý thức pháp luật là vấn đề cơ bản của lý luận pháp luật, đã nhận
đƣợc rất nhiều sự nghiên cứu ở những góc độ, bình diện khác nhau. Ở bình
diện nghiên cứu của tác giả ngoài nƣớc, trong phạm vi khả năng, tác giả
luận văn đã chọn 03 văn bản, công trình nghiên cứu cơ bản sau về chủ đề ý
thức pháp luật. 8
- Tƣ tƣởng về ý thức pháp luật của phái Pháp gia (Trung Hoa cổ đại).
Đây có thể coi là tƣ tƣởng sớm nhất đề cập tới nội dung của ý thức pháp luật
trên thế giới nói chung và ở phƣơng Đông nói riêng (trên bình diện thời gian
và sự ảnh hƣởng). Những ngƣời đề xuất và phát triển tƣ tƣởng này không phải
là các nhà nghiên cứu luật học, mà là các tƣớng lĩnh, quan chức của nhà nƣớc
phong kiến ở Trung Quốc, tiêu biểu là Quản Trọng, Thƣơng Ƣởng, Hàn Phi
Tử, Lý Tƣ (thời chiến quốc), với tác phẩm tiêu biểu là Hàn Phi Tử (đã đƣợc
Nam năm 1997) (trên bình diện một hệ tƣ tƣởng cụ thể: hệ tƣ tƣởng Nga –
Xô). Tác giả nghiên cứu ý thức pháp luật ở mức độ cụ thể, bao gồm các nội
dung: 1, Khái niệm và bản chất ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa (XHCN); 2,
cơ cấu ý thức pháp luật XHCN; 3, ý thức pháp luật XHCN và việc làm luật; 4,
ý thức pháp luật XHCN và việc thực hiện pháp luật; 5, giáo dục pháp luật và
văn hóa pháp lý.
Tác phẩm ra đời trong bối cảnh Đảng cộng sản Liên Xô đẩy mạnh giáo
dục pháp luật cho nhân dân lao động, nên nó thể hiện rõ nét tƣ tƣởng chính trị -
pháp lý nổi trội giai đoạn này. Trên thực tế, khoa học pháp lý của Liên Xô đã
có ảnh hƣởng sâu sắc tới khoa học pháp lý ở Việt Nam. Hiện nay, nghiên cứu
cụ thể về ý thức pháp luật ở Việt Nam cũng theo các nội dung cơ bản nêu trên.
Trên đây là những nguồn tài liệu vô cùng quý giá để tác giả tham khảo
và hoàn thành luận văn của mình. Tuy nhiên, cho tới nay chƣa có một công
trình khoa học nào nghiên cứu đầy đủ và toàn diện về vấn đề: “ vai trò của ý
thức pháp luật với việc thực hiện pháp luật ”. Đó chính là vấn đề tác giả quan
tâm và giải quyết trong đề tài nghiên cứu của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
- Làm rõ mối liên hệ giữa ý thức pháp luật và thực hiện pháp luật. Chỉ ra
thực trạng chung của ý thức pháp luật ảnh hƣởng tới việc thực hiện pháp luật; 10
- Từ đó đề xuất phƣơng hƣớng và giải pháp giúp nâng cao ý thức pháp
luật đáp ứng yêu cầu thực hiện pháp luật trong quá trình xây dựng Nhà Nƣớc
Pháp Quyền ở nƣớc ta hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn tập trung giải quyết những
nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Làm rõ mối liên hệ giữa ý thức pháp luật và thực hiện pháp luật. Từ
luận, chuyên khảo, các luận văn, luận án, các bài nói, bài viết của các
GS,TS Luật học xung quanh vấn đề vai trò của ý thức pháp luật với việc
thực hiện pháp luật.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu truyền thống của nghiên
cứu luật học bao gồm: Phƣơng pháp phân tích, phƣơng pháp tổng hợp,
phƣơng pháp lịch sử và phƣơng pháp logic; ngoài ra trong một số trƣờng hợp
luận văn còn sử dụng kết hợp các phƣơng pháp nhƣ thống kê, so sánh, điều
tra xã hội học, mô tả,
6. Đóng góp mới về khoa học của lun văn
- Việc thực hiện nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ những nhân tố ảnh
hƣởng tới ý thức pháp luật, tác động của ý thức pháp luật đối với việc thực
hiện pháp luật ở nƣớc ta.
- Khẳng định sự ảnh hƣởng của ý thức pháp luật đối với việc thực hiện
pháp luật ở các hoạt động thi hành, tuân theo, sử dụng và áp dụng pháp luật.
- Đề tài đƣa ra những phƣơng hƣớng và giải pháp giúp nâng cao ý thức
pháp luật đáp ứng yêu cầu thực hiện pháp luật trong quá trình xây dựng nhà
nƣớc Pháp quyền ở nƣớc ta hiện nay.
- Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo cho các học viên khác, ngoài ra
còn phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy môn giáo dục pháp luật tại các
trƣờng Trung cấp, Cao đẳng và Đại học. 12
7. Kết cấu của lun văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm 3 chƣơng:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về vai trò của ý thức pháp đối với thực hiện
pháp luật.
- Chương 2: Thực trạng về vai trò của sự tác động ý thức pháp luật lên
là tình cảm và tâm trạng của con ngƣời đối với pháp luật. Do vậy, ý thức pháp
luật đƣợc hình thông qua những quan điểm, quan niệm của con ngƣời từ sự
cần thiết phải có các quy tắc xử sự phù hợp.
Ý thức pháp luật ra đời, tồn tại và phát triển về từ nhu cầu khách quan
của đời sống xã hội, khi xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định (đó là
giai đoạn bắt đầu có sự phân chia về giai cấp), đó là khi các phƣơng tiện điều
chỉnh xã hội nhƣ: đạo đức, tôn giáo, tập quán, niềm tin… không còn phù hợp
nữa, nó không còn đủ khả năng để quản lý xã hội có hiệu quả. Lúc này cần
phải có một công cụ mới ra đời, đó là pháp luật, để thiết lập ra một trật tự xã 14
hội mới ổn định, kỷ cƣơng. Từ nhu cầu khách quan này của đời sống xã hội,
con ngƣời đã nhận thức đƣợc xã hội (đã phản ánh đƣợc tồn tại xã hội) và đã
tạo nên ở họ những tƣ tƣởng, quan điểm, quan niệm về sự cần thiết phải điều
chỉnh các quan hệ trong xã hội bằng pháp luật, một phƣơng tiện điều chỉnh
hữu hiệu nhất.
Về mặt Triết học, ý thức pháp luật là một trong những hình thái ý thức
xã hội, nó thuộc thƣợng tầng kiến trúc xã hội, nó chịu sự quy định của cơ sở
kinh tế. Tuy nhiên, ý thức pháp luật còn chịu sự ảnh hƣởng của các hình thái ý
thức xã hội khác ở những mức độ khác nhau. Nhƣ vậy, ý thức pháp luật là sự
phản ánh những điều kiện xã hội (vật chất, chính trị, lịch sử…), đó là những
điều kiện cần phải đƣợc điều chỉnh bằng pháp luật, thông qua những quan
điểm, quan niệm, tƣ tƣởng, học thuyết, tình cảm, tâm trạng và niềm tin pháp lý.
Từ sự phân tích nhƣ trên, thì ý thức pháp luật có thể định nghĩa nhƣ sau:
Ý thức pháp luật là tổng thể những tƣ tƣởng, học thuyết, quan điểm,
thái độ, tình cảm, sự đánh giá của con ngƣời về pháp luật trên các phƣơng
diện, tiêu chí cơ bản nhƣ: Về sự cần thiết (hay không cần thiết), về vai trò,
chức năng của pháp luật, về tính công bằng hay không công bằng, đúng đắn
hay không đúng đắn của các quy định pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua
luôn có tính độc lập tƣơng đối so với tồn tại xã hội, tính độc lập tƣơng đối này
đƣợc thể hiện ở một số khía cạnh sau:
Ý thức pháp luật thƣờng lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội. Ý thức pháp
luật là sự phản ánh tồn tại xã hội, nên tồn tại xã hội luôn là cái có trƣớc ý thức
pháp luật. Do vậy, lịch sử đã cho thấy khi tồn tại xã hội cũ đã mất đi nhƣng ý
thức xã hội (trong đó có ý thức pháp luật cũ) do nó sản sinh ra vẫn còn tồn tại
dai dẳng trong một thời gian khá dài. Nhiều tƣ tƣởng, tâm lý, quan điểm, quan
niệm và thói quen của quá khứ vẫn tồn tại trong nếp sống, suy nghĩ và hành
động của nhiều ngƣời dân trong xã hội. Ví dụ nhƣ tƣ duy “ tham gia giao 16
thông đi xe gắn máy công dân phải đội mũ bảo hiểm”, nhiều ngƣời dân hiện
nay vẫn luôn có tƣ tƣởng cho rằng đội mũ bảo hiểm là để không bị công an xử
phạt. Họ không cho rằng đội mũ bảo hiểm là tuân thủ pháp luật, là bảo vệ
mình và ngƣời khác.Thái độ coi thƣờng, không tôn trọng pháp luật vẫn còn
tồn tại. Hay hiện nay có nhiều ý kiến của nhân dân và dƣ luận cho rằng: việc
phát hiện và xử lý các hành vi phạm pháp luật về chức vụ và tham nhũng
chƣa tốt, trong đó chỉ có những ngƣời có chức vụ, quyền hạn mới có hành vi
vi phạm này. Vậy phải chăng họ nghĩ rằng đối với những ngƣời này thì cần
nƣơng tay. Tỷ lệ các bị cáo trong lĩnh vực này đƣợc Tòa án tuyên cho hƣởng
án treo còn nhiều, dẫn đến sự hoài nghi của quần chúng nhân dân và dƣ luận
xã hội về tính nghiêm minh của pháp luật.
Ý thức pháp luật trong những điều kiện nhất định có thể vƣợt trƣớc tồn
tại xã hội. Trong những điều kiện xã hội nhất định, ý thức pháp luật có thể tồn
tại cả những quan điểm, quan niệm về pháp luật vƣợt lên trƣớc sự phát triển
của tồn tại xã hội và nó có tính chất định hƣớng cho sự phát triển của xã hội
sau này. Ví dụ nhƣ quan điểm của các nhà tƣ tƣởng lớn trên thế giới Các Mác
- Ăng ghen về các vấn đề triết học, chính trị, pháp lý những tƣ tƣởng này đến
ngày nay vẫn còn nguyên giá trị về thời đại.
trong mỗi quốc gia đó lại cùng tồn tại rất nhiều hệ thống ý thức pháp luật
khác nhau, nhƣ ý thức pháp luật của các giai cấp (giai cấp thống trị, giai cấp
bị trị), các bộ phận, tầng lớp khác nhau trong xã hội. Do đó các giai cấp khác
nhau thì có ý thức pháp luật khác nhau. Mặc dù vậy, nhƣng chỉ có ý thức pháp
luật của giai cấp thống trị mới đƣợc phản ánh trong pháp luật và trở thành ý
thức pháp luật thống trị của mỗi quốc gia. Nội dung của ý thức pháp luật phản
ánh những nhu cầu về chính trị, thể hiện mối quan hệ của các lực lƣợng đối
với các quy định của pháp luật có liên quan trực tiếp đến đời sống kinh tế,
chính trị - xã hội. Chẳng hạn, những quan điểm về hình thức nhà nƣớc, chế độ
bầu cử và quyền bầu cử, nguyên tắc làm việc của bộ máy nhà nƣớc…, ý thức 18
pháp luật cũng thể hiện những nhu cầu về kinh tế, đạo đức văn hóa của giai
cấp thống trị và của cả xã hội [19, tr.18].
1.1.2. Cấu trúc và hình thức của thức php lut
1.1.2.1 Tâm lý pháp luật
Là tổng thể những cảm xúc, tâm trạng, thái độ, tình cảm của con ngƣời
đối với pháp luật và các hiện tƣợng pháp lý khác.
Tâm lý pháp luật đƣợc hình thành ở từng cá nhân, từng nhóm ngƣời,
từng giai cấp từ sự ảnh hƣởng của pháp luật, của quá trình điều chỉnh xã hội
bằng pháp luật, của quá trình áp dụng pháp luật, thực hiện pháp luật. Biểu
hiện của tâm lý pháp luật bao gồm tâm trạng, cảm xúc, tình cảm (yêu, ghét,
quan tâm hay thờ ơ, tôn trọng hay coi thƣờng, tin tƣởng hay không tin tƣởng
…) đối với pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật cần phải có. Do
vây, nếu chủ thể có thái độ đúng đắn đối với pháp luật, tin tƣởng vào pháp
luật thì họ sẽ luôn có ý thức tôn trọng pháp luật, tự giác chấp hành pháp luật
và ngƣợc lại.
Tâm lý pháp luật là một bộ phận của tâm lý con ngƣời, cho nên nó cũng
có những đặc điểm chung giống với tâm lý con ngƣời. Nó đƣợc hình thành
tƣởng pháp luật đúng đắn sẽ là cơ sở về mặt nhận thức để định hƣớng cho
việc hình thành tâm lý pháp luật, tức là nếu có nhận thức đúng sẽ có tình cảm
tốt đối với pháp luật. Do đó, trong việc nâng cao ý thức pháp luật, chúng ta
phải chú trọng nâng cao cả tâm lý pháp luật và hệ tƣ tƣởng pháp luật.
Các hình thức cơ bản của ý thức pháp luật
Theo tiêu chí về mức độ, trình độ và phạm vi nhận thức pháp luật, có
thể chia thành ba loại ý thức pháp luật sau:
Ý thức pháp luật thông thƣờng: Là những quan niệm, nhận thức, tri
thức; tình cảm, thái độ của con ngƣời, hình thành một cách trực tiếp trong
hoạt động thực tiễn hàng ngày, chƣa đƣợc hệ thống hóa, khái quát hóa. Ý thức