ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
£ 0# G 8
HOÀNG THỊ THUÝ HẰNG
VỊ TRÍ, VAI TRÒ MẶT TRẬN Tổ Quốc
TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM
• • •
CH U YÊN NGÀ N H : LÝ LUẬN LỊCH s ử NHÀ NUỠC VÀ PHÁP LUẬT
Mã số 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC sĩ LUẬT HỌC
NGUỜI HUỔNG DẨN KHOA HỌC:
PGS. TS. NGUYỄN ĐĂNG DƯNG
•Al h o c q u ố c G ia HÁ NO:
,<UNG ĨAV' ỊHÒryr. TIN THƯ VtẸN í
ữluiầo.?'_
_ _ _
ì
HÀ NỘI - 2006
Trang
1
1
,
phong,
5
1.1.2.
,
28
1.4.
,
35
2
, ,
39
NAM TRONG
2.3. Thực trạng vị trí vai trò của Mặt trận Tổ quốc trong việc
lãnh dạo các tổ chức thành viên.
2.4. Những hạn chế và nguyên nhân của hạn ch ế trong việc
thực hiện vị trí vai trò của mình trong hệ thông chính trị
CH Ư Ơ NG 3: M Ộ T s ố Q UA N Đ IỂ M v à g i ả i p h á p n h ằ m n â n g
C A O VỊ T R Í, VAI T R Ò CỦ A M Ặ T T R Ậ N T ổ Q U Ố C
T R O N G H Ệ T H Ố N G CH ÍNH T RỊ
3.1. Những quan điểm
3.2. Một sô giải pháp
3.2.1. Tiếp tục thể chế hoá các quy định của nghị quyết,
chỉ thị của Đáng về vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc
trong hệ thống chính trị.
3.2.2. Đổi mới và nãng cao chất lượng về tổ chức bộ máy
và cán bộ của Mặt trận Tổ quốc, đáp ứng với yêu cầu
của tình hình mới.
3.2.3. Đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam
3.2.4. Đổi mới về nội dung hoạt động của Mặt trận, đặc
biệt chú trọng đến vai trò, chức năng giám sút của Mặt
trận, xây dựng cơ chế phản biện xã hội của Mặt trận
đối với Đảng và Nhà nước.
3.2.5. Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam trong cán bộ của hệ thống chính trị các
cấp.
K Ế T LUẬN
T À I L IỆ U TH A M KH Ả O
MỞ ĐẦU
Trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và trong cách mạng
giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được coi
như là phương thức, là tổ chức tập hợp lực lượng cách mạng, đã góp phần to
Tổ quốc Việt Nam, Hiến pháp 1992 còn quy định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
là cơ sở chính trị của chính quyển nhân dân (điều 9).
Tuy nhiên có thể nói cả trên phương diện lý luận và thực tiễn, đây là
vấn đề còn ít được nghiên cứu, tổng kết một cách có hộ thống và có những
cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau, thậm chí không đầy đủ về vị trí, vai trò
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị. Từ đó làm hạn chế
phần nào kết quả trong việc thực hiện quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng khối đậi đoàn kết toàn dân tộc trong
thời gian qua.
Việc nghiên cứu, phân tích đé tìm ra những nguyên nhân của sự hạn
chế, đồng thời đề xuất những biện pháp nhằm tháo gỡ, để tăng cường hơn nữa
vai trò của Mặt trân Tổ quốc Viột Nam trong hệ thống chính trị đáp ứng được
với yêu cầu của nhiộm vụ chính trị trong giai đoạn hiộn nay ià một việc làm
cần thiết và có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn.
Từ những lý do trên, tôi chọn vấn đề “Vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ
quốc trong hệ thống chính trị Việt Narrí' để làm đề tài luận vãn tốt nghiệp
cao học Luật.
2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM vụ CỦA LUẬN VĂN:
* Mục đích:
Việc nghiên cứu đề tài nhằm tìm hiểu những vấn đề lý luận và thực tiễn
hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị, từ đó làm
2
cơ sở để đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường vị trí, vai trò của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị.
* Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn là:
- Xây dựng khái niệm, nêu lên những đặc Irưng, nội dung của hoạt dộng
Mặt trận Tổ quốc để từ đó xác định vai trò, vị trí của Mặl trân Tổ quốc trong
hộ thống chính trị.
- Phân tích, đánh giá khái quát những kết quả hoạt động của Mặt trận
cơ chế phản biện xã hội đối với Đảng và Nhà nước.
5. B Ố C Ụ C C Ủ A LU Ậ N VÃN :
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu cần tham khảo,
luận vãn được bố cục Ihành 3 chương.
4
C ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ C ơ Sỏ PHÁP LÝ CHO T ổ CHỨC VÀ
HOẠT ĐỘNG CỦA MẶT TRẬN Tổ QUỐC VIỆT NAM
1.1. T ÍN H T H I Ế T YẾ U CỦ A M Ậ T T R Ậ N T ổ Q U Ố C V IỆ T N AM
T R O N G H Ệ T H Ố N G C H ÍN H T R Ị V IỆ T N AM H IỆN N A Y:
1.1.1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đại đoàn kết dân
tộc và sự tồn tại tất yếu của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong cách mạng
phản đê, phản phong, thông nhất đất nước.
Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta. Đoàn kết
được hình thành từ đời sống cộng đồng từ xa xưa, khi mà người dân đất Việt
phải hợp sức đồng lòng để trị thủy và chống giặc ngoại xâm. Trong lịch sử,
mọi kẻ thù của dân tộc, bằng mọi âm mưu và thủ đoạn hòng làm chia rẽ dân
tộc để dễ bề thôn tính, đồng hoá dân tộc ta, nhưng với tinh thổn đoàn kết, ý
chí không chịu khuất phục, thì đại đoàn kết dân tộc đã "kết thành một làn
sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó
nhấn chìm cả lũ bán nước và cướp nước"[23; tr.85]. Có thể nói rằng: đoàn
kết, yêu nước thương nòi là một đức tính sẵn có đã được hình thành và bồi
đắp qua từng thế hệ cho nay trong mỗi con người Việt Nam
Truyền thống đó sớm được Đảng Cộng sản Việt Nam nhìn thấy và
phát huy. Trong đi chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh - người sáng lập ra Đảng
Cộng sản Việt Nam đã viết: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng, một dạ phục
vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập
cho đến nay, Đảnẹ ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái
Chương 1
5
đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi klỉác”[ 17,tr.409]. Từ chỗ đại
Đoàn kết không chỉ đơn giản là phép cộng thuần tuý từng cá nhân con
người lại với nhau mà là sự kết tinh của cả dân tộc và thời đại, khơi dậy những
tiềm năng chưa được khai thác, phát huy những sức mạnh sẩn có. Như vậy, đại
đoàn kết dân tộc được biểu hiện cả ử nội dung lẫn hình thức, về hình thức, đại
đoàn kết dân tộc yêu cầu phải quy tụ được mọi giai tầng, tôn giáo, dân tộc
trong đất nước cũng như người Việt sống ở nước ngoài vào một khối thống
nhất; về nội dung, đại đoàn kết dân tộc phải được biểu hiện ở những nhiệm vụ
cụ thể, ở những nội dung cụ thể của khối đại đoàn kết đó. Đoàn kết không chỉ
trong nhận thức, trong lời nói mà còn phải được biểu hiện bằng hành động:
“Khống phái đoàn kết ngoài miệng, mà đoàn kết bằng việc làm, đoàn kết bằng
tinh thần, đoàn kết thực A7/’f 17, tr. 248].
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng
Cộng sản Việt Nam cho rằng: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng mà
trước hết là lực lượng giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đây cũng
chính là lực lượng giữ vai trò lãnh đạo, là nòng cốt, là nền tảng xã hội của
khối đoàn kết toàn dân. Trong cách mạng dân tộc dân chủ, cũng như trong
cách mạng xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân dưới sự lãnh đạo của chính
đảng của mình, liên minh vững chắc với giai cấp nông dân và táng lớp trí thức,
tạo thành một lực lượng cách mạng to lớn,mạnh mẽ có thể liến hành được
cuộc cách mạng, song để để đẩy nhanh cuộc cách mạng đó đi đến thành công
cần phải có sự đồng thuận, ủng hộ của nhiều giai tầng khác trong xã hội.
Chính vì vậy, yêu cầu của cách mạng đặt ra ià cần thiết phải tập hợp các lực
lượng, giai tầng nhân dân lao động khác trong xã hội thành một mặt trận rộng
rãi, một lực lượng quần chúng cách mạng to lớn. Có thể nói rằng: đại đoàn kết
7
dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp cổng nhân với giai cấp nông dân và
tầng lớp trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đó là nguyên tắc, là
phương châm chiến lược của Đang Cộng sàn.
Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng, cần đoàn kết rộng rãi, nhưng không
phải đoàn kết với bất kỳ ai, bất kỳ giá nào, bất kỳ điều kiện nào, mà nội dung
Việt Nam luôn luôn coi trọng củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc;
phát huy sức mạnh của dân tộc kết hợp với sức mạnh quốc tế, sức mạnh truyền
thống và sức mạnh thời đại, lãnh đạo nhân đân giành được những thắng lợi vẻ
vang. Căn cứ vào tình hình trong nước, thế giới và yêu cẩu nguyện vọng chính
dáng của nhân dân trong mỗi một thời kỳ lịch sử nhất định, Đảng đã đề xuớng
lập Mặt trận Dân tộc Thông nhất với hình thức tổ chức và tên gọi phù hợp
nhằpi đoàn kết, tập hợp tất cả các lực lượng có thể tập hợp được để thực hiện
cuộc đấu thành giải phóng dân tộc khỏi ách phong kiến, thực dân, đế quốc.
Với tất cả những nội dung đó trong quan điểm về đại (loàn kếl dân tộc, dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra đời
như là một tất yếu của lịch sử, để xây dựng một trận tuyến vững chắc hợp sức
dấu tranh, thực hiện thành công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc khỏi chế
độ phong kiến, ách Thực dân, Đế quốc, giành độc lập, thống nhất đất nước. Có
thể nói rằng, sự ra đời của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhằm tập hợp mọi lực
lượng trong xã hội thành một khối thống nhất vì một mục tiêu chung của cách
mạng dân tộc được coi như là điều kiện tiên quyết cho những thắng lợi trên
của dân tộc.
Đại đoàn kết dân tộc không phải là một sách lược xuất phát từ ý muốn
chủ quan của lực lượng lãnh đạo cách mạng mà là sự đúc kết, hiện thực hoá
nhu cầu khách quan của đời sống xã hội vì quyền lợi của bản thân nhân dân.
Chính vì vậy, khi nói đến việc xây dựng một Nhà nước Pháp quyền Việt Nam
9
của dân, do dân và vì dân, là cần nói đến vấn đề đại đoàn kết dân tộc. Đây
chính là một luận điểm quan trọng và rất đặc trưng của Đảng Cộng sản Việt
Nam đối với vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Đáng Cộng
sản Việt Nam cho rằng để xây dựng được Nhà nước pháp quyền của dân, do
dân và vì dân không phải là nhiệm vụ của riêng Nhà nước, cũng như không
phải là nhiệm vụ của riêng chính đảng nào, mà đây là nhiệm vụ của toàn thể
nhân dân, của mọi cơ quan Nhà nước và mọi tổ chức chính trị - xã hội
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay về đại đoàn kết dân
hiện dược đại đoàn kết toàn dân tộc cần huy động sức mạnh của cả hệ thống
chính trị. Muốn có đại đoàn kết vững chắc, có liên minh chính trị chặt chẽ,
Đang Cộng sản Việt Nam phái có chủ trương, đường lối Mặt trận đúng đắn,
Nhà nước cần hoàn thiện chính sách, pháp luật đối với cồng nhân, nông dân,
trí thức, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài. Vì các chính sách đó
không ngoài củng cố liên minh, không ngoài củng cố khối đại đoàn kết. Hơn
lúc nào hết, lúc này khi chúng ta đang tiến hành sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
một nước Việt Nam dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh thì nhiệm vụ đặt ra đang đòi hỏi chúng ta phải làm sao kế thừa, phát
triển và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt
Nam về đại đoàn kết dân tộc phù hợp với hoàn cảnh lịch sử mới.
Nhiệm vụ trọng tâm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay là củng
cố tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và phát huy truyền thống yêu
nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự cường của cả cộng đồng dân tộc
Việt Nam, đoàn kết mọi người Việt Nam tán thành công cuộc đổi mới nhằm
mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ
và giàu mạnh; xây dựng Mặt trận thật sự là nơi hội tụ mọi trí tuệ, một trung
lâm đại đoàn kết các giới đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước, thật sự
11
phán ánh được tập trung nhất nguyện vọng, lợi ích và quyền làm chủ của nhân
dân, đảm bảo công bằng và bình đẳng xã hội, chăm lo lợi ích thiết thực, chính
đáng, hợp pháp của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân, hoà giải các mâu
thuẫn lợi ích trong xã hội; thực hiện dân chủ gắn liền với giữ gìn với kỷ cương,
chống các tiêu cực xã hội; không ngừng bồi dưỡng, nâng cao tinh thần yêu
nước, ý thức độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, tinh thần tự lực tự cường
xây dựng đất nước.
1.1.2. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền của
dân, do dân và Vỉ' dân và sự cần thiết của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong
Hệ thống chính trị hiện nay.
tự do của công dân và để đảm bảo được diều đó chí có thể đạt được bằng con
đường phân chia quyền lực xã hội thành lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Chúng hạn chế lẫn nhau, đối trọng nhau và tập trung trong các cơ quan nhà
nước khác nhau. Do đó, học thuyết chính trị của Môngtexkiơ còn được gọi là
học thuyết Tam quyền phân lập.
Như vậy có thể thấy rằng: đặc điểm chủ đạo của các học thuyết chính
trị về Nhà nước pháp quyền là việc xác định tinh thần thượng tôn của pháp
luật trong đời sống xã hội, đồng thời đó là việc xác định rõ quyền lực của nhà
nước được biểu hiện thông qua ba loại đó là quyền lập pháp, quyền hành pháp
và quyền tư pháp; và ở trong Nhà nước đó, những giá tri con người và các
quyền tự do của người dân được đề cao.
Kế thừa những giá trị của các học thuyết về Nhà nước pháp quyền trong
lịch sử, các nhà tư tưởng chính trị - xã hội tư sản đã xây dựng nên một mô
hình Nhà nước pháp quyền với những đặc trưng sau:
13
Một là, đảm bảo xây dựng trons xã hội một hệ thống pháp luật hoàn
thiện. Pháp luật phải được đảm bảo tính tối cao, là cơ sở của mọi hình thức tổ
chức quyền lực công khai. Mọi chính sách, chủ trương, quyết định của Nhà
nước cũng như các mối quan hệ giữa Nhà nước và các chủ thể của các quan hệ
xã hội khác trong xã hội đều phải dựa trên cơ sở luật pháp. Do vậy, pháp luật
của Nhà nước pháp quyền phải vươn tới sự hoàn thiện, toàn diện trên tất cả các
lĩnh vực của đời sống xã hội. Phương châm chủ đạo trong việc xác định vị trí
của pháp luật đối với các quan hệ xã hội trong Nhà nước pháp quyền đó là:
người dân có thể làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm, còn cơ quan
Nhà nước thì chỉ được phép làm những gì mà pháp luật quy định. Việc xây
dựng hệ thống pháp luật toàn diện, hoàn thiện phải gắn liền với pháp chế tư
sản. Điều đó có nghĩa là phải tạo lập một cơ chế thực thi pháp luật một cách
tôn trọng, đầy đủ, chính xác sao cho mọi người dăn, cơ quan Nhà nước đều
phải có một tình cảm với pháp luật, tuân thủ pháp luật một cách nghiêm túc.
Phấp luật phải đứng trên Nhà nước, Nhà nước phái có nghĩa vụ tuân thủ pháp
quyền phải là Nhà nước được xây dựng trên nền tảng của xã hội công dân.
Một xã hội mà ở đó công dân là chủ thể quyền lực quan trọng nhất, Nhà nước
phải có trách nhiệm phục tùng lợi ích hợp pháp của công dân một cách vô
điều kiện. Nói cách khác, Nhà nước chỉ là công cụ để nhân dân thực hiện
quyền lực của mình.
Ba là, Nhà nước pháp quyền phải được tổ chức theo nguyên tắc phân
chia quyền lực. Quyền lực nhà nước được phân chia làm ba loại: Quyền lập
pháp - quyền xây dựng và ban hành luật, quyền hành pháp - quyền thực thi
pháp luật, đưa pháp luật vào điều chỉnh các quan hệ xã hội trên thực tế và
quyền tư pháp - quyền giám sát và giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp trong
xã hội. Đổng thời, các quyền này phải được tổ chức một cách độc lập với nhau
15
nhằm tránh sự lạm quyền, chuycn quyền của cá nhân, cơ quan đại diện cho
quyền lực nhà nước. Trên cơ sở đó, quyền lập pháp được giao cho nghị viện,
quyền hành pháp được giao cho chính phủ và quyền tư pháp được giao cho toà
án. Các cơ quan này được tổ chức và hoạt động một cách hoàn toàn độc lập
với nhau, nhất là toà án, tính độc lập của toà án được tuân thủ một cách
nghiêm ngặt. Một trong các điểu kiện cơ bản để đảm bảo cho yêu cầu đó là
cho các thành viên trong mỗi một cơ quan không được làm việc trong các cơ
quan còn lại và được hoạt động trên cơ sở ngân sách được cấp độc lập.
Tuy nhiên trên thực tế, các đặc điểm trên của Nhà nước pháp quyền do
các Nhà nước tư sản xây dựng và hướng tới không được thực hiện một cách
đúng đắn theo lý thuyết. Bởi lẽ, tính giai cấp và mâu thuẫn giai cấp trong nội
bộ xã hội các Nhà nước tư sản vẫn còn hết sức sâu sắc. Mặc dù, để phù hợp
với xu hướng phát triển hiện nay của lịch sử loài người, giai cấp tư sản đã
dùng nhiều biện pháp, thủ đoạn để người dân được có những quyền tự do dân
chủ hơn trước, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nãng cao, nên
tựa hồ như mâu thuẫn giai cấp trong xã hội đã (lược xoá bỏ đi, song thực chất,
bản chất của giai cấp tư sản bóc lột vẫn không hề thay đổi. Sự ngăn cách giữa
tầng lớp tư sản và người lao động ngày càng bị khoét sâu rộng hơn và thực sự
Như vậy, về cơ bản, Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân
theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin cũng thống nhất với quan điểm
về Nhà nước pháp quyền theo quan điểm của các nhà nước tư bản ử đặc điểm
thứ nhất và thứ hai. Với đặc điểm thứ ba, quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê
Nin cho rằng: trong Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, quyền
lực Nhà nước cũng được bao gồm bởi ba loại là lập pháp, hành pháp và tư
pháp. Tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện quyền lực đó lại không giống với các
Nhà nước tư sản hiện đại. Chúng ta không phân làm ba hộ thống cơ quan
quyền lực Nhà nước nắm giữ ba loại quyền đó một cách độc lập, mà chúng ta
.ĩ HOC QU ỐC GIA HẢ N ộ.
17 JNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆH
V-L0/M
kiên định với quan điểm: quyền lực của nhân dân là quyền lực tuyệt đối,
quyền lực này được tập trung vào một cơ quan đại diện cao nhất đó là Quốc
hội. Thành viên của Quốc hội là tập hợp của tất cả các tầng lớp, giai cấp của
nhân dân lao dộng trong xã hội. Quốc hội giữ vai trò lập pháp và giám sát việc
thực thi pháp luật của mọi cơ quan Nhà nước khác. Chính vì vậy, luật pháp do
Quốc hội làm ra mới thực sự phan ánh được đầy đủ lợi ích của toàn thể nhân
dân lao động trong xã hội. Cũng chính thông qua Quốc hội, bằng hoạt động
giám sát việc tuân thủ pháp luật của cơ quan Nhà nước, nhan dân mới thực sự
bảo vệ được quyền lợi của mình.
Trong Nhà nước pháp quyền của dân, do dùn và vì dân, việc tổ chức
thực hiện ba quyền trên được biểu hiện ở chỗ, ba quyền không được tổ chức
đối trọng nhau và giao cho ba cơ quan Nhà nước độc lập mà cả ba quyền đéu
được tập trung thống nhất vào Quốc hội, song Quốc hội chỉ tự mình thực hiộn
quyền lập pháp và giám sát, còn phân định giao cho Chính phủ thực thi quyền
hành pháp và Toà án thực thi quyền tư pháp. Tuy nhiên, ý nghĩa quyền lập
pháp của Quốc hội cũng cần được hiểu khác so với các Nhà nước tư bản ở
chỗ: Quốc hội không trực tiếp xây dựng toàn bộ các đề án luật pháp mà Quốc
hội còn có thể giao nhiệm vụ này cho các cơ quan nhà nước khác và người
một cách có hiệu quả các quyền con người; có một Nhà nước thực sự lành
mạnh là chỗ dựa, là bàn tay khối óc của người dân; và đồng thời mặt bằng
nhận thức và ý thức trách nhiệm của công dân trong việc thực hiện những
quyền và nghla vụ công dân của mình trên mọi mặt của đời sống xã hội đã
phát triển ở một trình độ cao.
Ở Việt Nam - một quốc gia lấy Chủ nghĩa Mác - Lê Nin làm cơ sở lý
luận cho việc tổ chức quyền lực của mình. Vậy nên, theo quan điểm của Chủ
nghĩa Mác - Lê Nin và của Đảng Cộng sản Việt Nam, bản chất quyền lực của
19
Nhà nước Việt nam là quyên lực của toàn thể nhân dân lao động Việt Nam, vì
vậy, việc thiết lập một hệ thống chính trị phải được dựa trên nguyên tắc đảm
bảo tốt nhất việc thực thi chế độ dân chủ. Hiện nay, ờ Việt Nam, hệ thống
chính trị bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ máy Nhà nước Cộng hoà Xã
hội Chủ nghĩa Việt Nam và Mạt trận Tổ quốc Việt Nam.
Trước hết nói về cơ cấu bộ máy Nhà nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam. Theo quan điểm về tổ chức quyền lực của Đảng và Nhà nước ta,
quyên lực nhân dân là thống nhất không thể phân chia mà cẩn tập trung thống
nhất vào một cơ quan đại diện cho quyền lực của nhân dân Việt Nam đó là
Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quyền lực đó là không
thể phân chia, song cần có sự phân công, phân nhiệm giữa các cơ quan Nhà
nước để việc thực thi và bảo vệ cho quyền lực của nhân dân được hiệu quả
nhất. Do vậy, trong Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dàn và vì
dân, mà Nhà nước ta đang đặt mục tiêu hướng đển, mặc dù tồn tại những cơ
quan mang chức năng như các cơ quan nhà nước trong Nhà nước tư bản song
bản chất quyền lực và do đó là cách thức tổ chức thành lập cũng như mối quan
hệ giữa các cơ quan này vận hành theo một cơ chế khác hẳn.
Quốc hội là cơ quan đại diện cho quyền lực nhân dân là cơ quan quyền
lực Nhà nước cao nhất. Quốc hội có quyền giám sát hoạt động tuân thủ pháp
luật của toàn bộ bộ máy Nhà nước, song đồng thời, Quốc hội đảm nhiệm chức
năng lập pháp. Chính phủ được giao trách nhiệm là cơ quan hành chính cao
cấp đối kháng khác, tính cơ hội của các cá nhún khi tham gia vào tổ chức
Đáng chính vì những nhược điểm này mà dẫn đến năng lực lãnh đạo của
Đảng đối với toàn bộ hệ thống chính trị kém đi. Chính vì vậy, để không ngừng
giữ vững và củng cố vững chắc được vị trí lãnh đạo đó thì Đảng Cộng sản cần
thiết phải có sự đổi mới, làm mạnh lên của chính mình, để khẳng định được sự
21
tất yếu của vai trò lãnh đạo của mình đối với toàn bộ đời sống xã hội. Để thực
hiện được điều này, Đảng cần thiết phải có một "tấm gương" để Đảng nhìn ra
những ưu khuyết điểm của chính mình để kịp thời có giải pháp. "Tấm gương"
đó nên chăng được đặt vào Mặl trận Tổ quốc Việt Nam.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - bộ phận còn lại của Hệ thống chính trị
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được coi là nưi hội tụ, phản ánh
đầy đủ nhất mọi tâm tư, nguyện vọng của nhân dân thuộc mọi giai tầng trong
xã hội. Chính vì vậy, Mặt trận Tổ quốc có điều kiện để thu thập những ý kiến
tâm huyết tâm huyết của mọi cá nhân, tổ chức đóng góp vào sự nghiệp xây
dựng và phát triển đất nước, trong đó có việc đóng góp những ý kiến dựng để
Đảng nhìn thấy những khiếm khuyết, lổn tại của mình để kịp thời sửa chữa,
làm cho vị trí lãnh đạo của Đảng được củng cố ngày càng vững chắc và làm
lành mạnh lcn hoạt động quán lý điều hành đất nước của Nhà nước. Có thể nói
rằng, Mặt trộn Tổ quốc là một thiết chế thích hợp nhất để đảm nhiệm vai trò là
"tấm gương", là thiết chế giám sát, thực hiện chức năng phản biện xã hội đối
với Đảng và Nhà nước, góp phần giảm thiểu nhîrnç hạn chế bị đem lại do chế
độ một đảng tạo ra, đổng thời góp phần thực hiện tốt hơn nền dân chủ của đất
nước. Chính V I vây, khi thực thi chế độ một đảng cầm quyén tại Việt Nam có thể
nói rằng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một thiết chế hết sức cần thiết trong hệ
thống chính trị nhằm thực hiện quyền lực của nhân dân một cách đầy đủ nhất.
1.2. L ỊC H S Ử H ÌNH T H Ả N H V À PH Á T T R IỂ N M Ặ T T R Ậ N T ổ Q U Ố C
V IỆ T N AM :
Từ giữa thế kỷ XIX, Thực dân Pháp xâm lược và thống trị đất nước ta.
Nhân dân ta chịu áp bức, bóc lột từ hai thế lực: Thực dân Pháp và tầng lớp địa