Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hơn 10 năm thực hiện chính sách đổi mới kinh tế, sản xuất nông nghiệp
ngày càng phát triển, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 5,6%/năm. Từ một nước
thiếu lương thực, Việt Nam trở thành nước thứ 2 Thế giới về xuất khẩu lương
thực, các sản phẩm nông, lâm, thuỷ hải sản chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim
ngạch xuất khẩu. Có nhiều yếu tố góp vào thành công đó, trong đó tín dụng
Ngân hàng có một đóng góp hết sức to . Đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn qua
kênh tín dụng Ngân hàng tăng 30 - 40% / năm. Một trong những thay đổi cơ bản
trong tín dụng Ngân hàng đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn là chuyển hướng
cho vay hộ nông dân. Vốn tín dụng Ngân hàng đầu tư cho kinh tế hộ chiếm 60 -
70 % tổng dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn. Cơ chế cho vay đối tượng này
ngày càng được hoàn thiện. Chính sách của Đảng, Chính Phủ ngày càng cởi mở
và sát với thực tiễn, được NHNN cụ thể bằng các cơ chế và NHNo & PTNT
hướng dẫn trong các quy định cho vay. Có thể nói, việc mở rộng cho vay kinh tế
hộ đã giúp cho hàng triệu hộ nông dân được tiếp cận với tín dụng Ngân hàng, có
nhiều cơ hội để xoá đói, giảm nghèo và làm giầu, làm thay đổi cuộc sống người
dân và bộ mặt nông thôn ngày càng đổi mới.
Thanh Trì là một huyện phía nam của Hà Nội, sản xuất nông nghiệp là
chủ yếu, Công nghiệp, thương mại dịch vụ ….chậm phát triển, do đó việc đầu tư
vốn Ngân hàng cho hộ nông dân có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển
Kinh tế - Xã hội của huyện.
Tuy nhiên, trong quá trình Ngân hàng vận động, phát triển của kinh tế thị
trường, quan hệ tín dụng nông dân ngày càng bộc lộ nhiều vướng mắc. Việc
nâng cao chất lượng cho vay không phải lúc nào cũng thuận lợi, dễ dàng. Các
thủ tục, quy trình cho vay luôn đòi hỏi phải cải tiến, vừa đảm bảo tiện ích cho
dân nhưng cũng phải đảm bảo an toàn vốn cho Ngân hàng.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Với đề tài "Nâng cao chất lượng cho vay hộ sản xuất ở Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thanh Trì - Hà Nội" nhằm góp phần
trong nền kinh tế thị trường.
Thứ hai: Phân tích thực trạng chất lượng cho vay hộ sản xuất và tình hình
quản lý chất lượng cho vay hộ sản xuất trong thời gian qua, xác định những tồn
tại và phát hiện những vấn đề cần bổ sung về chất lượng cho vay hộ sản xuất ở
NHNo Thanh Trì. Từ đó tìm ra các nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng cho
vay hộ sản xuất ở NHNo Thanh Trì.
Thứ ba: Đưa ra một số kiến nghị đối với các cấp, các ngành có liên quan
nhằm đổi mới cơ chế quản lý tín dụng để nâng cao chất lượng cho vay hộ sản
xuất.
6. Kết cấu của chuyên đề
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, chuyên đề
gồm 3 chương.
Chương 1: Nâng cao chất lượng cho vay hộ sản xuất trong nền kinh tế thị
trường.
Chương 2: Thực trạng chất lượng cho vay hộ sản xuất ở NHNo & PTNT
Thanh Trì - Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay hộ sản xuất ở NHNo
& PTNT Thanh Trì - Hà Nội.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG 1
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY HỘ SẢN XUẤT TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. Tín dụng hộ sản xuất trong nền kinh tế thị trường
1.1.1. Khái niệm chung về hộ sản xuất
Thời kỳ trước năm 1988, các hệ thống Ngân hàng Việt Nam chỉ tập trung
cho vay thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, tỷ trọng cho vay hai
thành phần kinh tế này của NHNo Việt Nam chiếm từ 91,55% - 96,6% tổng dư
nợ. Chỉ từ khi thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ chính trị, việc ban hành bộ luật
đất đai năm 1993, cùng với sự đổi mới về cơ cấu tổ chức, thay đổi đối tượng
khách hàng của hệ thống Ngân hàng, tỷ trọng cho vay hộ sản xuất trong tổng dư
Đây vừa là ưu điểm lại vừa là nhược điểm của kinh tế hộ sản xuất. Nhược điểm
là khó khăn trong việc sản xuất chuyên canh, tăng quy mô sản xuất….Ưu điểm
là linh hoạt, dễ thích ứng với yêu cầu của thị trường, khai thác tiềm năng tài
nguyên, sức lao động ở nông thôn , đa dạng hoá các nguồn trả nợ, phân tán bớt
rủi ro, giảm bớt tính thời vụ của các khoản vay.
Thứ năm: Hộ sản xuất thường nghèo, khả năng tài chính yếu, tài sản thế
chấp không có giá trị hoặc thiếu giấy tờ pháp lý, tính thanh khoản lại không cao,
tài sản thường không làm giấy tờ sở hữu mà chuyển dịch theo phong tục, tập
quán tại địa phương, có rất ít ngành nghề có đăng ký kinh doanh….Việc đáp
ứng các điều kiện vay vốn như thông lệ trong tín dụng hộ sản xuất là rất khó.
Thứ sáu: Hộ sản xuất thường là một hộ gia đình - một thành viên của xã
hội, chỗ ở thường ít thay đổi, vì vậy hộ sản xuất mang trên mình nhiều chức
năng, vai trò mà các thành phần khác không có.
1.1.3. Vai trò của hộ sản xuất trong nền kinh tế thị trường
Từ những đặc điểm của hộ sản xuất đã nêu trên, chúng ta nhận thấy: hộ
sản xuất thường là các hộ gia đình ở nông thôn. ở Việt Nam hiện nay, dân số
trong nông nghiệp , nông thôn chiếm gần 80% dân số toàn quốc, vì vậy kinh tế
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hộ sản xuất phản ánh bộ mặt của nông nghiệp, nông thôn, thành phần kinh tế
đông đảo nhất của nền kinh tế nước nhà. Hộ sản xuất có khả năng khai thác sử
dụng mọi tiềm năng về đất đai, lao động để phục vụ sự nghiệp xây dựng đất
nước. Phát triển tốt kinh tế hộ sản xuất còn là điều kiện cơ bản để đảm bảo an
toàn lương thực, thực phẩm, tạo thêm công ăn việc làm, góp phần giữ gìn trật tự
xã hội, bảo vệ an ninh quốc gia.
Thị trường nông nghiệp, nông thôn là thị trường chiến lược quan trọng
của NHNo & PTNT Việt Nam kể từ ngày thành lập đến nay. Thị trường nông
thôn là thị trường chủ yếu và truyền thống, địa bàn này ít bị ảnh hưởng của cạnh
tranh, là thị trường mà NHNo & PTNT Việt Nam đã giữ vũng, ổn định và ngày
càng cố gắng nâng cao chất lượng. Như vậy, đây là một thị trường chủ yếu hiện
nay và đầy tiềm năng trong tương lai của NHNo & PTNT Việt Nam.
vay vốn và ngay cả NHTM cũng còn có chỗ chưa chuẩn. Điều đó đưa lại không
ít khó khăn cho mở rộng quan hệ tín dụng hộ sản xuất và là một nhân tố làm nợ
quá hạn hộ sản xuất tăng lên. Do vậy, ở đây ta có thể hiểu: Chất lượng tín dụng
hộ sản xuất thể hiện việc cho vay được thu hồi cả gốc và lãi đúng thời hạn.
1.2.2 Hiệu quả hoạt động tín dụng đối với hộ sản xuất
Khái niệm: hiệu quả hoạt động tín dụng là một thuật ngữ phản ánh mức
độ an toàn và khả năng khả năng sinh lời của ngân hàng do hoạt động tín dụng
mang lại. Vì trên thực tế khi tiến hành cấp một khoản tín dụng cho khách hàng
vấn đề ngân hàng quan tâm hàng đầu là khả năng hoàn trả của khách hàng và
đảm bảo kinh doanh có lãi. Hoạt động tín dụng theo quan điểm của ngân hàng
được xem xét dưới góc độ là mức độ an toàn và khả năng sinh lời của ngân hàng
do hoạt động tín dụng của ngân hàng mang lại.
Hoạt động tín dụng có hiệu quả có nghĩa là việc sản xuất kinh doanh có hiệu quả
sản phẩm cung ứng cho an toàn xã hội có chất lượng cao giá thành hạ đáp ứng
nhu cầu trong nước và có sức cành cao trên thị trường quốc tế.
1.2.3. Chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay hộ sản xuất
- Chỉ tiêu nợ quá hạn.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Nợ quá hạn: là khoản nợ, lãi vay đã quá hạn trả theo thoả thuận mà
khách hàng không trả được.
Khái niệm nợ quá hạn được chấp nhận rộng rãi trên thế giới là: "Một
khoản nợ có gốc hoặc lãi chậm thanh toán vượt quá số ngày tối thiểu được xác
định theo các điều khoản của hợp đồng tín dụng và phản ánh các thông lệ trong
nước về thanh toán đối với loại hình nợ đó".
Theo quy định mới nhất hiện nay của Thống đốc NHNN, khi có phát sinh
nợ quá hạn ở một kỳ hạn nợ thì toàn bộ số nợ còn lại của khoản vay đó
đều phải chuyển thành nợ quá hạn.
Phần lớn các khoản vay bị chuyển nợ quá hạn là những khoản nợ có vấn
đề, phản ánh chất lượng của công tác tín dụng bị giảm sút, phản ánh khả năng
không thu hồi được đầy đủ đúng hạn vốn, lãi vốn đã cho vay ra, vì vậy, đây là
+ Phân loại theo nợ có tài sản đảm bảo hay không có tài sản đảm bảo; Tài
sản đảm bảo tiền vay là cơ sở thu hồi vốn vay khi xử lý nợ quá hạn. Như vậy, rõ
ràng tài sản đảm bảo là biện pháp quan trọng làm giảm rủi ro và tăng chất lượng
tín dụng.
+ Phân loại nợ quá hạn theo thành phần kinh tế, theo từng loại hộ sản
xuất. Từ sự so sánh đánh giá để rút ra khả năng xẩy ra rủi ro loại hộ nào là cao
nhất, nguyên nhân và biện pháp phòng ngừa, nâng cao chất lượng cho vay trong
tương lai.
+ Phân loại nợ quá hạn hộ sản xuất theo tiêu thức thời gian tính từ thời
điểm chuyển nợ quá hạn: Nợ quá hạn đến 180 ngày, nợ quá hạn từ 180 đến 360
ngày, nợ quá hạn trên 360 ngày. Nói chung thời gian nợ quá hạn càng dài thì khả
năng rủi ro càng cao, làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng tín dụng.
+ Để đánh giá mức độ tổn thất của tín dụng được chính xác và có biên
pháp xử lý hợp lý, người ta còn phân chia các khoản nợ tồn đọng thành từng
nhóm:
Nợ nhóm 1: Nợ tồn đọng có tài sản đảm bảo.
Nợ nhóm 2: Nợ không có tài sản đảm bảo, không còn đối tượng thu.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nợ nhóm 3: Nợ không có tài sản đảm bảo, người vay còn tồn tại, đang
hoạt động.
- Những chỉ tiêu khác:
Khả năng mất mát trong hoạt động của Ngân hàng cũng có thể đo bằng
các phương pháp khác như: Phương pháp xác xuất, phương pháp đo lường…
bằng nhiều cách khác nhau như kiểm tra hồ sơ vay vốn, điều tra xác xuất, điều
tra các trọng điểm… qua đó múc độ vi phạm quy trình vay vốn, những hồ sơ
không đảm bảo tính an toàn, mức độ sử dụng sai mục đích vốn vay, sự sai lệch
hồ sơ với thực tế, giá trị thực tế tài sản đảm bảo, tình hình biến động giá cả tài
sản đảm bảo, tình hình trích quỹ dự phòng rủi ro, xử lý rủi ro…
Chỉ tiêu nợ quá hạn, giá trị tài sản đảm bảo là hai yếu tố cơ bản để đánh
giá chính xác chất lượng tín dụng của các NHTM. Tuy nhiên, để đánh giá chính
năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, cho vay để luân chuyển vật tư, tiêu
thụ sản phẩm, từ đó tạo sự cân đối hợp lý trong sản xuất nông nghiệp, nông
thôn.
+ Tín dụng hộ sản xuất góp phần cải tạo cơ sở hạ tầng nông thôn, các cơ
sơ chế biến, tiêu thụ sản phẩm, tạo tiền đề cho kinh tế hộ phát triển.
+ Tạo điều kiện nâng cao trình độ dân trí, chuyển giao công nghệ kỹ thuật
sản xuất nông nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp.
- Tín dụng hộ sản xuất giúp các hộ sản xuất nâng cao trình độ sản xuất,
tăng cường hạch toán kinh tế.
Các hộ sản xuất khi vay tiền Ngân hàng, buộc phải tính toán thu, chi và
tìm cách bán được sản phẩm của mình để có tiền trả nợ Ngân hàng đúng hạn.
Điều đó thúc đẩy việc hạch toán kinh tế, khai thác cao nhất các điều kiện sản
xuất, tìm và chọn ra phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả nhất, với chi phí
thấp nhất. Tín dụng Ngân hàng đã thúc đẩy các hộ sản xuất chuyển từ sản xuất
tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Tín dụng hộ sản xuất góp phần giảm tệ nạn cho vay nặng lãi, bán sản
phẩm chưa đến thời điểm thu hoạch ở nông thôn. Nếu làm tốt công tác tín dụng
hộ sản xuất thì nguồn vốn Ngân hàng sẽ kịp thời giúp các hộ sản xuất bổ sung
các chi phí vượt ngoài khả năng tài chính của mình, có đủ thời gian để chọn
thời điểm tiêu thụ sản phẩm có lợi hơn. Ngoài ra tín dụng hộ sản xuất sẽ góp
phần tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập và đẩy lùi các tệ nạn xã hội ở
nông thôn.
1.2.4.2. Vai trò của tín dụng hộ sản xuất đối với các Ngân hàng Thương mại
- Trải qua hơn 15 năm chuyển sang cơ chế thị trường, các NHTM Việt
Nam đã có những thay đổi nhanh chóng và tích cực, nhưng dù sao vẫn còn đang
trong quá trình chuyển biến, các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng còn quá đơn điệu,
nguồn thu từ tín dụng vẫn còn chiếm 70 - 80% nguồn thu của NHTM. Đặc biệt,
dư nợ hộ sản xuất của NHNo & PTNT Việt Nam chiếm gần 70% tổng dư nợ nên
có thể nói rằng tín dụng hộ sản xuất đã tạo ra nguồn thu chủ yếu nhất, lớn nhất
- Tín dụng hộ sản xuất còn góp phần tích cực trong việc thực hiện đường
lối CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn của Đảng, triển khai các chính sách
kinh tế xã hội của Chính Phủ trong nông thôn, tạo thêm niềm tin cho lực lượng
dân cư đông đảo nhất, là cơ sở để tạo nên sự ổn định chính trị đất nước.
1.2.5. Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng hộ sản xuất
Ta biết rằng chất lượng tín dụng hộ sản xuất có ý nghĩa rất lớn đối với sự
tồn tại và phát triển của các NHTM và của toàn xã hội. Để quản lý chất lượng
tín dụng hộ sản xuất đồng bộ đòi hỏi phải hiểu rõ tác động của từng nhân tố ảnh
hưởng đến chất lượng tín dụng hộ sản xuất.
1.2.5.1. Các nhân tố về kinh tế xã hội
* Nhân tố kinh tế:
Về phương diện tổng thể, nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi
cho hoạt động tín dụng hộ sản xuất, nền kinh tế ổn định làm cho quá trình sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp tiến hành một cách bình thường, không bị
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ảnh hưởng yếu tố lạm phát, khủng hoảng làm cho khả năng tín dụng và khả năng
trả nợ không biến động lớn. Trong trường hợp này, chất lượng tín dụng phụ
thuộc chủ yếu khả năng quản lý chất lượng tín dụng của bản thân các NHTM.
Tuy nhiên, để xã hội tồn tại và phát triển, đòi hỏi nền kinh tế phải có sự
tăng trưởng liên tục, ổn định, vững chắc, với mục đích tăng trưởng nền kinh tế,
một số nước đã sử dụng mức lạm phát vừa phải để tăng trưởng tín dụng, kích
thích đầu tư, giới hạn của mở rộng tín dụng có ảnh hưởng lớn đến đến chất
lượng tín dụng. Nếu mở rộng quá giới hạn cho phép, sẽ làm cho giá cả tăng quá
mức, xảy ra lạm phát ở mức độ cao, các NHTM sẽ chịu thiệt hại lớn do đồng
tiền mất giá, chất lượng tín dụng bị giảm sút. Ngoài ra chính sách và luật lệ điều
tiết về ưu tiên, ưu đãi, hạn chế sự phát triển của một ngành, lĩnh vực…để hạn
chế tác động tiêu cực như: ô nhiễm môi trường, đảm bảo sự phát triển cân đối
trong nền kinh tế cũng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng. Vốn nước ngoài
cũng có ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng. Do tình trạng thiếu vốn để phát
triển kinh tế, các nước kém phát triển phải tìm mọi cách huy động vốn nước
dụng ở mức độ thấp. Tuy nhiên, trong thực tế cũng có nhiều trường hợp do chạy
đua sản xuất kinh doanh, nạn đầu cơ tích trữ, làm cho nhu cầu vốn tín dụng lên
quá cao và có nhiều khoản tín dụng được thực hiện. Những khoản này cũng khó
có thể được hoàn trả nếu sự phát triển sản xuất kinh doanh không có kế hoạch
dẫn đến suy thoái và khủng hoảng kinh tế.
Mức độ phù hợp giữa lãi suất Ngân hàng với mức lợi nhuận của doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hoá và dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân
cũng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng. Theo Mác " Lợi tức chỉ là một phần
của lợi nhuậnmà nhà Tư Bản công nghiệp trả cho nhà Tư Bản kinh doanh tiền tệ
mà giới hạn tối đa của lợi tức là bản thân lợi nhuận"( TB trang 93 tập 2 NXB xự
thật-1962 ). Như vậy, lợi tức của Ngân hàng thu được và hoạt động tín dụng bị
giới hạn bởi lợi nhuận của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sử dụng vốn vay
Ngân hàng. Vì vậy, với mức lãi suất cao hơn mức lợi nhuận các doanh nghiệp
thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp sẽ không có khả
Website: Email : Tel : 0918.775.368
năng trả nợ Ngân hàng, ảnh hưởng tới quá trình tái sản xuất giản đơn và tái sản
xuất mở rộngcủa doanh nghiệp nói riêngvà tình hình phát triển kinh tế nói
chung. Hoạt động tín dụnglúc này không còn là đòn bẩy để thúc đẩy sản xuất
phát triển và theo đó chất lưoựng tín dụng cũng bị ảnh hưởng.
* Nhân tố xã hội:
Nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tín dụng là các tác nhân trực
tiếp tham gia quan hệ tín dụng, đó là người gửi tiền và vay tiền Ngân hàng. Tín
dụng có nghĩa là quan hệ vay mượn dựa trên cơ sở tín nhiệm, lòng tin, điều đó
có nghĩa quan hệ tín dụng là sự kết hợp giữa ba yếu tố: Nhu cầu của khách hàng,
khả năng của Ngân hàng, và sự tin tưởng lẫn nhau giữa Ngân hàng và khách
hàng. Sự tín nhiệm của Ngân hàng càng cao, thu hút khách hàng càng lớn, khách
hàng có tín nhiệm đối với Ngân hàng thườngđược vay vốn dễ dàng và có thể
được vay vốn với lãi suất thấp hơn so với các đối tượng khác. Tín nhiệm là điều
kiện, là tiền đề, để không ngừng cải tiến chất lượng tín dụng.
Khách hàng: Là chủ thể đại diện cho bên cung về nguồn vốn huy động
sự biến động về kinh tế chính trị xã hội ở nước ngoài đều ảnh hưởng trực tiếp
hoặc gián tiếp đến tình hình kinh tế chính trị xã hội trong nước và ảnh hưởng tới
chất lượng tín dụng.
1.2.5.2. Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý bao gồm tính đông bộ của hệ thống pháp luật, tính
đầy đủ của văn bản dưới luật, đồng thời gắn liền với quá trình chấp hành Pháp
luật và trình độ dân trí.
Thực tiễn kinh tế thị trường qua nhiều thập kỷ đã có đủ cơ sở kết luận
rằng: Pháp luật đã trở thành một bộ phận không thể thiếu được của nền kinh tế
thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Không có pháp luật, hoặc pháp luật
không phù hợp với những yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường thì mọi
hoạt động trong nền kinh tế đó không thể tiến hàng trôi chảy được. Với vai trò
đảm bảo cho việc chuyển một nền kinh tế thị trường từ tự phát, kém tổ chức
chuyển sang nền kinh tế thị trường văn minh, hoàn hảo, phát luật có nhiệm vụ
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tạo lập một môi trường pháp lý cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh tiến
hành thuận tiện và đạt kết quả cao, là cơ sở để giải quyết các vấn đề khiếu nại
khi có tranh chấp xẩy ra. Vì vậy, nhân tố pháp luật có vị trí quan trọng đối với
hoạt động Ngân hàng nói chung và chất lượng tín dụng hộ sản xuất nói riêng.
Chỉ có trong điều kiện các chủ thể tham gia quan hệ tín dụng tuân thủ pháp luật
một cách nghiêm chỉnh thì quan hệ tín dụng mới đem lại lợi ích cho cả hai phía
và chất lượng tín dụng mới được đảm bảo.
1.2.5.3. Tổ chức và hoạt động của bản thân từng Ngân hàng
Tổ chức và hoạt động của bản thân từng Ngân hàng có ảnh hưởng trực
tiếp tới các khía cạnh khác nhau của chất lượng tín dụng hộ sản xuất.
Thứ nhất: Chính sách tín dụng.
Chính sách tín dụng là kim chỉ nam đảm bảo cho hoạt động tín dụng đi
đúng quỹ đạo, nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại của một
Ngân hàng. Bất cứ NHTM nào muốn có chất lượng tín dụng đều phải có chính
sách tín dụng rõ ràng, thích hợp cho Ngân hàng mình.
vay hay không cho vay) là rất quan trọng. Đây là cơ sở định lượng rủi ro trong
quá trình cho vay. Trong bước này, chất lượng tín dụng phụ thuộc vào chất
lượng công tác thẩm định đối tượng cho vay vốn cũng như những quy định về
điều kiện và thủ tục cho vay của từng Ngân hàng.
Kiểm tra quá trình cho vay vốn giúp Ngân hàng lắm được nguyên nhân,
diễn biến của khoản tín dụng đã cung cấp, để có những biện pháp điều chỉnh
hoặc can thiệp khi cần thiếp, sớm phát hiện ngăn ngừa những rủi ro có thể xẩy
ra. Việc lựa chọn và áp dụng có hiệu quả các hình thức kiểm tra thiết lập được
một hệ thống phòng ngừa có hiệu quả cho chất lượng tín dụng góp phần cải
thiện chất lượng tín dụng.
Thu nợ và thanh lý nợ là khâu quan trọng có tính quyết định đến sự tồn taị
của Ngân hàng, do đó Ngân hàng phải tích cực chủ động trong công tác thu nợ,
sự nhậy bén của Ngân hàng trong việc phát hiện kịp thời những điều kiện bất lợi
có thể xẩy ra đối với khách hàng cùng những biện pháp sử lý chính xác, đúng
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lúc sẽ giảm các khoản nợ quá hạn vì điều đó sẽ tác động tích cực đối với chất
lượng tín dụng. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bước trong quy trình tín dụng
sẽ tạo điều kiện cho vốn tín dụng luân chuyển bình thường, theo đúng kế hoạch
đã định, nhờ đó đảm bảo chất lượng tín dụng.
Thứ năm: Thông tin tín dụng.
Thông tin tín dụng có vai trò quan trọng trong quản lý chất lượng tín
dụng. Nhờ có thông tin tín dụng, người quản lý có thể đưa ra quyết định cần
thiết có liên quanđến cho vay, theo dõi và quản lý tài khoản cho vay. Thông tin
tín dụng có thể thu được từ các nguồn sẵn có ở Ngân hàng, từ phía khách hàng,
từ các nguồn thông tin khác. Số lượng, chất lượng của thông tin thu thập có liên
quan đến mức độ chính xác trong việc phân tích nhận định khách hàng, thị
trường… để đưa ra quyết định phù hợp. Thông tin càng nhanh nhậy, đầy đủ,
chính xác, toàn diện thì khả năng phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng
càng lớn, chất lượng tín dụng càng cao.
Thú sáu: Kiểm soát nội bộ.
thoả mãn ngày càng cao cho khách hàng.
- Tạo ra uy tín cho Ngân hàng trong cạnh tranh, thu hút khách hàng tốt,
chiếm lĩnh thị trường và mở rộng hoạt động kinh doanh ra thị trường Quốc tế.
Như vậy, trang thiết bị cũng là một trong các nhân tố không thể thiếu
được để không ngừng cải tiến chất lượng tín dụng.
Tuỳ và điều kiện kinh tế xã hội, sự hoàn thiện môi trường pháp lý ở từng
nước, cũng như khả năng quản lý, cơ sở vật chất kỹ thuật và trình độ quản lý của
từng NHTM mà các nhân tố này ảnh hưởng ở mức độ khác nhau đến chất lượng
tín dụng. Vấn đề đặt ra là chúng ta phải biết rõ các nhân tố ảnh hưởng đến chất
lượng tín dụng và biết vận dụng sáng tạo, linh hoạt sự ảnh hưởng của các nhân
tố trong điều kiện và hoàn cảnh thực tế sẽ có tác dụng giúp cho sự thành công
của hoạt động tín dụng nói riêng cũng như hoạt động của các NHTM nói chung.
1.2.6. Kinh nghiệm quản lý chất lượng cho vay của một số NHTM thế giới
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hiện nay, nhiều nước vận dụng việc quản lý chất lượng tín dụng ở mức độ
khác nhau. Cụ thể:
Ở Malaysia: Các NHTM đều có quỹ dự phòng riêng ít nhất bằng 1% tổng
dư nợ. Ngoài ra còn có quỹ dự phòng đặc biệt cho các khoản nợ tổn thất và có
nghi ngờ. Việc thành lập quỹ dự phòng đặc biệt theo hướng dẫn xếp loại nợ.
- Nợ tổn thất : Là nợ không có khả năng thu hồi số tiền này cũng cần được
xoá sổ hoặc được bù đắp bằng quỹ dự phòng.
Số tiền bù đắp = Số tiền còn nợ-Các khoản lãi gộp-Tài sản thế chấp có giá trị
- Nợ có nghi ngờ: Là nợ được coi là không có khả năng thu hồi vì khó
đánh giá số tiền có thể mất nên người ta đặt một tỷ lệ mặt bằng là 50%.
Số tiền được bù đắp = 50% số tiền nợ - Lãi treo nhập gốc - Tài sản thế chấp có
giá trị
- Nợ kém tiêu chuẩn: Là nợ có mức độ rủi ro cao nhưng không thể đánh
giá là nợ tổn thất hay nợ nghi ngờ (vì tình hình tín dụng chính xấu đi hoặc tài tài
sản thế chấp thiếu có các yếu tố khác dẫn đến người vay không trả được nợ).
Đối với khoản nợ này Ngân hàng phải chú ý thu hồi hết nợ, bổ sung thế chấp
Qua khảo sát một số nét về tình hình quản lý cho vay ở một số nước ta
thấy:
- Vấn đề an toàn trong hoạt động cho vay là vấn đề quan trọng hàng đầu
đối với các NHTM.
- Chú trọng và tăng cường công tác thông tin, sàng lọc thông tin và tập
hợp những thông tin tin cậy sẽ giúp cho Ngân hàng tìm được Người vay tiền có
triển vọng. Điều đó cũng có nghĩa là: quản lý cho vay phải tập vào công tác
phòng ngừa, tăng cường chất lượng khâu thẩm định ban đầu cũng như giám sát
chặt chẽ quá trình sử dụng tiền vay để giảm tới mức tối đa các khoản nợ bị mất
mát.
- Quản lý cho vay tập trung quản lý tài sản có, thông qua việc xếp loại tài
sản có và trích lập gây quỹ dự phòng, NHTM vừa giám sát được chất lượng cho
Website: Email : Tel : 0918.775.368
vay vừa có biện pháp kịp thời để bù đắp rủi ro mất vốn, đảm bảo khả năng thanh
toán khi cần thiết.
- Chất lượng cho vay sẽ được cải thiện nếu môi trường pháp lý đầy đủ,
nghiêm minh, có các chỉ tiêu đầy đủ, cụ thể được định lượng hoá thuận lợi cho
việc giám sát, kiểm tra, áp dụng các hình thức cho vay phù hợp với khả năng rủi
ro của khoản cho vay.
- Việc thành lập quỹ dự phòng tổn thất cho các khoản nợ là cần thiết, tuy
nhiên tuỳ thuộc điều kiện cụ thể mỗi nước, nguồn hình thành quỹ có thể được
trích từ chi phí hay thu nhập.
- Trong điều kiện hiện nay để có thể hội nhập với nền kinh tế thế giới,
việc tham khảo kinh nghiệm của các nước là cần thiết để có thể tiếp thu nhanh
những thành tựu công nghệ tiên tiến trong công tác quản lý nói chung và quản lý
hoạt động cho vay nói riêng, nhằm rút nhanh khoảng cách về trình độ quản lý
giữa nước ta và trình độ quản lý trên thế giới. Nhất là trong lĩnh vực Ngân hàng,
lĩnh vực quan trọng và đóng vai trò trụ cột trong nền kinh tế, vấn đề này càng
coi trọng tạo điều kiện cho sự lưu chuyển hàng hoá, tiền tệ được an toàn nhanh
chóng và thông suất giữa các nước.