Bộ T pháp Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật Viện khoa học kiểm sát
Đề CƯƠNG giới thiệu
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
I. Sự cần thiết, mục đích, ý nghĩa của việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng hình
sự
-
Bộ luật tố tụng hình sự đợc Quốc hội nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa
XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003, có hiệu lực thi hành kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2004.
Bộ luật tố tụng hình sự này thay thế Bộ luât tố tụng hình sự đợc Quốc hội thông
qua ngày 29 tháng 6 năm 1988 và các luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố
tụng hình sự đợc Quốc hội thông qua ngày 30 tháng 6 năm 1990, ngày 22 tháng 12
năm 1992 và ngày 09 tháng 6 năm 2000.
- Bộ luật tố tụng hình sự năm1988 là Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của Nhà nớc ta đ-
ợc ban hành trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới. Bộ luật tố tụng hình sự đã góp
phần quan trọng vào sự nghiệp bảo vệ những thành quả của cách mạng, bảo vệ chế độ
xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của
Nhà nớc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, phục vụ tích cực công cuộc
đổi mới, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
- Trong quá trình thi hành, Bộ luật tố tụng hình sự đã đợc Quốc hội nớc ta sửa đổi,
bổ sung 3 lần. Các lần sửa đổi, bổ sung đã đáp ứng kịp thời yêu cầu, đòi hỏi của thực
tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm trong từng thời kỳ và đã từng bớc thể chế hóa một
số quan điểm về cải cách t pháp ở nớc ta.
Tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa X ngày 29 tháng 4 năm 1999, Viện kiểm sát
nhân dân tối cao đã thay mặt các cơ quan soạn thảo trình Quốc hội cho ý kiến về dự án
Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi), trong đó nêu rõ sự cần thiết phải sửa đổi Bộ luật tố
tụng hình sự một cách toàn diện để bảo đảm cho Bộ luật phù hợp với những nội dung
cải cách t pháp, với dự kiến sửa đổi Bộ luật hình sự. Trong khi chờ Quốc hội xem xét,
thông qua Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi) thì Bộ luật hình sự mới đã đợc Quốc hội
khóa X thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999 tại kỳ họp thứ 6 và có hiệu lực kể từ
hình mới, tăng cờng khả năng chống bỏ lọt tội phạm và ngời phạm tội, chống làm oan
ngời vô tội, mọi hành vi phạm tội đều phải đợc phát hiện và xử lý nghiêm minh, chính
xác và kịp thời.
Thứ hai, phải bảo đảm tốt hơn các quyền dân chủ của công dân, nâng cao tính an
toàn về mặt pháp lý cho công dân, khắc phục việc bắt, giữ, giam, điều tra, truy tố, xét
xử, oan, sai.
Thứ ba, phải bảo đảm các trình tự và các thủ tục tố tụng cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu,
có tính khả thi, tạo điều kiện cho những ngời tiến hành và tham gia tố tụng thực hiện
đầy đủ quyền và trách nhiệm tố tụng.
Thứ t, phải xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan và ngời tiến hành tố
tụng, phù hợp với những nội dung cải cách t pháp đợc khẳng định trong các nghị quyết
của Đảng; giải quyết đúng đắn vấn đề phân cấp thẩm quyền của các trình tự tố tụng
hình sự, chức trách của cơ quan tiến hành tố tụng và trách nhiệm của ngời tiến hành tố
2
tụng trong việc làm oan sai, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ t pháp trong sạch, vững
mạnh.
Thứ năm, việc sửa đổi Bộ luật tố tụng hình sự phải đợc tiến hành trên cơ sở tổng
kết thực tiễn áp dụng Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, kế thừa và phát triển những
quy định đã phát huy tác dụng tích cực trong đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm
ở nớc ta; đồng thời nghiên cứu và tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm về lập pháp tố
tụng hình sự của các nớc trong khu vực và trên thế giới.
III. Về phạm vi sửa đổi Bộ luật tố tụng hình sự:
Phạm vi sửa đổi Bộ luật tố tụng hình sự lần này là sửa đổi một cách cơ bản và
toàn diện, là quá trình rà soát lại toàn bộ Bộ luật, kế thừa và giữ lại những điều luật còn
phù hợp, loại bỏ, sửa đổi những quy định không còn phù hợp, bổ sung và xây dựng
những quy định mới để đáp ứng yêu cầu cải cách t pháp ở nớc ta hiện nay.
IV. Cơ cấu cuả Bộ luật tố tụng hình sự :
Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 gồm: Lời nói đầu, 7 phần, 32 chơng, 293 điều.
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 không có Lời nói đầu, gồm 8 phần, 37 chơng, 346
điều. Nh vậy, so với Bộ luật cũ thì Bộ luật mới đã bổ sung một phần mới (Phần thứ tám
trờng hợp do luật định thì hoạt động tố tụng hình sự đợc tiến hành theo quy định của
điều ớc quốc tế hoặc vụ án đợc giải quyết bằng con đờng ngoại giao ( Điều 1 BLTTHS)
2. Về những nguyên tắc cơ bản
Chơng I của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 quy định về những nguyên tắc cơ
bản trong tố tụng hình sự. Qua tổng kết thực tiễn cho thấy các quy định tại chơng này
đã thể hiện các vấn đề có tính nguyên tắc, tạo cơ sở pháp lý cho việc quy định cụ thể
các trình tự, thủ tục, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan tiến hành tố tụng và ngời tiến
hành tố tụng. Tuy nhiên, để thể hiện nội dung nghị quyết của Đảng về cải cách t pháp
và giải quyết những vấn đề bức xúc do thực tiễn đặt ra cần sửa đổi, bổ sung, xây dựng
mới một số nguyên tắc. Vì vậy, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã sửa đổi, bổ sung
và xây dựng mới một số nguyên tắc sau đây:
2.1. Nguyên tắc bảo đảm quyền đợc bồi thờng thiệt hại do ngời có thẩm quyền
của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra
Thực tiễn giải quyết việc bồi thờng thiệt hại trong tố tụng hình sự hiện nay cho
thấy đây là vấn đề nổi cộm, bức xúc, kéo dài; khiếu nại của công dân trong lĩnh vực
này diễn biến phức tạp. Một trong những nội dung quan trọng của cải cách t pháp hiện
nay là phải kiên quyết khắc phục các trờng hợp oan, sai và bảo đảm quyền đợc bồi th-
ờng thiệt hại do các cơ quan tiến hành tố tụng gây ra. Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày
02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị yêu cầu: Khẩn trơng ban hành và tổ chức thực
hiện nghiêm túc các văn bản pháp luật về bồi thờng thiệt hại đối với những trờng hợp
bị oan, sai trong hoạt động tố tụng. Ngày 17/3/2003, Uỷ ban Thờng vụ Quốc hội đã ra
Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 về bồi thờng thiệt hại cho ngời bị oan do ng-
ời có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra. Vì vậy, Bộ luật đã sửa đổi, bổ
sung khoản 3 Điều 24 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 để quy định thành hai nguyên
tắc:
a) Nguyên tắc bảo đảm quyền đợc bồi thờng thiệt hại và phục hồi danh dự,
quyền lợi của ngời bị oan
4
"Ngời bị oan do ngời có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra có
quyền đợc bồi thờng thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi. Cơ quan có thẩm quyền
gia tố tụng, Bộ luật đã bổ sung nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự
nh sau: việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự đợc tiến hành cùng với việc
giải quyết vụ án hình sự. Trong trờng hợp vụ án hình sự phải giải quyết vấn đề bồi th-
5
ờng, bồi hoàn mà cha có điều kiện để chứng minh và không ảnh hởng đến việc giải
quyết vụ án hình sự thì có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự ( Điều
28 BLTTHS).
2.4. Nguyên tắc về việc giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với
hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, ngời tiến hành tố tụng
Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 cha có quy định về việc giám sát đối với hoạt
động của cơ quan tiến hành tố tụng, ngời tiến hành tố tụng. Nghị quyết số 08- NQ/TW
của Bộ chính trị nêu rõ phải " tăng cờng sự giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân,
của các tổ chức xã hội và của nhân dân đối với công tác t pháp". Để tạo cơ sở pháp lý
thực hiện quyền giám sát của các cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử và nhân dân đối với
hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, ngời tiến hành tố tụng, góp phần khắc
phục việc oan sai, bỏ lọt tội phạm, Bộ luật đã quy định nguyên tắc chung về việc giám
sát là : Cơ quan nhà nớc, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên
của Mặt trận, đại biểu dân cử, có quyền giám sát hoạt động của các cơ quan tiến hành
tố tụng, ngời tiến hành tố tụng; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ
quan tiến hành tố tụng, ngời tiến hành tố tụng. Nếu phát hiện những hành vi trái pháp
luật của cơ quan tiến hành tố tụng, ngời tiến hành tố tụng thì cơ quan nhà nớc, đại biểu
dân cử có quyền yêu cầu, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên
của Mặt trận có quyền kiến nghị với cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền xem xét,
giải quyết theo quy định của Bộ luật này. Cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền
phải xem xét, giải quyết và trả lời kiến nghị và yêu cầu đó theo quy định của pháp luật
(Điều 32 BLTTHS).
3. Về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của những ngời tiến hành tố
tụng
Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 đã có nhiều quy định về nhiệm vụ, quyền hạn
và trách nhiệm của những ngời tiến hành tố tụng. Tuy nhiên các quy định này còn có
BLTTHS).
- Quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án, Phó chánh án khi tiến
hành giải quyết vụ án hình sự (khoản 2 Điều 38 BLTTHS).
- Quy định cụ thể những nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán (Điều 39
BLTTHS).
- Quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm (Điều 40 BLTTHS).
- Quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Th ký phiên toà (Điều 41 BLTTHS).
4. Về quyền và nghĩa vụ của những ngời tham gia tố tụng
Quyền và nghĩa vụ của những ngời tham gia tố tụng nh bị can, bị cáo, ngời bào
chữa, ngời bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, ngời có quyền lợi và nghĩa vụ liên
quan đến vụ án, ngời giám định, ngời phiên dịch đợc quy định tại Chơng III Bộ luật tố
tụng hình sự năm 1988. Quán triệt Nghị quyết số 08- NQ/TW của Bộ Chính trị về vấn
đề tranh tụng tại phiên toà và việc tham gia của ngời bào chữa vào quá trình tố tụng nh
tham gia hỏi cung bị can, tranh luận dân chủ tại phiên toà, để bảo đảm thực hiện đầy đủ
hơn các quyền của họ trong tố tụng hình sự, góp phần nâng cao trách nhiệm của các cơ
quan tiến hành tố tụng, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã sửa đổi, bổ sung một số
vấn đề chính sau đây:
- Quy định ngời bị tạm giữ có quyền tự bào chữa hoặc nhờ ngời khác bào chữa
( các điều 11, 48 BLTTHS).
7
- Quy định rõ hơn quyền khiếu nại của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo và những
ngời tham gia tố tụng khác đối với các hành vi và quyết định của cơ quan và ngời có
thẩm quyền tiến hành tố tụng; bị cáo, ngời bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và
ngời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền phát biểu ý kiến tại phiên toà
để bảo vệ quyền và lợi ích của mình ( các điều 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54 BLTTHS).
- Bổ sung quy định Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên
của Mặt trận có quyền cử bào chữa viên nhân dân để bào chữa cho ngời bị tạm giữ, bị
can, bị cáo là thành viên của tổ chức mình (Điều 57 BLTTHS).
- Mở rộng quyền của ngời bào chữa theo hớng: ngời bào chữa đợc tham gia tố
tụng từ khi khởi tố bị can, trong trờng hợp bắt ngời theo quy định tại Điều 81 và Điều
kể từ khi nhận đợc đề nghị xét phê chuẩn và tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp;
trong trờng hợp Viện kiểm sát không phê chuẩn việc bắt khẩn cấp thì Cơ quan điều tra
phải trả tự do ngay cho ngời bị bắt (Điều 81 BLTTHS).
- Quy định cụ thể những việc cần làm ngay sau khi bắt hoặc nhận ngời bị bắt
theo lệnh truy nã nh sau:
Sau khi bị bắt hoặc nhận ngời bị bắt trong trờng hợp khẩn cấp hoặc phạm tội
quả tang, Cơ quan điều tra phải lấy lời khai ngay và trong thời hạn 24 giờ phải ra
quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho ngời bị bắt.
Đối với ngời bị truy nã thì sau khi lấy lời khai, Cơ quan điều tra nhận ngời bị
bắt phải thông báo ngay cho cơ quan đã ra quyết định truy nã để đến nhận ngời bị bắt.
Sau khi nhận ngời bị bắt, cơ quan đã ra quyết định truy nã phải ra ngay quyết
định đình nã. Trong trờng hợp xét thấy cơ quan đã ra quyết định không thể đến nhận
ngay ngời bị bắt thì sau khi lấy lời khai, Cơ quan điều tra nhận ngời bị bắt phải ra
ngay quyết định tạm giữ và thông báo ngay cho cơ quan đã ra quyết định truy nã biết.
Sau khi nhận đợc thông báo, cơ quan đã ra quyết định truy nã có thẩm quyền bắt
để tạm giam phải ra ngay lệnh tạm giam và gửi lệnh tạm giam đã đợc Viện kiểm sát
cùng cấp phê chuẩn cho Cơ quan điều tra nhận ngời bị bắt. Sau khi nhận đợc lệnh tạm
giam, Cơ quan điều tra nhận ngời bị bắt có trách nhiệm giải ngay ngời đó đến trại tạm
giam nơi gần nhất (Điều 83 BLTTHS).
- Quy định bổ sung đối tợng bị áp dụng biện pháp tạm giữ, thẩm quyền ra lệnh
tạm giữ, thời hạn gia hạn tạm giữ của Viện kiểm sát, cụ thể là:
Thời hạn tạm giữ không đợc quá ba ngày, kể từ khi Cơ quan điều tra nhận ngời
bị bắt.
Trong trờng hợp cần thiết, ngời ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ, nh-
ng không quá ba ngày. Trong trờng hợp đặc biệt, ngời ra quyết định tạm giữ có thể gia
hạn tạm giữ lần thứ hai nhng không quá ba ngày. Mọi trờng hợp gia hạn tạm giữ đều
phải đợc Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn; trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận đợc
đề nghị gia hạn và tài liệu liên quan đến việc gia hạn tạm giữ, Viện kiểm sát phải ra
quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn.
Trong khi tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì phải trả tự do ngay
+ Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn đợc quy định tại Điều 75 Bộ luật tố tụng hình
sự 1988.Thực tiễn cho thấy việc áp dụng biện pháp này còn gặp nhiều khó khăn, vớng
mắc vì điều luật cha quy định rõ trách nhiệm của tổ chức hoặc cá nhân đứng ra bảo
lĩnh, nhiều bị can, bị cáo sau khi đợc bảo lĩnh đã không có mặt khi cơ quan tiến hành tố
tụng triệu tập, tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn gây khó khăn cho công tác điều tra, truy
tố, xét xử. Vì vậy, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã sửa đổi quy định về biện pháp
này theo hớng:
Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam. Căn cứ vào
tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị can,
bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có thể quyết định cho họ đợc bảo lĩnh.
Cá nhân có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là ngời thân thích của họ. Trong
trờng hợp này thì ít nhất phải có hai ngời. Tổ chức có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị
cáo là thành viên của tổ chức của mình. Khi nhận bảo lĩnh, cá nhân hoặc tổ chức phải
làm giấy cam đoan không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội và bảo đảm sự có mặt của
bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án. Khi
làm giấy cam đoan, cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh đợc thông báo về những tình
tiết của vụ án có liên quan đến việc nhận bảo lĩnh.
Những ngời quy định tại khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này, Thẩm phán đợc phân
công chủ toạ phiên toà có quyền ra quyết định về việc bảo lĩnh.
Cá nhân nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo phải là ngời có t cách, phẩm chất tốt,
nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Việc bảo lĩnh phải có xác nhận của chính quyền
10
địa phơng nơi ngời đó c trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi ngời đó làm việc. Đối với tổ chức
nhận bảo lĩnh thì việc bảo lĩnh phải có xác nhận của ngời đứng đầu tổ chức.
Cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan phải chịu
trách nhiệm về nghĩa vụ đã cam đoan và trong trờng hợp này bị can, bị cáo đợc nhận
bảo lĩnh sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác (Điều 92 BLTTHS).
Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 quy định đặt tiền hoặc tài sản để
bảo đảm là biện pháp ngăn chặn chỉ có thể đợc áp dụng đối với bị can, bị cáo là ngời n-
ớc ngoài. Để thực hiện chủ trơng hạn chế các trờng hợp tạm giam theo Nghị quyết số
này gồm 8 chơng, 70 điều. Nội dung sửa đổi tập trung vào những vấn đề chính sau
đây:
1. Về các cơ quan điều tra và các cơ quan khác đợc giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra
Các nghị quyết của Đảng về đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan điều
tra, đặc biệt là những nội dung đợc đề cập trong Nghị quyết số 08- NQ/TW của Bộ
Chính trị đã chỉ rõ: Nâng cao chất lợng công tác điều tra, thực hiện tốt công tác tiếp
nhận, xử lý tin báo, tố giác về tội phạm, tăng cờng phối hợp giữa cơ quan điều tra
chuyên trách với các cơ quan khác đợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra để phục vụ tốt công tác đấu tranh phòng chống tội phạm; sắp xếp, củng cố lại cơ
quan điều tra; quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm của Thủ trởng cơ quan điều tra và
điều tra viên; kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động điều tra và trinh sát Để thực hiện các
nghị quyết của Đảng, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã sửa đổi , bổ sung một số
vấn đề sau đây:
a) Về cơ quan điều tra
Điều 92 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 quy định các cơ quan điều tra gồm có:
cơ quan điều tra của lực lợng Cảnh sát nhân dân, cơ quan điều tra của lực lợng An ninh
nhân dân, cơ quan điều tra trong Quân đội và cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân
dân.
Quán triệt chủ trơng thu gọn đầu mối cơ quan điều tra theo tinh thần các nghị
quyết của Đảng về cải cách t pháp, để nâng cao chất lợng, hiệu quả công tác điều tra,
phân định thẩm quyền điều tra của các cơ quan điều tra ở từng ngành và giữa các cấp
điều tra, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã sửa đổi, bổ sung các quy định về cơ quan
điều tra nh sau:
- Cơ quan điều tra gồm có: cơ quan điều tra trong Công an nhân dân, cơ quan
điều tra trong Quân đội nhân dân và cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối
cao.
- Quy định thẩm quyền điều tra của từng hệ thống cơ quan điều tra thuộc mỗi
Bộ, ngành: Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân điều tra tất cả các tội phạm, trừ
những tội phạm do cơ quan điều tra trong Quân đội và những vụ án do Cơ quan điều tra
Đối với các tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng và tội ít
nghiêm trọng nhng phức tạp thì đợc khởi tố vụ án, tiến hành một số hoạt động điều tra
ban đầu và chuyển cho cơ quan điều tra trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày ra quyết định
khởi tố vụ án (Điều 111 BLTTHS).
c) Về trách nhiệm của cơ quan điều tra trong việc giải quyết tin báo, tố giác về
tội phạm và khởi tố vụ án
Trách nhiệm của cơ quan điều tra trong việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm
khởi tố vụ án đợc quy định tại các điều 86, 87, 90 Bộ luật tố tụng hình sự 1988. Thực
tiễn cho thấy cơ quan điều tra khởi tố khoảng 95-97% tổng số vụ án đợc khởi tố, Viện
kiểm sát chỉ khởi tố khoảng 2-3%, còn lại là các cơ quan khác đợc giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra thực hiện. Do Bộ luật tố tụng hình sự cha phân định rõ
ràng việc nào thì Viện kiểm sát khởi tố, việc nào thì cơ quan điều tra khởi tố, nên có tr -
ờng hợp Viện kiểm sát hoặc cơ quan điều tra đều kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết
định việc khởi tố trong cùng một vụ việc hoặc dẫn tới bỏ lọt tội phạm và ngời phạm tội.
Để bảo đảm"tăng cờng sự phối hợp giữa các cơ quan t pháp trong hoạt động tố tụng
trên cơ sở thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, không
13
hữu khuynh hoặc đùn đẩy trách nhiệm" theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW của
Bộ chính trị, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã sửa đổi, bổ sung một số quy định để
phân định rõ ràng trách nhiệm của từng cơ quan trong việc giải quyết tin báo, tố giác
tội phạm, khởi tố vụ án theo hớng:
- Quy định cơ quan điều tra có nhiệm vụ giải quyết tin báo, tố giác tội phạm,
kiến nghị khởi tố và thông báo kết quả giải quyết tin báo, tố giác tội phạm hoặc kiến
nghị khởi tố cho cơ quan, tổ chức hoặc ngời đã tố giác tội phạm; Viện kiểm sát có trách
nhiệm kiểm sát việc giải quyết của cơ quan điều tra đối với tin báo, tố giác về tội phạm
và kiến nghị khởi tố (Điều 103 BLTTHS).
- Bổ sung quy định về trách nhiệm của cơ quan điều tra, của các cơ quan khác đ-
ợc quyền khởi tố vụ án phải gửi quyết định khởi tố, quyết định không khởi tố vụ án cho
Viện kiểm sát trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định để Viện kiểm sát kiểm sát
việc khởi tố (Điều 104, 108 BLTTHS).
- Bổ sung quyền đợc yêu cầu thông báo về nội dung và trình bày ý kiến về kết
luận giám định của những ngời tham gia tố tụng (Điều 158 BLTTHS).
- Quy định rõ trình tự, thủ tục trng cầu giám định, trách nhiệm của cơ quan hoặc
ngời giám định phải thông báo cho cơ quan đã trng cầu giám định biết rõ lý do trong tr-
ờng hợp không thể tiến hành giám định theo thời hạn trng cầu ( các điều 155, 156
BLTTHS).
- Quy định rõ căn cứ của việc giám định bổ sung hoặc giám định lại (Điều 159
BLTTHS).
3. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra
Các điều 87, 90, 91, 141 Bộ luật tố tụng hình sự năm1988 quy định về nhiệm vụ,
quyền hạn và trách nhiệm thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn
điều tra. Các nghị quyết của Đảng về cải cách t pháp, nhất là Nghị quyết số 08-NQ/TW
của Bộ chính trị đã chỉ rõ: Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố, hoạt
động công tố phải đợc thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố
tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và ngời phạm tội, không làm oan ngời vô
tội. Quán triệt nội dung của Nghị quyết, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
2002 đã quy định rõ hoạt động thực hành quyền công tố và phân định với hoạt động
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra. Để Viện kiểm sát thực hiện
tốt chức năng công tố cần cụ thể hoá hơn nhiêm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi
thực hành quyền công tố, quy định các biện pháp nhằm bảo đảm hoạt động công tố của
Viện kiểm sát phát huy hiệu lực trong thực tiễn. Trên tinh thần đó, Bộ luật tố tụng hình
sự 2003 đã sửa đổi, bổ sung các nội dung chính sau đây:
- Sửa đổi Điều 141 Bộ luật tố tụng hình sự 1988 để quy định rõ hơn nhiệm vụ,
quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra trong
giai đoạn điều tra; trách nhiệm thực hiện các yêu cầu hoặc quyết định của Viện kiểm
sát ( các điều 112, 113, 114, 115 BLTTHS).
- Quy định rõ trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc khởi tố vụ án hình sự,
khởi tố bị can: Viện kiểm sát phải kiểm sát chặt chẽ việc khởi tố vụ án của các cơ quan
có thẩm quyền khởi tố; trực tiếp khởi tố trong trờng hợp Viện kiểm sát huỷ bỏ quyết
định không khởi tố vụ án của cơ quan điều tra và trong trờng hợp Hội đồng xét xử yêu
tụng hình sự năm1988. Tuy nhiên những quy định này cha thể hiện đầy đủ việc tranh
tụng, nhất là tranh tụng tại phiên toà.
Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị đã nêu rõ : Việc phán quyết của
Toà án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ,
toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của ngời bào chữa, bị cáo, nhân
chứng, nguyên đơn, bị đơn và những ngời có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản
án, quyết định đúng pháp luật .
Để thể chế hoá quan điểm của Đảng về tranh tụng tại phiên toà, nâng cao chất l-
ợng xét xử các vụ án hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã sửa đổi, bổ sung
nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trớc Toà án và các quy định khác để Kiểm sát
viên phải chủ động trong việc thực hành quyền công tố khi tranh luận còn ý kiến khác
nhau thì phải đa ra lập luận của mình đối với từng ý kiến. Bị cáo, ngời bào chữa và
những ngời tham gia tố tụng khác có quyền đa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu đợc trình bày
hết ý kiến và tranh luận dân chủ tại phiên toà. Hội đồng xét xử khi nghị án chỉ đợc căn
16
cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã đợc thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ,
toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những ngời tham gia tố
tụng khác (các điều 217, 218, 222 BLTTHS)
2. Về thẩm quyền xét xử của Toà án cấp huyện
Điều 145 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 quy định: Toà án nhân dân cấp
huyện và Toà án quân sự cấp khu vực xét xử sơ thẩm những tội phạm mà Bộ luật hình
sự quy định hình phạt từ 7 năm tù trở xuống, trừ các tội xâm phạm an ninh quốc gia và
các tội quy định tại các điều 95, 96, khoản 1 Điều 173 và các điều 222, 223, 263, 293,
294, 295, 296 Bộ luật hình sự (24 tội). Toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà án quân sự cấp
quân khu có thể lấy lên để xét xử sơ thẩm những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án
cấp huyện.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ơng Đảng (khoá VII) chỉ rõ
nghiên cứu tăng thẩm quyền xét xử cho Toà án nhân dân cấp huyện theo hớng việc xét
xử sơ thẩm đợc thực hiện chủ yếu ở Toà án cấp này.
Thực hiện chủ trơng này, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã sửa đổi để quy
Phần thứ t Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 quy định về xét lại bản án và quyết
định cha có hiệu lực pháp luật theo thủ tục phúc thẩm gồm 2 chơng , 23 điều. Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2003 quy định phần này gồm 2 chơng và 25 điều. Nội dung sửa đổi
tập trung vào những vấn đề chính sau đây:
1. Về việc áp dụng, thay đổi , huỷ bỏ biện pháp tạm giam trong giai đoạn
xét xử phúc thẩm
Điều 215 a Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 cha quy định rõ ngời có thẩm
quyền áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam trong giai đoạn chuẩn bị xét
xử phúc thẩm của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao; cha quy định rõ việc tạm
giam đối với bị cáo để bảo đảm việc thi hành án. Vì vậy, Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 đã quy định ngời có thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam trong giai đoạn xét
xử phúc thẩm của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao là Thẩm phán giữ chức vụ
Chánh Toà, Phó chánh toà Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao; đồng thời quy định
rõ thẩm quyền và thời hạn bắt, tạm giam đối với bị cáo theo hớng: đối với bị cáo đang
bị tạm giam mà bị tuyên án phạt tù mà đến ngày kết thúc phiên toà thời hạn tạm giam
đã hết thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định tạm giam bị cáo để đảm bảo việc
thi hành án. Đối với bị cáo không bị tạm giam nhng bị tuyên án phạt tù thì Hội đồng
xét xử ra quyết định bắt tạm giam bị cáo ngay sau khi tuyên án. Thời hạn tạm giam là
45 ngày, kể từ ngày tuyên án (Điều 243 BLTTHS).
2. Về thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm
Điều 222 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 không quy định cho Toà án cấp phúc
thẩm đợc huỷ án sơ thẩm trong trờng hợp án sơ thẩm tuyên bị cáo không phạm tội, mặc
dù tại phiên toà phúc thẩm thấy đủ căn cứ xác định bị cáo phạm tội vẫn phải giữ
nguyên bản án sơ thẩm và kiến nghị ngời có thẩm quyền kháng nghị theo trình tự giám
đốc thẩm để Toà giám đốc xem xét giải quyết, dẫn đến việc giải quyết vụ án bị kéo dài
một cách không cần thiết. Để giải quyết tình trạng này Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 đã sửa đổi Điều 222 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 và quy định Toà án cấp
phúc thẩm có quyền huỷ án sơ thẩm để xét xử lại ở cấp sơ thẩm (Điều 250 BLTTHS).
3. Về thời hạn giao bản án và quyết định phúc thẩm
Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 cha quy định thời hạn giao bản án và quyết
hoãn hoặc tạm đình chỉ thi hành án mà ngời bị kết án không có mặt tại Cơ quan Công
an để đi chấp hành hình phạt tù mà không có lý do chính đáng thì Cơ quan Công an
phải áp giải ngời bị kết án đi chấp hành hình phạt tù.
3. Về thẩm quyền cho ngời bị kết án đợc tạm đình chỉ thi hành án phạt tù.
Theo quy định tại Điều 232 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 thì việc cho ngời
bị kết án đợc tạm đình chỉ thi hành án phạt tù thuộc thẩm quyền của Chánh án Toà án
đã ra quyết định thi hành. Tuy nhiên thực tế cho thấy nhiều trờng hợp ngời bị kết án
chấp hành hình phạt ở địa phơng khác với nơi đã ra quyết định thi hành án, khi xét đề
nghị cho họ đợc tạm đình chỉ thi hành án do họ bị lâm bệnh nặng thì gặp khó khăn và
không kịp thời. Để khắc phục hạn chế này, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định
trong trờng hợp ngời bị kết án mà bị bệnh nặng thì Chánh án Toà án cấp tỉnh nơi ngời
đó đang chấp hành hình phạt tù có thể cho họ đợc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.
Còn các trờng hợp khác quy định tại các điểm b, c, d, khoản 1 Điều 61 và Điều 62 thì
19
vẫn thuộc thẩm quyền quyết định của Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án nh
quy định trớc đây (Điều 262 BLTTHS).
e. Phần thứ sáu: xét lại bản án và quyết định đã có hiệu lực
pháp luật
Phần thứ sáu của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành quy định về việc xét lại bản
án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật gồm 2 chơng, 30 điều. Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2003 quy định phần này gồm 2 chơng, 29 điều. Nội dung sửa đổi tập trung vào
những vấn đề chính sau đây :
1. Về thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm
Điều 244 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 quy định: Phó Viện trởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao, Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo
thủ tục giám đốc thẩm. Thực hiện nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Luật tổ
chức Toà án nhân dân và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2003 đã bỏ thẩm quyền này của Phó Chánh án Toà án nhân dân tối
cao và Phó viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Điều 275 BLTTHS).
2. Về thời hạn trả lời việc không kháng nghị giám đốc thẩm
quá nửa tổng số thành viên tán thành thì mới có giá trị.
Thực tế cho thấy để bảo đảm việc xét xử của Uỷ ban thẩm phán hoặc Hội đồng
thẩm phán đợc chính xác thì cần quy định cụ thể cách thức biểu quyết của Uỷ ban thẩm
phán hoặc Hội đồng thẩm phán. Vì vậy, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định:
Tại phiên toà giám đốc thẩm của Uỷ ban thẩm phán(TAND cấp tỉnh, Toà án quân sự
cấp quân khu) hoặc Hội đồng thẩm phán (Toà án nhân dân tối cao), khi biểu quyết về
nội dung kháng nghị thì phải biểu quyết theo trình tự những ý kiến đồng ý với kháng
nghị, những ý kiến không đồng ý với kháng nghị. Nếu không có loại ý kiến nào đợc
quá nửa tổng số thành viên của Uỷ ban thẩm phán hoặc Hội đồng thẩm phán biểu quyết
tán thành thì phải hoãn phiên toà. Trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày ra
quyết định hoãn phiên toà thì Uỷ ban thẩm phán hoặc Hội đồng thẩm phán phải mở
phiên toà xét xử lại vụ án với sự tham gia của toàn thể các thành viên (Điều 281
BLTTHS).
5. Thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm
Điều 254 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 quy định Hội đồng giám đốc thẩm có
quyền sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
Trong bối cảnh cải cách t pháp hiện nay, để bảo đảm nguyên tắc hai cấp xét xử
thì cần bỏ thẩm quyền sửa bản án của Hội đồng giám đốc thẩm. Giám đốc thẩm là cấp
kiểm tra các bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Trong trờng hợp Toà án
giám đốc thấy bản án sơ thẩm xử đúng thì huỷ bản án phúc thẩm và giữ nguyên bản án
sơ thẩm; nếu xét thấy bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm đều sai thì phải huỷ cả hai
bản án đó, giám đốc thẩm không nên sửa hình phạt. Do đó, trong Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2003 không quy định Hội đồng giám đốc thẩm có quyền sửa bản án đã tạo ra
tâm lý coi giám đốc thẩm nh một cấp xét xử thứ ba (Điều 285 BLTTHS).
G. Phần thứ bảy Về thủ tục đặc biệt
Phần thủ tục đặc biệt của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 gồm 2 chơng, 16
điều. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định phần này gồm 4 chơng, 39 điều (trong
đó xây dựng hai chơng mới: Chơng XXXIV về thủ tục rút gọn và Chơng XXXV về
khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự). Các nội dung sửa đổi chính cụ thể nh sau:
1. Thủ tục về những vụ án mà bị can, bị cáo là ngời cha thành niên
trị chuyên khoa y tế để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, ngời đó phải tiếp tục
chấp hành hình phạt, nếu không có lý do để miễn chấp hành hình phạt (Điều 315
BLTTHS).
3. Về Thủ tục rút gọn
Thủ tục rút gọn là một dạng thủ tục tố tụng hình sự trong đó có một số thủ tục đ-
ợc rút ngắn nhằm giúp cho việc điều tra, truy tố, xét xử đợc nhanh chóng đối với những
vụ án đơn giản, phạm tội quả tang, chứng cứ và lai lịch ngời phạm tội rõ ràng, góp phần
đấu tranh phòng và chống tội phạm kịp thời, có hiệu quả, bảo đảm các quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân trong tố tụng hình sự.
ở nớc ta, từ năm 1974 đã có những văn bản dới luật quy định về thủ tục rút gọn
và đã đợc áp dụng trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử. Bộ luật tố tụng hình sự nhiều
22
nớc trong khu vực và trên thế giới cũng có quy định về thủ tục rút gọn để xử lý nhanh
những vụ phạm tội quả tang, đơn giản, rõ ràng.
Trong giai đoạn hiện nay, để tăng cờng hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng và
chống tội phạm, đồng thời vẫn bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của công dân, thì việc
quy định thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng hình sự là cần thiết. Nghị quyết số 08-
NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định nghiên cứu để quy định và thực hiện thủ tục rút
gọn đối với những vụ án đơn giản, phạm tội quả tang, chứng cứ rõ ràng, hậu quả ít
nghiêm trọng.
Trên tinh thần đó, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định thủ tục rút gọn
thành một chơng (Chơng XXXIV) gồm 7 điều, từ Điều 318 đến Điều 324 với những
nội dung sau đây:
- Về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn:
Thủ tục rút gọn đợc áp dụng đối với những vụ án khi có đủ các điều kiện nh : Ng-
ời thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang; sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ
ràng; tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng; ngời phạm tội có căn cớc, lai
lịch rõ ràng (Điều 319 BLTTHS).
- Về thời hạn tố tụng của thủ tục rút gọn:
Toàn bộ thời gian điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm không quá 30 ngày, trong đó
- Quy định về thời hiệu khiếu nại ( Điều 328 BLTTHS).
- Quy định về thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với những ngời có
thẩm quyền tiến hành TTHS ( Các điều 329, 330, 331, 332 BLTTHS).
- Quy định thời hạn giải quyết khiếu nại liên quan đến việc áp dụng biện pháp
bắt, tạm giữ, tạm giam (Điều 333 BLTTHS).
- Quy định thẩm quyền và thời hạn giải quyết tố cáo (Điều 337 BLTTHS).
- Quy định trách nhiệm của ngời có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo
(Điều 338 BLTTHS).
- Quy định về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại,
tố cáo.
H. Phần thứ tám: hợp tác quốc tế
Những năm gần đây trong điều kiện đất nớc mở cửa, hội nhập quốc tế ở nhiều
lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, tình hình tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia
với sự cấu kết giữa các băng nhóm tội phạm trong nớc và nớc ngoài diễn biến phức tạp.
Đã xuất hiện nhiều ngời Việt Nam phạm tội rồi bỏ trốn ra nớc ngoài, nhiều ngời nớc
ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam. Để phối hợp đấu tranh chống loại tội phạm này
có hiệu quả thì cần phải có những quy định về hợp tác quốc tế trong Bộ luật tố tụng
hình sự.
24
Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 cha quy định cụ thể về hợp tác quốc tế trong tố
tụng hình sự. Từ năm 1981 đến nay, nớc ta đã ký kết Hiệp định tơng trợ t pháp với một
số nớc, tham gia công ớc quốc tế của Liên hợp quốc về kiểm soát ma tuý. Lực lợng
Cảnh sát Việt Nam đã tham gia tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế và khu vực (Interpol,
Aseanapol). Để " tổ chức thực hiện tốt các công ớc quốc tế, hiệp định tơng trợ t pháp
và các hiệp định phòng chống tội phạm mà Nhà nớc ta đã ký kết hoặc gia nhập" nh
Nghị quyết số 08/NQ-TW của Bộ Chính trị đã xác định rõ, Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 đã bổ sung một phần mới về Hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự
(Phần thứ tám gồm 2 chơng với 7 điều luật trong đó quy định một số vấn đề mang tính
nguyên tắc, tạo cơ sở pháp lý cho việc hợp tác song phơng và đa phơng trong tố tụng
hình sự). Nội dung cụ thể đợc quy định từ Điều 340 đến 346 của Bộ luật tố tụng hình sự