Bộ T pháp
vụ pháp luật hình sự - hành chính
Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật
Đề cơng giới thiệu Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
I. Sự cần thiết sửa đổi, bổ sung một số điều của luật ban hành
văn bản quy phạm pháp luật:
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 là hình thức
văn bản có hiệu lực cao lần đầu tiên đợc ban hành tạo cơ sở xây dựng khuôn
khổ, hành lang pháp lý nhằm "đổi mới quy trình lập pháp, lập quy", đáp
ứng yêu cầu bức xúc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật làm cho đất
nớc ta trong thời kỳ đổi mới có đủ pháp luật để điều chỉnh các lĩnh vực của
đời sống xã hội theo đúng đờng lối, quan điểm của Đảng. Luật đợc ban
hành đã trực tiếp góp phần xác lập trật tự, kỷ cơng trong chính hoạt động
lập pháp, lập quy, đa công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật nói
chung và công tác lập pháp nói riêng vào nề nếp. Sau gần sáu năm thực hiện
Luật, công tác xây dựng pháp luật đã đạt đợc những thành tựu rất quan
trọng. Việc triển khai thực hiện Luật đã tạo sự chuyển biến về chất trong hệ
thống pháp luật nói chung và trong hoạt động xây dựng văn bản quy phạm
pháp luật nói riêng. Trong thời gian qua, các cơ quan nhà nớc đã ban hành
đợc một số lợng lớn các văn bản quy phạm pháp luật. Chất lợng văn bản
ngày càng đợc nâng cao. Nội dung các văn bản ngày càng phong phú, đa
dạng, bao quát đợc hầu hết các lĩnh vực cơ bản, quan trọng cần điều chỉnh
của đời sống xã hội.
Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện, các quy định của Luật đã bộc lộ
những mặt hạn chế cần đợc khắc phục kịp thời, đặc biệt là các quy định liên
quan đến quy trình xây dựng, thông qua dự án, dự thảo văn bản quy phạm
pháp luật.
Để nâng cao hiệu quả hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp
luật, bảo đảm tiến độ và chất lợng của các dự án, dự thảo, kịp thời đáp ứng
yêu cầu bảo đảm cho đất nớc có đủ luật trong điều kiện phát huy nội lực,
4) Thể hiện tinh thần cải cách hành chính, đổi mới quy trình lập pháp
và quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, nâng cao
hiệu quả công tác lập pháp của Quốc hội, công tác ban hành văn bản quy
phạm pháp luật của các cơ quan nhà nớc; xác định rõ quyền hạn, trách
nhiệm của các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ trong quá trình xây dựng
dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.
Trong quá trình xây dựng Dự án Luật, dới sự chỉ đạo của Chính phủ,
Bộ T pháp đã phối hợp chặt chẽ với Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ
tịch nớc, Uỷ ban Trung ơng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan, tổ
chức hữu quan tiến hành tổng kết, đánh giá việc thực hiện Luật ban hành
văn bản quy phạm pháp luật năm 1996.
2
Ngày 14 tháng 3 năm 2002 Chính phủ đã có Tờ trình Quốc hội số
258/PC-CP về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành
văn bản quy phạm pháp luật. Dự án Luật đã đợc Quốc hội Khoá X cho ý
kiến tại kỳ họp thứ 11 (tháng 3 năm 2002). Ngày 31 tháng 10 năm 2002,
Uỷ ban thờng vụ Quốc hội đã xem xét, cho ý kiến về Dự án Luật. Tiếp thu
ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội và Uỷ ban thờng vụ Quốc hội, Dự án
Luật đã tiếp tục đợc chỉnh lý và hoàn thiện thêm.
Ngày 12 tháng 11 năm 2002, Chính phủ có Tờ trình Quốc hội số 1438/
- CP - PC về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn
bản quy phạm pháp luật. Ngày 22 tháng 11 năm 2002, Quốc hội đã thảo luận
ở Tổ về dự án Luật này. Nhìn chung, các ý kiến rất phong phú, cụ thể, thể hiện
sự quan tâm và tinh thần trách nhiệm cao của các vị đại biểu Quốc hội đối với
việc đổi mới quy trình lập pháp, lập quy, nâng cao chất lợng hệ thống văn bản
quy phạm pháp luật, tăng cờng hiệu quả quản lý đất nớc bằng pháp luật.
Đại đa số ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội biểu thị sự đồng tình đối
với phạm vi sửa đổi, bổ sung của Luật nhằm dân chủ hoá quá trình xây dựng
văn bản quy phạm pháp luật, tăng cờng sự phối hợp giữa các cơ quan có liên
quan để nâng cao chất lợng dự án, dự thảo văn bản, tạo cơ chế để Quốc hội
sung, đó là:
- Điều 1 về khái niệm văn bản quy phạm pháp luật, quy định thêm
hình thức quyết định, chỉ thị, thông t của Chánh án Toà án nhân dân tối cao
và bỏ thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Thủ trởng cơ
quan thuộc Chính phủ.
- Điều 3 về vấn tham gia góp ý xây dựng văn bản quy phạm pháp
luật.
- Điều 9 về việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ, bãi bỏ hoặc đình
chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật.
- Bổ sung Điều 12a về giám sát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp
luật.
Tại Chơng II. (Cơ quan nhà nớc có thẩm quyền ban hành và hình
thức văn bản quy phạm pháp luật) có 1 điều đợc sửa đổi, bổ sung là Điều
17 bổ sung quy định về thẩm quyền ban hành và hình thức văn bản quy
phạm pháp luật của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trởng Viện
kiểm sát nhân dân.
Tại Chơng III . (Văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban
Thờng vụ Quốc hội) có 8 điều đợc sửa đổi, bổ sung, đó là:
- Điều 22 về lập chơng trình, thông qua chơng trình xây dựng luật,
pháp lệnh.
- Điều 25 về thành lập ban soạn thảo.
- Điều 26 về nhiệm vụ của ban soạn thảo dự án luật, dự án pháp lệnh,
dự thảo nghị quyết.
- Điều 28 về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, đại biểu
Quốc hội trình dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết.
4
- Điều 29a về thẩm định dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị
quyết.
- Điều 34a về trách nhiệm của Uỷ ban pháp luật Quốc hội bảo đảm
tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật đối với
Tại Chơng IX . (Giám sát, kiểm tra, kiểm sát và xử lý văn bản trái
pháp luật) có 5 điều đợc sửa đổi, bổ sung, đó là:
- Điều 80a về mục đích giám sát, kiểm tra.
- Điều 80b về nội dung giám sát, kiểm tra.
- Điều 82 về thẩm quyền giám sát, xử lý văn bản trái pháp luật của
Uỷ ban Thờng vụ Quốc hội.
- Điều 82a về thẩm quyền của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của
Quốc hội trong việc giám sát văn bản quy phạm pháp luật.
- Điều 83 về thẩm quyền kiểm tra, xử lý văn bản trái pháp luật của
Chính phủ.
Ngoài việc sửa đổi về mặt nội dung nh trên, Luật còn có một số sửa
đổi, bổ sung về mặt từ ngữ, kỹ thuật nh: bỏ cụm từ "cơ quan thuộc Chính
phủ" tại tên của Chơng V, tại các điều 18, 71, 72, 74 và Khoản 2 Điều 84;
bỏ cụm từ "Thủ trởng cơ quan thuộc Chính phủ" tại tên của Mục 1 và Mục
2 của Chơng V, tại các điều 16, 58, 66 và 84; thay cụm từ "phân bổ ngân
sách nhà nớc" bằng cụm từ "phân bổ ngân sách trung ơng" tại Khoản 2
Điều 20 và bãi bỏ khoản 2 Điều 27, khoản 3 Điều 29, Điều 31, khoản 3
Điều 32 và Điều 85; bổ sung cụm từ dự thảo nghị quyết vào sau các cụm
từ dự án luật, dự án pháp lệnh tại Điều 29; bỏ từ khảo sát tại tên của
Chơng IX.
2. Một số nội dung trọng tâm của Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
a. Đổi mới quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
nhằm dân chủ hoá hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật,
bảo đảm tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật:
- Nhằm dân chủ hoá hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật,
Luật quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc lấy ý kiến
cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp
luật, đặc biệt là việc lấy ý kiến các đối tợng chịu sự tác động trực tiếp của
văn bản (Điều 3, Khoản 4 Điều 26, Khoản 4 Điều 61). Luật ban hành văn
b. Sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm nâng cao trách nhiệm
cũng nh tăng cờng mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan nhà nớc
trong hoạt động soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
- Để bảo đảm tính khả thi của chơng trình, xây dựng Luật, pháp lệnh
từ giai đoạn lập chơng trình, thông qua chơng trình Luật quy định rõ hơn
trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội khi gửi đề nghị
xây dựng luật, pháp lệnh, ngoài việc phải nêu sự cần thiết ban hành văn
bản, đối tợng, phạm vi điều chỉnh của văn bản, các điều kiện bảo đảm cho
việc soạn thảo văn bản còn phải nêu rõ những quan điểm, nội dung chính
của văn bản, dự báo tác động kinh tế - xã hội và dự kiến nguồn lực bảo đảm
thi hành (Điều 22). Luật năm 1996 cha quy định: trong đề nghị xây dựng
luật, pháp lệnh gửi Uỷ ban Thờng vụ Quốc hội và Chính phủ phải dự báo đ-
ợc tác động kinh tế - xã hội, dự kiến nguồn lực đảm bảo thi hành và điều
kiện cho việc soạn thảo văn bản. Đây là vấn đề hết sức quan trọng, rất có
7
ý nghĩa trong việc bảo đảm tính khả thi thực tế của Chơng trình, tạo điều
kiện để Quốc hội xem xét quyết định về nội dung, thời điểm ban hành luật,
từ đó nâng cao vai trò điều chỉnh của luật, phát huy tác dụng tích cực của
nó trong việc phát triển kinh tế, xã hội.
- Các quy định của Luật đợc sửa đổi theo hớng phân công rõ quyền
hạn, trách nhiệm, tạo cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức
hữu quan trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Đặc biệt,
Luật xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan chủ trì soạn thảo dự
án luật với các cơ quan hữu quan, nhằm nâng cao chất lợng dự án luật trớc
khi trình Quốc hội.
- Tăng cờng khâu chuẩn bị để nâng cao chất lợng dự án, dự thảo đặc
biệt là nâng cao trách nhiệm của Ban soạn thảo trong quá trình soạn thảo dự
án, dự thảo. Luật sửa đổi theo hớng làm rõ thẩm quyền thành lập Ban soạn
thảo, thành phần, trách nhiệm của Ban soạn thảo, nhấn mạnh tính liên
ngành của Ban soạn thảo; thu hút sự tham gia của các chuyên gia, các nhà
của Quốc hội
Quốc hội xem xét, thông qua dự án luật tại một kỳ họp theo trình tự
sau đây:
1. Đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án thuyết
trình về dự án;
2. Đại diện cơ quan thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra;
3. Quốc hội thảo luận tại phiên họp toàn thể về những nội dung cơ
bản và những vấn đề lớn còn có ý kiến khác nhau của dự án luật. Trớc khi
thảo luận tại phiên họp toàn thể, dự án luật có thể đợc thảo luận ở Tổ hoặc
Đoàn đại biểu Quốc hội.
Trong quá trình thảo luận, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình
dự án luật đợc trình bày bổ sung về những vấn đề liên quan đến dự án.
Uỷ ban thờng vụ Quốc hội chỉ đạo Đoàn th ký kỳ họp tổng hợp ý kiến
của đại biểu Quốc hội.
Trong trờng hợp cần thiết, Quốc hội biểu quyết một số nội dung của
dự án để làm cơ sở cho việc chỉnh lý;
4. Uỷ ban thờng vụ Quốc hội chỉ đạo cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ
quan trình dự án, Uỷ ban pháp luật, Bộ T pháp và các cơ quan hữu quan
căn cứ vào ý kiến của đại biểu Quốc hội để chỉnh lý dự thảo luật.
Uỷ ban thờng vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội về việc tiếp thu, chỉnh
lý dự thảo luật;
9
5. Quốc hội nghe đọc dự thảo đã đợc chỉnh lý; thảo luận, biểu quyết
thông qua một số nội dung còn có ý kiến khác nhau và biểu quyết thông
qua dự thảo luật;
6. Dự thảo luật đợc thông qua khi có quá nửa tổng số đại biểu Quốc
hội biểu quyết tán thành. Chủ tịch Quốc hội ký chứng thực luật.
Trong trờng hợp dự thảo luật cha đợc thông qua hoặc mới đợc thông
qua một phần thì việc chỉnh lý và thông qua dự thảo luật đợc thực hiện theo
quy định tại khoản 2 và Khoản 3 Điều 45b của Luật này.
Trong trờng hợp dự án luật cha đợc thông qua hoặc mới đợc thông
qua một phần thì việc xem xét, thông qua tại kỳ họp tiếp theo do Quốc hội
quyết định theo đề nghị của Uỷ ban thờng vụ Quốc hội."
Nh vậy, theo tinh thần của Luật sửa đổi, các dự án luật sẽ đợc Quốc
hội thảo luận, thông qua nhiều nhất là tại hai kỳ họp. Với tinh thần đổi mới
quy trình thảo luận, thông qua luật nh trên, cùng với sự nỗ lực phối hợp của
các cơ quan trình dự án luật, ngay trong một kỳ họp, Quốc hội có thể thảo
luận, thông qua đợc khá nhiều dự án luật. Theo dự kiến, trong năm 2003,
các cơ quan, tổ chức sẽ trình Quốc hội thảo luận, thông qua 16 dự án luật và
cho ý kiến đối với nhiều dự án luật khác.
Cùng với các quy định nhằm đổi mới quy trình thông qua luật của
Quốc hội, Luật cũng sửa đổi, bổ sung Điều 47 về trình tự xem xét, thông
qua dự án pháp lệnh nhằm rút ngắn thời gian thảo luận, thông qua dự án
pháp lệnh.
d. Tăng cờng và xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan thẩm
định, thẩm tra, kiểm tra, giám sát văn bản quy phạm pháp luật nhằm
bảo đảm nâng cao chất lợng dự thảo, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp,
tính thống nhất của văn bản trớc và sau khi ban hành:
- Luật bổ sung Điều 29a để quy định rõ phạm vi thẩm định dự án
luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thờng vụ Quốc
hội; sửa đổi, bổ sung Điều 63 quy định về việc thẩm định dự thảo nghị
quyết, nghị định của Chính phủ và bổ sung Khoản 5 Điều 65 về việc thẩm
định dự thảo quyết định, chỉ thị của Thủ tớng Chính phủ.
- Phù hợp với quy định của Luật Tổ chức Quốc hội về trách nhiệm
của Uỷ ban pháp luật của Quốc hội bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính
thống nhất của hệ thống pháp luật đối với dự án luật, pháp lệnh trớc khi
trình Quốc hội, Uỷ ban thờng vụ Quốc hội, Luật bổ sung Điều 34a nhằm
11
xác định rõ trách nhiệm của Uỷ ban pháp luật của Quốc hội. Bên cạnh trách
nhiệm nh các Uỷ ban khác của Quốc hội trong công tác xây dựng pháp luật,
- Khẩn trơng ban hành hệ thống văn bản quy định chi tiết, hớng dẫn
thi hành: sửa đổi, bổ sung Nghị định 101/CP ngày 23 tháng 9 năm 1997
quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm
pháp luật, sửa đổi, bổ sung Quyết định 280/1999/QĐ-BTP của Bộ trởng Bộ
12
T pháp ban hành quy chế thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp
luật cũng nh ban hành mới, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp
luật khác có liên quan để phù hợp với các quy định của Luật, tạo điều kiện
thuận lợi cho việc thực hiện các quy định của Luật. Bên cạnh đó, các Bộ,
ngành căn cứ vào những nguyên tắc đã đợc Luật quy định để ban hành cơ
chế xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền
(quyết định, chỉ thị, thông t) cũng nh xây dựng các văn bản pháp luật đợc
Chính phủ và Quốc hội giao chuẩn bị.
- Tổ chức tập huấn, giới thiệu các quy định của Luật đến các cơ
quan, tổ chức và nhân dân: Đây là công việc quan trọng, thiết thực nhằm đa
các quy định của Luật đi vào cuộc sống, nâng cao ý thức, trách nhiệm của
từng ngời dân cũng nh các cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện các quy
định của Luật, tham gia tích cực và có hiệu quả vào việc xây dựng và hoàn
thiện hệ thống pháp luật, xây dựng và hoàn thiện Nhà nớc pháp quyền xã
hội chủ nghĩa.
- Củng cố tổ chức, lực lợng cán bộ, công chức tham gia xây dựng
văn bản:
Trớc mắt cũng nh lâu dài, song song với việc kiện toàn về mặt tổ
chức, tăng cờng vai trò, trách nhiệm của các cơ quan nhà nớc, cần bảo đảm
các yêu cầu về nhân lực cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp
luật. Cùng với việc bảo đảm đủ về số lợng, cần đẩy mạnh công tác đào tạo,
bồi dỡng nâng cao trình độ về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ,
chuyên viên làm công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Do vậy,
các cơ quan có thẩm quyền cần mở các lớp tập huấn, đào tạo chuyên sâu về
công tác xây dựng văn bản; tổ chức các hội nghị, tọa đàm, hội thảo khoa