MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính nhân sự 23
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam- chi nhánh Hà Thành 23
LỜI MỞ ĐẦU
Vốn là một yếu tố quan trọng để tiến hành bất cứ một hoạt động sản xuất
kinh doanh nào, được coi là “chìa khóa” đảm bảo tăng trưởng và phát triển của mọi
hình thái xã hội. Bằng việc huy động các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế, hoạt
động tín dụng của các tổ chức tín dụng đã góp phần không nhỏ trong việc thu hút
lượng vốn lớn đáp ứng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp, thực hiện tái đầu tư
thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế. Trong số các kênh huy động vốn, huy động vốn
qua các Ngân hàng thương mại có ý nghĩa hết sức quan trọng. Công tác huy động
vốn không chỉ mang ý nghĩa quyết định tới thắng lợi trong hoạt động kinh doanh
của bản thân Ngân hàng mà còn tác động và chi phối sự phát triển về mặt kinh tế xã
hội của đất nước. Bên cạnh những thành công đã đạt được, hệ thống các Ngân hàng
thương mại còn tồn tại nhiều hạn chế là nguồn vốn huy động có thời gian dài cho
đầu tư còn thiếu, bất cập trong công tác huy động trong khi hoạt động cho vay để
đầu tư thì tỉ lệ nợ quá hạn đang ở mức báo động, vốn cho vay bị sử dụng lãng phí…
Đứng trước yêu cầu của công cuộc đổi mới, bài toán về giải pháp tăng cường huy
động vốn ở các Ngân hàng thương mại nhằm bù đắp thiếu hụt vốn đầu tư là vấn đề
quan tâm hàng đầu trong hoạt động của các Ngân hàng thương mại. Trong thời gian
thực tập tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam – chi nhánh Hà Thành và xuất
phát từ thực tiễn trên, em đã chọn đề tài “Giải pháp tăng cường huy động vốn tại
Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam – chi nhánh Hà Thành” làm chuyên đề
tốt nghiệp.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu của chuyên đề được chia thành
ba chương:
Chương 1: Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam – chi nhánh Hà Thành
Chương 3: Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Đầu tư và Phát
Các loại hình của ngân hàng thương mại:
- NHTM nhà nước: là NHTM được thành lập bằng 100% vốn của nhà nước.
- NHTM cổ phần: là NHTM được hình thành dưới hình thức công ty cổ
phần.
- Chi nhánh NHTM nước ngoài: là ngân hàng được thành lập theo luật pháp
nước ngoài nhưng hoạt động theo luật pháp nước sở tại.
- Ngân hàng liên doanh: là ngân hàng được thành lập bằng vốn góp của bên
ngân hàng Việt Nam và bên ngân hàng nước ngoài có trụ sở ở Việt Nam.
Ngân hàng thương mại có vai trò và chức năng rất quan trọng đối với nền kinh
tế
1.1.1.1 Vai trò của Ngân hàng thương mại
1.1.1.1.1 Ngân hàng thương mại là nơi cấp vốn cho nền kinh tế
Các đơn vị kinh tế muốn phát triển về kinh tế cần phải có một lượng vốn đầu
tư nhất định cho hoạt động sản xuất kinh doanh và việc tập trung vốn nhàn rỗi ở
mọi nơi để kịp thời cung ứng cho nơi cần vốn là điều hết sức cần thiết và cũng hết
sức khó khăn. Bằng nguồn vốn huy động được trong xã hội thông qua hoạt động tín
dụng, các Ngân hàng thương mại đã cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế, đáp
ứng nhu cầu vốn kịp thời cho quá trinh sản xuất. Nhờ có hoạt động của hệ thống
các Ngân hàng thương mại và đặc biệt là hoạt động tín dụng, các doanh nghiệp và
cá nhân có điều kiện vay vốn để mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc và công nghệ
nhằm tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế và chất lượng sản phẩm xã
hội.
1.1.1.1.2 Ngân hàng thương mại là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền
kinh tế
5
Cùng với sự vận động của nền kinh tế, hệ thống Ngân hàng chia làm hai cấp là
Ngân hàng nhà nước và các Ngân hàng thương mại. Các Ngân hàng thương mại
được sử dụng như công cụ quản lý hoạt động tiền tệ và điều tiết chính sách tiền tệ
quốc gia của Nhà nước. Nhà nước điều tiết hoạt động của Ngân hàng, Ngân hàng
dẫn dắt thị trường thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các Ngân hàng
1.1.1.2 Chức năng của Ngân hàng thương mại
1.1.1.2.1 Chức năng tạo tiền cho nền kinh tế
Được thực hiện thông qua các hoạt động tín dụng và đầu tư của các ngân
hang thương mại trong mối quan hệ với ngân hàng trung ương. Tạo tiền là một
chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân hàng thương mại. Với mục
tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của
mình, các ngân hàng thương mại với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của
mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng tạo
tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của ngân hàng thương mại là chức
năng tín dụng và chức năng thanh toán.
1.1.1.2.2 Chức năng trung gian tài chính
Sử dụng đồng vốn tạm thời nhàn rỗi một cách hiệu quả và tài trợ vốn cho các
hoạt động khác nhau trong nền kinh tế hay nói cách khác ngân hàng thương mại
làm cầu nối giữa người thừa vốn và người thiếu vốn. Đây là chức năng quan trọng
nhất, nó quyết định sự duy trì và phát triển của ngân hàng và là cơ sở để thực hiện
các chức năng khác.
1.1.1.2.3 Chức năng thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán
7
Ngân hàng đứng ra thanh toán hộ khách hàng bằng cách chuyển tiền từ tài
khoản này sang tài khoản khác theo yêu cầu của họ. Khi nền kinh tế càng phát triển
thì chức năng này càng được mở rộng.
1.1.2 Những hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn
Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ, nguồn vốn hoạt động là
rất lớn song chủ yếu là được bổ sung từ bên ngoài và ngân hàng có thể thực hiện
nghiệp vụ này với tất cả các khu vực của nền kinh tế. Nguồn vốn được huy động
dưới các dạng như:
* Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các giấy tờ có giá khác
* Vay vốn từ các tổ chức tín dụng khác
* Vay vốn ngắn hạn của NHNN dưới hình thức tái cấp vốn
* Vốn góp của chủ sở hữu để thành lập hay mở rộng hoạt động của doanh
nghiệp
* Nguồn từ lợi nhuận: trong điều kiện thu nhập ròng lớn hơn không, ngân
hàng có xu hướng tăng vốn bằng cách chuyển một phần thu nhập ròng thành vốn
đầu tư.
* Các quỹ được hình thành trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân
hàng theo cơ chế tài chính hoặc quyết định của chủ sở hữu vốn, bao gồm quỹ dự
phòng tổn thất, quỹ đầu tư phát triển, quỹ bảo toàn vốn, quỹ thặng dư,…
* Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần
9
Nguồn vốn chủ sở hữu thường chiếm một tỉ lệ rất nhỏ trong tổng nguồn vốn
của ngân hàng( khoảng dưới 10%), như chúng ta đã biết một ngân hàng muốn thành
lập phải có đủ vốn ban đầu nhất định do ngân hàng nhà nước quy định. Nguồn vốn
này thực hiện chức năng thành lập, bảo vệ và điều chỉnh đối với hoạt động của ngân
hàng. Theo quy định của ngân hàng trung ương thì vốn chủ sở hữu của ngân hàng
lớn hơn hoặc bằng 8% trên tổng tài sản rủi ro quy đổi, do vậy chức năng chủ yếu
của khối lượng giới hạn vốn chủ sử hữu được xem như tài sản bảo vệ cho khách
hàng gửi tiền. Chức năng bảo vệ không chỉ được xem như tài sản bảo vệc cho
khách hàng gửi tiền khi ngân hàng vỡ nợ mà còn duy trì khả năng trả nợ bằng cách
cung cấp một khoản tài sản có dự trữ giúp ngân hàng khỏi bị đe dọa bởi sự thua lỗ.
Ngoài ra, dựa trên mức vốn chủ sở hữu của ngân hàng, các cơ quan quản lý sẽ xác
định và điều chỉnh hoạt động cho ngân hàng.
1.2.1.2 Vốn nợ
Đây là nguồn vốn chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng vốn của ngân hàng. Nó
là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và các
cá nhân trong xã hội thông qua các nghiệp vụ của ngân hàng. Bản chất vốn nợ là tài
sản thuộc chủ sở hữu khác nhau, ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có
quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả đúng hạn cả gốc lẫn lãi khi đến kỳ hạn
(nếu là tiền gửi có kỳ hạn) hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút vốn (nếu là tiền gửi
không kỳ hạn).
để tăng nguồn tiền này cả về số lượng và chất lượng, các ngân hàng đã thực hiện
nhiều hình thức huy động khác nhau
1.2.2.1.1 Tiền gửi không kỳ hạn
11
Là loại tiền gửi khách hàng gửi vào ngân hàng mà không có thỏa thuận trước
về thời gian rút tiền. Nhìn chung lãi suất của khoản tiền này là rất thấp hoặc bằng
không bởi tiền gửi không kỳ hạn có tính biến động, khách hàng có thể rút ra bất cứ
lúc nào do vậy ngân hàng không chủ động sử dụng số vốn này, và ngân hàng phải
dự trữ một số tiền để đảm bảo có thể thanh toán ngay khi khách hàng có nhu cầu.
Tiền gửi không kỳ hạn bao gồm 2 loại:
Tiền gửi thanh toán: Đây là tiền của khách hàng gửi vào ngân hàng để nhờ
ngân hàng giữ và thanh toán hộ về tiền mua hàng hóa, dịch vụ và các khoản thanh
toán khác phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của khách hàng. Đứng
trên góc độ là khách hàng thì đây là tiền khách hàng gửi vào ngân hàng để sử dụng
các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt: Séc, thẻ thanh toán, ủy nhiệm chi…
Khách hàng có quyền rút ra bất kỳ lúc nào thông qua công cụ thanh toán. Đứng trên
góc độ ngân hàng thì ngân hàng coi đây là một khoản tiền mà họ phải có trách
nhiệm hoàn trả cho khách hàng bất kỳ lúc nào, tuy nhiên ngân hàng cần tận dụng
loại tiền gửi này làm vốn kinh doanh của mình bởi trong quá trình lưu chuyển vốn
của ngân hàng do có sự chênh lệch giữa các khoản tiền gửi vào và rút ra giữa các
tài khoản của khách hàng.
Tiền gửi không kỳ hạn thuần túy: Đây là loại tiền gửi khách hàng gửi vào
ngân hàng nhằm đảm bảo an toàn về tài sản. Tiền gửi không kỳ hạn thuần túy cũng
là tài sản của người ký thác, họ có quyền rút bất kỳ lúc nào, ngân hàng luôn phải
đảm bảo có thể thanh toán, lãi suất tiền gửi không kỳ hạn thuần túy cao hơn lãi suất
tiền gửi thanh toán.Mục đích của người gửi tiền là bảo đảm an toàn, khách hang
không xác định được thời gian nhàn rỗi đối với số tiền của họ và không có nhu cầu
sử dụng tiền gửi thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng.
1.2.2.1.2. Tiền gửi có kỳ hạn
12
tiền gửi, một số NHTM vẫn cho phép khách hàng rút tiền trước hạn. Tuy
nhiên,nhằm tránh việc khách hàng rút tiền trước hạn, một phần trong tiền lãi mà
khách hàng được hưởng đã bị khấu trừ.
Do nguồn vốn huy động từ loại tiền gửi này mang tính ổn định cho nên các
NHTM thường đưa ra nhiều loại kì hạn khác nhau như loại 3 tháng, 6 tháng, 12
tháng, 24 tháng…nhằm thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn với lãi suất của các kì
hạn khác nhau. Thông thường kỳ hạn càng dài thì lãi suất huy động càng cao.
* Tiết kiệm dài hạn: Đây là loại tiền gửi có tính ổn định cao bởi thời gian gửi
tiền từ một năm trở lên do vậy ngân hàng có thể chủ động sử dụng nguồn vốn này
cho mục đích vốn dài hạn. Lãi suất trả cho loại tiền gửi tiết kiệm dài hạn này cao
hơn so với 2 loại trên.
1.2.2.2 Huy động vốn bằng phát hành các giấy tờ có giá
Giấy tờ có giá dùng để huy động vốn trong ngân hàng thực chất là các giấy nợ
mà ngân hàng trao cho những người cho ngân hàng vay tiền xác nhận quyền đòi nợ
của khách hàng đối với ngân hàng ở một mức lãi suất và ngày hoàn trả nhất định.
Việc phát hành giấy tờ có giá nhằm hình thành nguồn vốn sử dụng có tính ổn
định cao, và giải quyết những khoản vốn thiếu hụt có tính tình thế do khả năng thu
hút bằng nguồn tiết kiệm hạn chế.
1.2.2.2.1 Phát hành trái phiếu
Là một cam kết xác nhận nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi của ngân hanf phat hành
đối với người chủ sở hữu trái phiếu. Mục đích của ngân hàng khi phát hành tài
phiếu là huy động vốn trung và dài hạn. Các ngân hàng thương mại chịu sự quản lý
của Ngân hàn Trung Ương, các cơ quan quản lý trên thị trường chứng khoán khi
phát hành trái phiếu.
14
1.2.2.2.2 Phát hành kỳ phiếu
Kỳ phiếu là loại giấy tờ có giá ngắn hạn ( < 1 năm). Nó được sử dụng cho
mục đích vay vốn ngắn hạn của ngân hàng.
1.2.2.2.3 Phát hành chứng chỉ tiền gửi
Là những giấy tờ xác nhận tiền gửi định kỳ ở một ngân hàng, người sở hữu
mại với Ngân hàng Trung Ương nhằm mục đích phát hành thêm tiền theo kế hoạch,
bổ sung khối lượng vốn khả dụng cho Ngân hàng thương mại một cách thường
xuyên và là cứu cánh cho vay cuối cùng nhằm cứu nguy cho các Ngân hàng thương
mại khi cần thiết, nếu sự đổ vỡ của các Ngân hàng thương mại có thể gây ảnh
hưởng đến sự ăn toàn của hệ thống Ngân hàng.
1.3 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.3.1 Nhân tố chủ quan
Đây là nhóm nhân tố bên trong nằm trong sự kiểm soát của Ngân hàng thương
mại, chiến lược với nhóm nhân tố này là xác định và phát huy những điểm mạnh,
đồng thời khắc phục những điểm yếu. Nhóm nhân tố này bao gồm:
* Các hình thức huy động vốn: Đây là một trong những nhân tố quan trọng
ảnh hưởng đến huy động vốn của Ngân hàng. Hình thức huy động vốn càng phong
phú thì khả năng đáp ứng nhu cầu tiền gửi của dân cư sẽ tăng lên.
16
* Chính sách lãi suất cạnh tranh: Lãi suất là nhân tố khiến hành vi gửi tiền của
khách hàng, hay từ gửi từ ngân hàng này sang ngân hàng khác hoặc chuyển từ tiết
kiệm sang đầu tư.
* Chính sách khách hàng: Nếu ngân hàng có chính sách đối với khách hàng
tốt thì khách hàng sẽ gửi tiền vào ngân hàng càng nhiều và ngược lại.
* Công tác cân đối giữa huy động và cho vay: Nếu chiến lược sử dụng vốn
đúng đắn và hiệu quả thì ngân hàng sẽ tăng cường huy động vốn và ngược lại.
* Công nghệ ngân hàng và các chính sách quảng cáo: Không thể phủ nhận vai
trò của công nghệ và quảng cáo tới khả năng huy động vốn của ngân hàng. Công
nghệ không ngừng được cải tiến sẽ ngày một đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách
hàng.
1.3.2 Nhân tố khách quan
* Môi trường pháp lý: Môi trường pháp lý ổn định sẽ là cơ sở pháp lý cho
hoạt động của ngân hàng được đảm bảo thì người dân sẽ an tâm gửi tiền vào ngân
hàng.
triển Việt Nam, sau gần tám năm hoạt động, Chi nhánh Hà thành đã không ngừng
phấn đấu, tìm tòi sáng tạo phát triển theo định hướng mới: tập trung phục vụ khối
doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp tư nhân và khách hàng cá nhân, cung ứng
dịch vụ ngân hàng bán lẻ cho các tầng lớp dân cư trên địa bàn, đồng thời chủ động
đề xuất phát triển các sản phẩm dịch vụ mới phù hợp với xu thế thị trường như
tham gia đầu tư góp vốn vào các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá hoạt động
trong lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế, kinh doanh có hiệu quả; đa dạng hoá các
sản phẩm phục vụ thị trường chứng khoán: thực hiện tốt chức năng ngân hàng chỉ
định thanh toán của Trung tâm giao dịch Chứng khoán Hà nội, phát triển sản phẩm
mua bán kỳ hạn trái phiếu với các định chế tài chính… Hoạt động của Chi nhánh
Hà thành đã có bước phát triển vượt bậc, tăng nhanh về quy mô, tốc độ, thị phần
mở rộng, đa dạng sản phẩm dịch vụ ngân hàng với chất lượng cao, kinh doanh có
hiệu quả.
2.1.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của BIDV- chi nhánh Hà Thành
- Huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư, các đơn vị, tổ chức kinh tế và các
nguồn vốn khác
- Thực hiện chức năng Ngân hàng chỉ định thanh toán chứng khoán tại Trung
tâm Giao dịch Chứng khoán Hà nội.
- Cho vay trung hạn đối với các tổ chức kinh tế thuộc đối tượng quản lý và
phục vụ có nhu cầu vay vốn để cải tạo, đổi mới trang thiết bị và mở rộng sản xuất
- Thực hiện kinh doanh ngoại tệ theo quyết định của Tổng giám đốc
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng giám đốc giao cho
19
- Thực hiện chế độ kế hoạch hoá, thông tin, thống kê, kế toán tài chính theo
quy định chung đối với các chi nhánh
2.1.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động tại BIDV- chi nhánh Hà Thành
Khi mới thành lập Chi nhánh Hà thành gặp không ít khó khăn do lực lượng
cán bộ và mạng lưới còn mỏng, số lượng phòng nghiệp vụ còn hạn chế với 05
Phòng và 03 tổ nghiệp vụ, 01 Phòng giao dịch, 01 Điểm Giao dịch và 01 Quỹ Tiết
kiệm với tổng số 55 cán bộ. Qua 08 năm hoạt động, Chi nhánh Hà Thành đã thực
sát, đánh giá, xếp hạng chất lượng khách hàng, xếp loại rủi ro tín dụng. Định kỳ,
kiểm soát phòng tín dụng trong việc giải ngân vốn vay và theo dõi tổng hợp hoạt
động Tín dụng, đầu mối tổng hợp, thực hiện các báo cáo tín dụng
* Phòng dịch vụ khách hàng doanh nghiệp: Chịu trách nhiệm xử lý các giao
dịch đối với khách hàng là các doanh nghiệp, tổ chức khác như thực hiện việc giải
ngân vốn vay trên cơ sở hồ sơ giải ngân được duyệt. Mở tài khoản tiền gửi và xử lý
các yêu cầu về tài khoản hiện tại và tài khoản mới. Thực hiện các giao dịch nhận và
rút tiền gửi bằng nội, ngoại tệ, tiếp nhận các thông tin phản hồi, duy trì và kiểm soát
các giao dịch và thực hiện công tác tiếp thị sản phẩm, dịch vụ đối với khách hàng
* Phòng dịch vụ khách hàng cá nhân: Chịu trách nhiệm xử lý các giao dịch
đối với khách hàng là cá nhân như thực hiện việc giải ngân vốn vay trên cơ sở hồ sơ
giải ngân được duyệt. Thực hiện các giao dịch thanh toán, chuyển tiền, bán thẻ
ATM, thẻ tín dụng cho khách hàng
* Khối quan hệ khách hàng: gồm 4 phòng quan hệ khách hàng
21
Thiết lập, duy trì và mở rộng mối quan hệ với khách hàng. Nhận hồ sơ, kiểm
tra tính đầy đủ và hợp pháp của hồ sơ chuyển đến các phòng ban, phòng liên quan
để thực hiện theo chức năng. Phân tích khách hàng cho vay, đánh giá tài sản đảm
bảo nợ vay. Quyết định hạn mức cho vay, bảo lãnh, tài trợ thương mại. Thực hiện
cho vay, thu nợ, xử lý gia hạn nợ, đôn đốc khách hàng trả nợ đúng hạn, chuyển nợ
quá hạn, thực hiện các biện pháp thu nợ. Cung cấp các thông tin liên quan đến hoạt
động tín dụng cho phòng thẩm định và quản lý tín dụng, tham gia xây dựng chính
sách tín dụng. Chuẩn bị các số liệu thống kê, các báo cáo về các khoản cho vay
phục vụ cho mục đích quản lý nội bộ và các cơ quản nhà nước có thẩm quyền.
Phòng QHKH1: cấp tín dụng đối với doanh nghiệp lớn, tập đoàn, tổng công ty
Phòng QHKH2: cấp tín dụng cá nhân, dịch vụ ngân hàng bán lẻ
Phòng QHKH3: cấp tín dụng đối với DN NVV
Phòng QHKH5: cấp tín dụng đối với DN XNK, nghiệp vụ thanh toán quốc tế.
* Phòng điện toán: Quản lý mạng, quản trị, kiểm soát hệ thống phân quyền truy
cập theo quy định của Giám đốc, quản lý hệ thống máy móc, thiết bị tin học đảm
Chỉ tiêu
Năm
2008 2009 2010 T6/2011
1 Tổng tài sản
5660,902 6738,686 9241,847 10200,428
2 Huy động vốn 5505,315 6476,026 8898,803 9896,374
GIÁM ĐỐC
PHÓ
GIÁM ĐỐC
PHÓ
GIÁM ĐỐC
CÁC PHÒNG GIAO DỊCH
• PGD CHỨNG KHOÁN
• PGD BÁCH KHOA
• PGD LÊ ĐẠI HÀNH, SỐ 10,
•
• P.TIỀN TỆ
KHO QUỸ
• P.TỔ CHỨC
HÀNH CHÍNH
• P.ĐIỆN TOÁN
• P QHKH5
(BP.THANH TOÁN
QUÔC TẾ)
• P.DVỤ KHÁCH
HÀNG
• CÁC PHÒNG
QHKH
• P.KẾ HOẠCH –
NGUỒN VỐN