Điều tra thành phần, sự đa dạng sinh học của các loài côn trùng gây hại và thiên địch của chúng trên cây đậu tương và nghiên cứu các đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của loài sâu róm 4 gù Dasichira spp - Pdf 26

Khóa luận tốt nghiệp Trịnh Văn Dũng
Lời cảm ơn
Trước hết tôi xin trân thành cảm ơn TS. Nguyễn Xuân Thành – Viện
Sinh Thái và Tài Nguyên Sinh Vật. Người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn về
mọi mặt trong quá trình nghiên cứu để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ của Trung Tâm Đậu Đỗ của Viện
Khoa Học Nông Nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện tốt cho chúng tôi trong
quá trình điều tra tại khu ruộng thí nghiệm của trung tâm.
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô, cán bộ
Khoa Công Nghệ Sinh Học - Viện Đại Học Mở Hà Nội đã tận tình chỉ bảo,
tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập suốt 4 năm học vừa qua, cũng như
trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các cô các bác nông dân tại thôn
Khuyến Lương –Trần Phú – Hà nội và Thôn Ninh Sở – Thường Tín –Hà Nội
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi điều tra tại thực địa .
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, Tháng 4 năm 2012
Sinh viên

Trịnh Văn Dũng
Viện Đại Học Mở Hà Nội Khoa Công Nghệ Sinh Học
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh Văn Dũng
MỤC LỤC
Viện Đại Học Mở Hà Nội Khoa Công Nghệ Sinh Học
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh Văn Dũng
MỞ ĐẦU
1. Đặt Vấn Đề.
Dân số thế giới hiện tại đã đạt ngưỡng 7 tỉ người (năm 2011), thế giới
loài người chúng ta cần một lượng lương thực vô cùng to lớn để đáp ứng nhu

Tại Việt Nam đất nước mà có gần 70% dân số làm nông nghiệp. Nông
nghiệp vẫn còn chiếm tỉ trọng rất cao trong cơ cấu GDP. Thì việc phòng trừ
sâu bệnh trên đồng ruộng nói chung và trên các cây công nghiệp quan trọng
điển hình như cây đậu tương diễn ra thường xuyên. Biện pháp thường được
sử dụng rộng rãi là phun thuốc trừ sâu hóa học, số lần phun thuốc trừ sâu
bệnh là từ 1 – 2 lần/vụ đến 3 – 6 lần/vụ. Bên cạnh những ưu điểm của mình
như là hiệu quả nhanh, kịp thời, hiệu quả trên phạm vi rộng, tác dụng với
nhiều loại sâu, bệnh trên cây trồng và có thể áp dụng bất kỳ mọi nơi, mọi điều
kiện, thì biện pháp hóa học có rất nhiều nhược điểm điển hình như là: nó gây
ô nhiễm môi trường trên diện rộng, để lại một dư lượng thuốc đáng kể trong
sản phẩm làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, tồn dư thuốc trong đất
trong nước… Mặt khác do việc lạm dụng thuốc trừ sâu hóa học sử dụng liên
tục, nhiều lần với nồng độ cao làm cho sâu hại quen thuốc dẫn đến tính kháng
thuốc làm xuất hiện dịch hại mới trên cây trồng gây hại với mức độ nặng hơn
và quan trọng là khó phòng trừ tiêu diệt nó hơn . Ngoài ra chính việc sử dụng
thuốc trừ sâu không đúng chỗ , không đúng cách , không đúng liều lượng đã
làm ảnh hưởng rất lớn đến cân bằng sinh thái , làm mất cân bằng sinh thái ,
làm giảm sút rõ rệt tính đa dạng của các quần thể có ích như kiến vàng , bọ
rùa đỏ, nhện có ích …
Một câu hỏi đặt ra cho chúng ta là làm sao và phải làm như thế nào để
có thể khắc phục những nhược điểm của việc sử dụng thuốc hóa học ?
Vậy để khắc phục những nhược điểm đó ta cần phải có những biện pháp
phòng trừ sâu bệnh khác như là : Biện pháp thủ công , biện pháp canh tác, sử
Viện Đại Học Mở Hà Nội Khoa Công Nghệ Sinh Học
2
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh Văn Dũng
dụng thuốc trừ sâu sinh học thân thiện với môi trường, áp dụng các biện pháp
thay đổi chủng loại thuốc cho từng loại đối tượng dịch hại ở mỗi vùng, mỗi
khu vực sinh thái khác nhau điều đó giúp làm giảm khả năng kháng thuốc của
dịch hại cũng như khả năng quen thuốc của sâu. Hiện nay biện pháp phòng

• Điều tra thực địa thu thập mẫu vật, xác định thành phần, số lượng các
loài côn trùng gây hại và các loài thiên địch của chúng trên sinh quần đậu
tương ở Hà Nội và các vùng phụ cận.
• Bước đầu tìm hiểu về những đặc tính sinh học sinh thái của loài sâu
róm 4 gù
• Bước đầu tìm hiểu đặc tính các pha phát triển của các loài côn trùng
gây hại.
3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI.
Việc điều tra thành phần loài côn trùng gây hại và thiên địch của chúng
trên sinh quần đậu tương có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc bảo vệ cây
trồng mà vẫn đảm bảo yếu tố sinh thái được cân bằng.
Trên cơ sở điều tra thành phần, mật độ sau hại và thiên địch trên sinh
quần lạc và đậu tương ở Hà Nội và các vùng phụ cận. Theo dõi giám sát sự
biến động mật độ quần thể các loài có hại và các loài thiên địch của chúng
nhằm để suất các biện pháp bảo vệ các loài có ích, đồng thời đưa ra khuyến
cáo cho thời vụ hợp lý nhất.
Từ nghiên cứu đặc tính sinh học sinh thái của loài sâu róm 4 gù
Dasichira spp. nhằm cung cấp các dữ liệu khoa học cho việc phòng trừ
chúng đem lại hiệu quả kinh tế cao đồng thời góp phần bảo về môi trường
hướng tới phát triển bền vững vì tương lai sự tồn vong của loài người.

Viện Đại Học Mở Hà Nội Khoa Công Nghệ Sinh Học
4
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh Văn Dũng
PHẦN I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Tình Hình Nghiên Cứu Côn Trùng Gây Hại Trên Cây Đậu
Tương Trong Và Ngoài Nước.
Đậu tương là một loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, theo một số
tài liệu cho rằng đậu tương có nguồn gốc từ Đông Nam Châu Á, nhưng hiện

Tại Thai Lan có hơn 30 loài sâu hại tìm thấy trên đồng ruộng đậu
tương, trong đó có hơn 10 loài gây hại chính làm giảm năng suất là: dòi đục
thân, sâu đục lá, rệp đầu xanh, sâu xám, sâu xanh, mối và sâu cuốn lá [47].
1.1.2. Tình hình nghiên cứu côn trùng gây hại trên cây đậu tương
ở trong nước.
Ở Việt Nam, theo kết quả điều tra côn trùng cơ bản năm 1967-1968
của Viện Bảo Vệ Thực Vật trên cây đậu tương đã thống kê 88 loài sâu hại,
với 43 loài thường xuyên xuất hiện và trên 10 loài [chiếm 12,5] hại chính
[40].
Theo Nguyễn Văn Cảm và cộng sự (1979) thì ở các tỉnh phía nam, trên
đậu tương có khoảng 195 loài côn trùng. Gây hại có 85 loài, trong đó có 3 loài
hại gốc dễ, 4 loài đục thân và quả, 54 loài ăn lá và 24 loài chích hút [22].
Cũng theo Trần Đình Chiến & Đặng Thị Dung nghiên cứu sự đa dạng
dạng thành phần sâu hại trên đậu tương năm 1996 – 1999 ở hà nội và vùng
phụ cận đã thu được kết quả: 69 loài thuộc 7 bộ, 28 họ côn trùng khác nhau.
Bộ có số loài phổ biến và phong phú nhất là bộ cánh vảy (Lepidoptera ). Sau
đó đến bộ cánh nửa ( Hemiptera ) và bộ cánh cứng ( coleoptera). Các họ có
số loài phong phú là họ ngài sang (Pyralidae), họ ngài đêm (Noctuidae), họ
ngài độc (Lymantridae), họ châu chấu (Acrididae), họ bọ xít 5 đốt râu
(Pentatomidae) và họ ánh kim (Chrysomelidae). Trong số 69 loài sâu hại thu
Viện Đại Học Mở Hà Nội Khoa Công Nghệ Sinh Học
6
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh Văn Dũng
được trên đậu tương có 7 loài được xác định là các loài sâu hại chủ yếu. Đó là
dòi đục thân (Melanagromyza sojae Zehnter). sâu cuốn lá (Hedylepta
indicata Fabr), sâu đục quả (Maruca testulalis Geyer), sâu khoang
(Spodoptera litura Fabr), bọ xít xanh (Nezarra ciridula). Bọ xít vai đỏ
(Piezodorus hybueri) và rệp muội đậu tương (Aphis glycines Matsumura).[]
Theo kết quả nghiên cứu của Bùi Văn Duy, Phan Thanh Nam (1996)
trong 1 vụ đậu tương ở Hà Nội và các tỉnh phụ cận , đã thu được 29 loài sâu

1.2.1. Tình hình nghiên cứu thiên địch của côn trùng gây hại đậu
tương ở nước ngoài.
Song song tồn tại với những loài côn trùng gây hại cây trồng nói chung
và cây hại đậu tương nói riêng là những loài thiên địch tiêu diệt sâu. Những
loài thiên địch này là những mắt xích quan trọng trong chuỗi thức ăn của hệ
sinh thái sinh quần đậu tương, chúng luôn luôn tồn tại trên đồng ruộng và có
vai trò rất to lớn là điều hòa mật độ, kìm hãm sự phát sinh côn trùng gây hại
thành dịch của sâu rất hữu hiệu. Khi số lượng của các loài thiên địch được
nhân lên đúng mức có thể chúng ta không bao giờ phải sử dụng đến thuốc trừ
sâu do chúng tấn công tiêu diệt hầu hết các loại công trùng gây hại nông lâm
nghiệp. Chúng được chia thành 3 nhóm chính: Nhóm thiên địch ký sinh (ong
ký sinh, ruồi ký sinh…) đây là hình thức của sinh vật sống bên trên hoặc
trong cơ thể sinh vật khác, ở đây chúng lấy thức ăn từ vật chủ trong suốt quá
trình phát triển hay là trong một giai đoạn phát triển gắn bó với vật chủ.
Nhóm thứ hai là nhóm bắt mồi ăn thịt như: kiến vàng, bọ xít ăn thịt, bọ rùa ăn
thịt, bọ cánh cứng, bọ ngựa…, đây là những côn trùng săn bắt, cắn xé và ăn
thịt các loài côn trùng gây hại ở nhiều giai đoạn sinh trưởng. Nhóm thứ 3 là
nhóm tuyến trùng và vi sinh vật gây bệnh.
Tuy nhiên những loài thiên địch này cũng khá nhạy cảm với các loại
thuốc trừ sâu. Chúng có tốc độ phát triển chậm hơn sâu bệnh, nên việc sử
Viện Đại Học Mở Hà Nội Khoa Công Nghệ Sinh Học
8
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh Văn Dũng
dụng thuốc trừ sâu tràn lan như hiện nay có ảnh hưởng lớn tới các loài sinh
vật này và ảnh hưởng tới sự cân bằng sinh thái gây ô nhiễm môi trường. Do
đó có rất nhiều nhà khoa học ở trên thế giới cũng như Việt Nam đã nghiên
cứu thống kê số lượng, thành phần, đặc tính sinh học sinh thái của những loài
này nhằm bảo vệ chúng và bước đầu thực hiện việc nuôi nhân số lượng của
chúng. Sau đây tôi xin giới thiệu một số công trình đó:
Theo B.M Shepard & cộng sự trong các loài thiên địch của sâu hại trên

tương ở trong nước.
Tại Việt Nam cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu về các loài thiên
địch của sâu hại đậu tương như Hà Quang Hùng (1988) nghiên cứu thành
phần ong ký sinh ruồi đục thân đậu tương ở vùng Gia Lâm – Hà Nội đã thu
được 7 loài trong đó có 6 loài ký sinh pha nhộng và 1 loài ký sinh pha sâu
non. Đồng thời tác giả còn nghiên cứu về mối quan hệ giữa giai đoạn sinh
trưởng của cây đậu tương và tỷ lệ ruồi ký sinh [15].
Cùng năm đó, theo Lương Minh Khôi, Trần Huy Thọ (1988) nghiên
cứu về sâu cuốn là cho biết: Ong ký sinh cuốn lá đậu tương gồm 6 loài trong
đó có 5 loài ký sinh bậc 1 chủ yếu là họ Braconidae và Ichneumonidae, và 1
loài ký sinh bậc 2 [10].
Phạm Văn Lầm (1993) cho biết quá trình điều tra thu thập kẻ thù tự
nhiên của sâu hại đậu tương từ năm 1982 – 1992 đã thu được 64 loài thiên
địch của sâu hại đậu tương. Chúng thuộc 4 bộ côn trùng. Các loài thiên địch
thu thập được tập chung chủ yếu ở bộ cánh màng 40 loài (chiếm 62,5% tổng
số loài thu được), bộ cánh cứng chiếm 14 loài (chiếm 21,9% tổng số loài), bộ
cánh nửa 7 loài (chiếm 10,9% tổng số loài), bộ 2 cánh 3 loài (chiếm 4,7%).
Các loài thiên địch đã thu thập được gồm 22 loài côn trùng bắt mồi ( chiếm
34,4% tổng số loài ), 33 loài ký sinh bậc 1 (chiếm 51,6% tổng số ), 7 loài ký
sinh bậc 2 ( chiếm 10,9%), 1 loài vừa là ký sinh bậc 1 vừa là ký sinh bậc 2 và
Viện Đại Học Mở Hà Nội Khoa Công Nghệ Sinh Học
10
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh Văn Dũng
1 loài ký sinh trên côn trùng bắt mồi. Trong đó mới chỉ xác định được tên
khoa học của 58 loài gồm: 6 loài là ký sinh trứng, 15 loài là ký sinh sâu non
và 6 loài ký sinh nhộng sâu hại. Tuy số lượng loài thiên địch đã được phát
hiện là 64 loài, nhưng chỉ có 20 loài phổ biến [18].
Kết quả nghiên cứu của Vũ Quang Côn và cộng sự ( 1996) cho thấy
thành phần côn trùng ký sinh trên cây đậu tương ở phía bắc Việt Nam rất
phong phú 42 loài. Trong đó có 39 loài thuộc bộ cánh màng, 3 loài thuộc bộ

nhện nhảy Bianor hotingchiehi [22].
Qua các công trình nghiên cứu của các tác giả cho chúng ta nhìn thấy
khá toàn diện sự phong phú cũng như sự hữu ích của các loài thiên địch của
sâu hại đâu tương , nó có vai trò rất quan trọng trong việc kìm hãm và khống
chế sô lượng các loài sâu hại. Do đó cần có biện pháp bảo vệ và khích lệ sự
hoạt động của chúng trên đồng ruộng.
Viện Đại Học Mở Hà Nội Khoa Công Nghệ Sinh Học
12
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh Văn Dũng
PHẦN II: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 . Đối tượng và nội dung nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu: Sự đa dạng về côn trùng trên cây tương
và đặc điểm sinh thái, sinh học loài sâu róm 4 gù Dasichira spp.
2.1.2. Nội dung nghiên cứu:
a- Điều tra nghiên cứu sự đa dạng về thành phần loài và sự phân bố của
loài theo không gian và theo ký chủ (Cây đậu tương)
b- Điều tra nghiên cứu sự biến động số lượng của loài gây hại cây đậu
tương
c. Nghiên cứu hình thái, sinh học, sinh thái của loài sâu róm 4 gù
Dasichira spp.
d. Nghiên cứu thành phần các loài thiên địch (Ký sinh, ăn thịt, vi sinh
vật) của loài gây hại đang nghiên cứu, hoặc ngược lại nghiên cứu ký chủ của
các loài thiên địch (Ký sinh, ăn thịt, vi sinh vật) – mục đích xác định mạng
lưới thức ăn.
2.2 . Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu .
2.2.1. Vật liệu nghiên cứu
a- Hóa chất:
- Cồn tuyệt đối
- Hóa chất làm lọ độc diệt côn trùng

2.2.3. Thời gian nghiên cứu:
- Bắt đâu nghiên cứu tháng 1/2/2012 Kết thúc nghiên cứu 5/2012
- Bắt đâu viết khóa luận tháng 4/2012 Nạp khóa luận 5/2012
2.3 . Phương pháp nghiên cứu :.
2.3.1. Phương pháp điều tra ngoài tự nhiên:
- Điều tra định tính, nhằm thu thập thành phần loài (Sự đa dạng về loài);
Vùng phân bố của các loài (Phân bố sinh thái theo điều kiện địa lý); Phân bố
theo các cây chủ (cây trồng khác nhau). (Điều tra ngoài vùng cố định)
Hình 2: Điều tra ngoài thực địa
Viện Đại Học Mở Hà Nội Khoa Công Nghệ Sinh Học
15
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh Văn Dũng
- Điều tra định lượng nhằm xác định sự biến động số lượng của 1 loài
nào đó dưới tác động của môi trường (thời tiết hay thức ăn), cũng như đánh
giá vai trò, hay vị trí của của một loài nào đó trong quần xã).
Điều tra cố định (định lượng) được tiến hành tại 1 địa điểm nhất nhất
định, định kỳ theo thời gian: (5-7 ngày một lần liên tục trong suốt thời gian
sinh trưởng của cây). Điều tra tại 3 khu khác nhau, mỗi khu điều tra 5 điểm
chéo góc. Mỗi điểm điều tra 5 cây. Điều tra cả 4 hướng (Đông, tây, nam, bắc)
và điều tra từ trên xuống gốc cây. Kiểm tra cả 2 mặt lá và thu tất cả các pha
phát triển của mọi loài côn trùng. Vật mầu được chứa trong lọ nhựa trên
miệng bịt vải màn mang về phòng phân tích, xác định tên khoa học của loài,
tỷ lệ ký sinh…Loài nào cần nuôi sinh học thì nuôi, loài nào cần ngâm giữ
mẫu thì cho vào cồn 70
0
.
2.3.2. Phương pháp ghi chép điều tra: Ghi nhật ký điều tra các thông
tin: Ngày điều tra, thời tiết ngày điều tra, sinh trưởng của cây trồng ở từng
thời điểm điều tra, các loài côn trùng thu được. Pha phát triển của loài và số
lượng cá thể của từng loài thu được. Vật mồi (côn trùng bị ăn) của loài côn

2. Thành phần và tỷ lệ ký sinh các loài ong ở pha ấu trùng của loài sâu
Dasichira spp.
3. Thành phần và tỷ lệ ký sinh các loài ong ở pha nhộng của loài sâu
Dasichira spp.
c. Nghiên cứu Phổ con mồi: Nghiên cứu này được tiến hành nhằm thu
thập số liệu về loài thức ăn hay phổ con mồi và khả năng tiêu thụ thức ăn của
mỗi một loài côn trùng gây hại hoặc loài côn trùng ăn thịt nào đó.
1. Mỗi một loài cô trùng ăn thịt hay mỗi một loài sâu hại nào đó cho
chúng ăn từ 4-5 loại thức ăn khác nhau.
2. Theo dõi các chỉ số sinh học ở mọi pha phát triển của đối tượng nghiên
cứu:
(Khả năng tiêu thụ thức của một cá thể trong 1 ngày đêm. Chỉ số sống
sót, thời gian phát triển, tỷ lệ cái/đực; số trứng đẻ được của mỗi cá thể trưởng
thành cái)
Viện Đại Học Mở Hà Nội Khoa Công Nghệ Sinh Học
17
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh Văn Dũng
2.4. Phương pháp tính toán :
Tổng số con thu được
1- Mật độ con/ cây (hoặc con/ m
2
=
Tổng số cây điều tra
Số điểm bắt gặp loài
2- Tần xuất xuất hiện (TSXH) = X 100
Tổng số điểm điều tra
Đánh giá mức độ phổ biến:
+ + + Rất phổ biến (TSXH > 50 %)
+ + Phổ biến (TSXH từ 20 - 50 %)
+ Ít phổ biến (TSXH < 20 %)

Trong đó:
X
- Thời gian phát triển trung bình
X
i
- Thời gian phát triển của n cá thể trong ngày thứ i
n
i
- Số cá thể lột xác trong ngày thứ i
N - Tổng số cá thể thí nghiệm
4- Vòng đời trung bình của loài:
1 n
X X

=

Trong đó:
X
- Vòng đời trung bình
X
1
- Đến X
n
- Thời gian phát dục trung bình của tất cả các pha ( Bắt
đầu là pha trứng đến pha phát dục cuối là trưởng thành) (Pha trưởng thành
tính từ lúc vũ hóa cho đến khi đẻ quả trứng đầu tiên).
n - Số pha phát triển của loài
n
5- Tỷ lệ nở trung bình của trứng %: = x 100
N

i
- (P
i
* lnP
i
)
1 CT bộ cánh cứng 96 0.96 - 0.041 0.039
2 CT bộ cánh vảy 1 0.01 - 4.61 0.046
3 CT bộ cánh nửa 1 0.01 - 4.61 0.046
4 CT bộ cánh đều 1 0.01 - 4.61 0.046
5 CT bộ hai cánh 1 0.01 - 4.61 0.046
Tổng 100 H = 0.223
Chỉ số đa dạng Shannon H = 0.039 + 0.046 + 0.046 + 0.046 + 0.046 = 0.223
7- Tính chỉ số cân bằng Shannon
Một cách đo khác của chỉ số Shannon có “S” số loài có trong mẫu thu
được và E là mức ngang bằng cho các loài này
• Công thức tính E :
ax
H
E
Hm
=

( )
H
E
Ln S
=
hoặc
( )

δ
) được tính bằng công thức:
2
( )
1
Xi X
n
δ

=


- Sai số tính theo công thức: SE =
X
±
t
n
δ
Trong đó: t: Tra bảng Student –Fisher với độ tin cậy p = 95%
Bậc tự do N – 1
n: số cá thể theo dõi
Viện Đại Học Mở Hà Nội Khoa Công Nghệ Sinh Học
21
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh Văn Dũng
PHẦN III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Thành phần loài côn trùng gây hại trên cây đậu tương
tại Hà Nội và các vùng phụ cận.
Sâu hại là một trong những trạng thái tự nhiên của hệ sinh thái nông
nghiệp. chúng luôn tồn tại bên cạnh cây trồng và tham gia vào quá trình trao
đổi năng lượng trong dây chuyền dinh dưỡng. Thành phần loài sâu hại trên

3
Sâu đo xanh
Plusia chalcites
Noctuidae
Lá ++
4
Sâu xanh
Helicoverpa
armigera Hibner Noctuidae
Lá +++
5
Sâu keo da
láng
Spodoptera exigua
Hubner Noctuidae
Lá +++
6
Sâu róm 4

Dasichira sp.
Lymantridae Lá ++
7
Sâu róm
cánh trắng
viền đỏ
Amsacta lactinea
cramer Arcttidae
Lá ++
8
Sâu róm 4


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status