Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty TNHH Cơ khí và tự động hoá công nghiệp - Pdf 26

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
- VCĐ : Vốn cố định
- VLĐ : Vốn lưu động
- TSCĐ : Tài sản cố định
- TSLĐ: Tài sản lưu động
- TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
- SXKD: Sản xuất kinh doanh
- KTTT : Kinh tế thị trường
- HĐQT : Hội đồng quản trị
- HĐTV : Hội đồng thành viên
- BHXH : Bảo hiểm xã hội
- BHYT : Bảo hiểm y tế
- ĐTNH : Đầu tư ngắn hạn
- ĐTDH : Đầu tư dài hạn
- CBCNV : Cán bộ công nhân viên
MỤC LỤC

1
MỤC LỤC 2
* Phân loại vốn theo phương thức chu chuyển: 6
* Vốn lưu động 11
* Các chỉ tiêu tổng quát đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh 18
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Cơ khí và Tự
động hoá Công nghiệp 42
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp được coi như là những tế bào của
xã hội mà sự tồn tại và phát triển của chúng đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế
quốc dân. Đối với các doanh nghiệp nói chung và công ty TNHH Cơ khí và Tự động hoá

chúng ta có thể hiểu sâu sắc hơn về vai trò của ngành công nghiệp cơ khí, từ đó mỗi
người có cái nhìn đúng đắn về hiện tại và cả tương lai của ngành nhằm khuyến khích
sự đóng góp của mỗi cá nhân, tổ chức cho sự phát triển của ngành công nghiệp cực kì
quan trọng này trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá nước nhà.
*Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Chuyên đề đi sâu phân tích đánh giá thực trạng sử dụng vốn của công ty TNHH
Cơ khí và Tự động hóa Công nghiệp trong những năm gần đây, qua đó xác định được
những thành tựu đạt được cũng như những tồn tại và nguyên nhân của nó. Trên cơ sở
đó đưa ra một số giải pháp kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của
công ty.
*Phương pháp nghiên cứu.
Đề tài có sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp tổng hợp, thống kê,
so sánh, phân tích và phương pháp quy nạp diễn giải.
*Kết cấu của đề tài.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề thực tập được xây dựng thành 3 phần:
Phần I: Tổng quan về vốn và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Phần II: Thực trạng về hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty TNHH Cơ khí và Tự động
hoá Công nghiệp.
Phần III: Một số giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty
TNHH Cơ khí và Tự động hoá Công nghiệp.
2
NỘI DUNG
PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Vốn và vai trò của vốn đối với các doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm về vốn
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn
định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt
động kinh doanh với mục tiêu chung và quan trọng nhất đối với doanh nghiệp đó là
lợi nhuận. Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp phải luôn gắn liền với sự hoạt động

Như vậy, muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp nào cũng
cần phải có một lượng vốn nhất định. Trong nền kinh tế thị trường, vốn là điều kiện
tiên quyết, có ý nghĩa quyết định tới mọi khâu trong quá trình sản xuất kinh
doanh.Vốn kinh doanh là điều kiện để duy trì sản xuất, đổi mới thiết bị công nghệ, mở
rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng việc làm và thu nhập cho
người lao động. Từ đó, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng cường khả năng cạnh
tranh trên thị trường, mở rộng xuất khẩu, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Tóm
lại, vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản của doanh nghiệp huy
động vào quá trình sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.
1.1.2. Phân loại vốn
Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ hay hoạt
động bất cứ ngành nghề gì, các doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn nhất định. Số
vốn kinh doanh đó được biểu hiện dưới dạng tài sản. Trong hoạt động tài chính của
doanh nghiệp quản lý vốn kinh doanh và sử dụng vốn kinh doanh có hiêu quả là nội
dung quan trọng nhất, có tính chất quyết định đến mức độ tăng trưởng hay suy thoái
của doanh nghiệp. Do vậy, để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh ta vần phải
nắm được vốn có những loại nào, đặc biệt vận động của nó ra sao Có nhiều cách
phân loại vốn kinh doanh, tuỳ theo mục tiêu nghiên cứu mà có thể có nhiều tiêu thức
phân loại vốn kinh doanh khác nhau.
* Phân loại vốn trên góc độ pháp luật, vốn bao gồm:
4
- Vốn pháp định. Là mức vốn tối thiểu phải có đẻ thành lập doanh nghiệp do pháp
luật quy định, đảm bảo năng lực kinh doanh đối với từng ngành nghề và từng loại
hình sở hữu của doanh nghiệp. Dưới mức vốn pháp định thì không đủ điều kiện để
thành lập doanh nghiệp.
-Vốn điều lệ. Là vốn do các thành viên đóng góp và được ghi vào điều lệ của
Công ty (doanh nghiệp). Tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp, theo từng ngành nghề,
vốn điều lệ không được thấp hơn vốn pháp định.
* Phân loại vốn theo nguồn hình thành:
Theo cách phân loại này, vốn được chia thành các loại sau:

mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần vào giá trị của sản phẩm qua
nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời
gian sử dụng. Bộ phận vốn cố định trở về tay người sở hữu (chủ doanh nghiệp) dưới
hình thái tiền tệ sau khi tiêu thụ sản phẩm hay dịch vụ hàng hoá của mình.
- Vốn lưu động: Là một bộ phận của vốn sản xuất được biểu hiện bằng số tiền ứng
trước về tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp
được tiến hành một cách thường xuyên liên tục, nó được chuyển toàn bộ một lần vào
giá trị sản phẩm cà được thu hồi sau khi thu được tiền bán sản phẩm.
Việc nghiên cứu các phương pháp phân loại vốn cho thay moõi phương pháp có
ưu điểm và nhược điểm khác nhau, từ đó doanh nghiệp có các giải pháp huy động và
sử dụng vốn phù hợp, có hiệu quả.
1.1.3. Các bộ phận cấu thành vốn của doanh nghiệp
Vốn của doanh nghiệp được cấu thành bởi hai bộ phận là vốn cố định và vốn lưu
động. Tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh, công nghệ sản
xuất áp trình độ áp dụng khoa học kỹ thuật mà các doanh nghiệp xác định được tỷ lệ
vốn hợp lý. Việc xác định cơ cấu vốn là yếu tố quan trọng, nó thể hiện trình độ quản
lý và sử dụng vốn ở mỗi doanh nghiệp.
* Vốn cố định của doanh nghiệp.
Khái niệm.
6
Vốn cố định: là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định. Hay nói cách khác: số vốn
đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng hay lắp đặt các tài sản cố định vô hình và hữu
hình nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh được gọi là vốn cố định của doanh nghiệp. Đây
là số vốn đầu tư ứng trước, số vốn này nếu được sử dụng có hiệu quẩ sẽ không mất đi mà
doanh nghiệp sẽ thu hồi lại sau khi tiêu thụ các sản phẩm, hàng hoá hay dịch vụ của
mình. Do đó, để biểu hiện rõ hơn về vốn cố định của doanh nghiệp, chúng ta xem xét
hình thái biểu hiện của nó, tức là dựa trên cơ sở nghiên cứu về tài sản cố định.
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần có tư liệu sản xuất. Căn
cứ vào tính chất, tác dụng, tư liệu sản xuất được chia thành hai bộ phận là tư liệu lao
động và đối tượng lao động. Tư liệu lao động được sử dụng để tác động vào đối tượng

hao tài sản cố định, hay là vốn tiền tệ của doanh nghiệp, nhằm mục đích để tái sản
xuất tài sản cố định, duy trì năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Qua các chy kỳ sản
xuất kinh doanh, phần vốn tiền tệ này tăng dần.
- Phần giá trị còn lại của vốn cố định được cố định “trong hình thái hiện vật của
tài sản cố định mà doanh nghiệp đang sử dụng. Phần giá trị này giảm dần qua các chy
kỳ cùng với sự tăng lên của phần vốn tiền tệ. Khi tài sản cố định hết thời hạn sử dụng
cũng là lúc phần vốn hiện vật bằng không và phần vốn tiền tệ đạt đến giá trị ứng ra
ban đầu về tài sản cố định. Về mặt lý thuyết, doanh nghiệp đã có thể đầu tư tài sản cố
định mới với giá trị tương đương để thay thế tài sản cũ. Vốn cố định đã hoàn thành
một vòng luân chuyển.
Tài sản cố định là cơ sở vật chất kỹ thuật của sản xuất, là điều kiện quan trọng để
nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, tăng tích luỹ và phát triển doanh
nghiệp. Với vai trò quan trọng như vậy, nên việc nâng cao năng suất, hiệu quả sử dụng tài
sản cố định tức là việc tăng cường nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định không những
có vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp, mà còn góp phần cơ khí hoá, tự động hoá sản
xuất kinh doanh, phát triển sản xuất xã hội và phát triển nền kinh tế quốc dân.
Phân loại vốn cố định.
Để quản lý và sử dụng vốn cố định có hiệu quả, ta phải nghiên cứu các phương
pháp phân loại và kết cấu của tài sản cố định. Song, tuỳ theo từng căn cứ khác nhau
8
mà có thể phân chia tài sản cố định thành những loại khác nhau.
Căn cứ váo hình thái biểu hiện: Tài sản cố định được chia thành:
- Tài sản cố định hữu hình: là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất,
có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn
giữ nguyên hình thái ban đầu như: Nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc thiết bị, phương
tiện vận tải
- Tài sản cố định vô hình: là những tài sản cố định không có hình thái vật chất, thể
hiện một lượng giá trị đã được đầu tư có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh
doanh của doanh nghiệp như: chi phí bằng phát minh sáng chế, nhãn hiệu sản phẩm
Căn cứ vào công dụng kinh tế : Tài sản cố định được chia thành:

không phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cần được thanh
lý, nhượng bàn để thu hồi vốn đầu tư đã bỏ ra ban đầu.
Mỗi cách phân loại có các ý nghĩa khác nhau, cho phép nhà quản trị đánh giá được
tình hình tài sản cố đinh, xem xét kết cấu tài sản cố định của doanh nghiệp. Từ đó có
biện pháp tác động để sử dụng vốn cố định có hiệu quả hơn.
Cơ cấu vốn cố định:
Cơ cấu vốn cố định là tỷ lệ phần trăm của từng nhóm vốn cố định trong tổng số
vốn cố định. Nghiên cứu cơ cấu vốn cố định cho phép đánh giá việc đầu tư có đúng
đắn hay không và nó cho phép xác định hướng đầu tư vốn cố định trong tương lai.
Cơ cấu vốn cố định và sự thay đổi của nó là những chỉ tiêu quan trọng nói lên trình độ
kỹ thuật, khả năng phát triển hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp giúp cho
việc phát triển phương hướng tái sản xuất tài sản cố định.
Nguồn vốn cố định .
Vốn cố định được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như: nguồn vốn pháp
định, nguồn vốn tự bổ sung, nguồn vốn liên doanh liên kết.
- Nguồn vốn pháp định: gồm vốn cố định do ngân sách nhà nước cấp, do cấp trên
cấp phát cho doanh nghiệp, vốn cổ phần do xã viên hợp tác xã và các cổ đông đóng
góp bằng tài sản cố định, vốn pháp định do chủ sở hữu bỏ ra ban đầu khi thành lập
doanh nghiệp.
10
- Nguồn vốn tự bổ sung: gồm vốn cố định của những tài sản cố định đã được đầu
tư và mua sắm bằng quý của doanh nghiệp.
- Nguồn vốn liên doanh, liên kết: gồm các nguồn vốn do các đơn vị tham gia liên
doanh, liên kết đóng góp bằng tài sản cố định và bằng vốn đầu tư xây dựng cơ bản đã
hoàn thành.
* Vốn lưu động.
Bên cạnh vốn cố định, một bộ phận khác không thể thiếu trong hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp đó là vốn lưu động.
Khái niệm và đặc điểm.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, bên cạnh tài sản cố định, doanh nghiệp luôn

đã quyết định sự vận động của vốn lưu động- tức hình thái giá trị của tài sản lưu động
là:
- Khởi đầu vòng tuần hoàn : Vốn lưu động được dùng để mua sắm các đối tượng
lao động trong khâu dự trữ sản xuất. ở giai đoạn này vốn đã thay đổi hình thái từ vốn
tiền tệ sang vốn vật tư (T-H).
- Tiếp theo là giai đoạn sản xuất: Các vật tư được chế tạo thành bán thành phẩm
và thành phẩm. ở giai đoạn này vốn vật tư chuyển hoá thành thành phẩm và bán thành
phẩm nhờ sức lao động và công cụ lao động (H-SX H

).
- Kết thúc vòng tuần hoàn: Sau khi sản xuất được tiêu thụ, vốn lưu động lại
chuyển hoá sang hình thái vốn tiền tệ như điểm xuất phát ban đầu (H’-T’) (T’ > T).
Trong thực tế, sự vận động của vốn lưu động không diễn ra một cách tuần tự như
mô hình lý thuyết trên mà các giai đoạn vận động của vốn được đan xen vào nhau, các
chu kỳ sản xuất được tiếp tục lặp lại, vốn lưu động được liên tục tuần hoàn và chu
chuyển.
Trong doanh nghiệp, việc quản lý tốt vốn lưu động có vai trò rất quan trọng. Muốn
quản lý vốn lưu động, các doanh nghiệp phải phân biệt được các bộ phận cấu thành
vốn lưu động để trên cơ sở đó đề ra các biện pháp quản lý phù hợp. Trên thực tế, vốn
lưu động của doanh nghiệp bao gồm những bộ phận sau:
- Vốn bằng tiền: bao gồm tiền hiện có trong két và tiền gửi ngân hàng của doanh
12
nghiệp.
- Các khoản đầu tư ngắn hạn: bao gồm các tín phiếu kho bạc, thương phiếu ngắn
hạn
- Các khoản phải thu: là một khoản mục tồn tại tất yếu trong nền kinh tế thị
trường. Bằng chứng của nó là các hoá đơn bán hàng, các tờ phiếu chấp nhận trả tiền
của người mua nhưng còn nhiều lý do mà người bán chưa thu được tiền ngay.
- Khoản dự trữ: Việc tồn tại vật tư, hàng hoá dự trữ, tồn kho là bước đệm cần thiết
cho quá trình hoạt động thường xuyên của doanh nghiệp. Sự tồn tại này trong quá

vốn bằng tiền và các atài sản khác.
- Vốn không định mức: là số vốn lưu động có thể phat sinh trong quá trình sản
xuất kinh doanh và sản xuất dịch vụ phụ thuộc nhưng không có đủ căn cứ để tính toán
được.
Tuỳ theo mỗi cách phân loại vốn lưu động mà nhà quản trị sẽ đưa ra những quyết
định cụ thể trong việc quản lý và sử dụng vốn lưu động một cách có hiệu quả nhất.
Nguồn vốn lưu động.
Nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp gồm có: vốn tự có, vốn coi như tự có và
vốn đi vay.
- Vốn tự có: Bao gồm:
+ Nguồn vốn pháp định: gồm vốn lưu động do ngân sách cấp hoặc cấp trên cấp
phát cho đơn vị ( cấp lần đầu hoặc bổ sung), nguồn vốn cổ phần nghĩa vụ do các xã
viên hợp tác xã hoặc các cổ đông đóng góp, hoặc vốn pháp định do chủ doanh nghiệp
tư nhân bỏ ra ban đầu khi thành lập doanh nghiệp.
+ Nguồn vốn tự bổ sung: hình thành từ kết quả sản xuất kinh doanh của đơn vị
thông qua quỹ khuyến khích phát triển sản xuất các khoản chênh lệch giá hàng hoá
tồn kho (theo cơ chế bảo toàn giá trị vốn).
+ Nguồn vốn liên doanh, liên kết: Gồm có các khoản vốn của các đơn vị tham gia
liên doanh, liên kết góp bằng tiền, hàng hoá, sản phẩm, nguyên vật liệu
- Vốn coi như tự có: do phương pháp kế toán hiện hành, có một số khoản tiền tuy
14
không phải của doanh nghiệp nhưng có thể sử dụng trong khoảng thời gian rỗi để bổ
sung vốn lưu động, người ta coi dố như khoản vốn tự có như: tiền thuế, tiền lương,
bảo hiểm xã hội, phí trích trước chưa đến hạn phải chi có thể sử dụng và các khoản nợ
khác.
- Nguồn vốn đi vay để đảm bảo thanh toán cho ngân hàng, nhà cung ứng trong
khi hang chưa bán đã mua hoặc sự không khớp trong thanh toán, doanh nghiệp phải
có sự liên kết với các tổ chức cho vay để vay tiền. Nguồn vốn đi vay là một nguồn
quan trọng. Tuy nhiên, vay dưới hình thức khác nhau thì chịu lãi suất khác nhau và
phải trả kịp thời cả vốn lẫn lãi vay khi đến thời hạn

vọng lợi nhuận, các doanh nghiệp phải không ngừng phát triển vốn kinh doanh của
mình, cho nên nhu cầu về vốn kinh doanh của doanh nghiệp là rất lớn. Để đảm bảo
chiến thắng trong cạnh tranh, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, tât yếu
các doanh nghiệp phải năng động nắm bắt nhu cầu thị trường, đầu tư đổi mới máy móc
thiết bị, cải tiến quy trình công nghệ, đa dạng hoá sản phẩm, hạ giá thành. Điều đó đòi hỏi
các doanh nghiệp phai có nhiều vốn. Vốn đã trở thành động lực và là yêu cầu cấp bách
đối với tất cả các doanh nghiệp. Chỉ có vốn trong tay mới có thể giúp doanh nghiệp đầu
tư hiện đại hoá sản xuất, tồn tại trong môi trường cạnh tranh và tối đa hoá lợi nhuận. Nhu
cầu về vốnđể đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh, cho sự phát triển ngành nghề
mới đã trở thành một đòi hỏi cấp thiết với tất cả các doanh nghiệp nói chung cũng như
doanh nghiệp thương mại nói riêng. Như vậy, vốn kinh doanh đóng vai trò quan trọng, là
điều kiện tiên quyết trong quá trình đầu tư, phát triển của doanh nghiệp, tạo lợi thế cạnh
tranh và đứng vững trong nền kinh tế thị trường.
- Vốn kinh doanh còn là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận động của tài
sản, nghĩa là phản ánh và kiểm tra quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Thông qua sự vận động của vốn kinh doanh, các chỉ tiêu tài chính như: hiệu quả sự
dụng vốn, hệ thống thanh toán, hệ số sinh lời, cơ cấu các nguồn vốn và cơ cấu phân
phối sử dụng vốn… mà quản lý có thể nhận biết được trạng thái vốn trong các khâu
của quá trình sản xuất kinh doanh. Với khả năng đó, nhà quản lý có thể phát hiện ra
các khuyết tật và nguyên nhân của nó để điều chỉnh quá trình kinh doanh nhằm mục
16
tiêu đã định.
Việc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh trong điều kiện tiến bộ của khoa học-
kỹ thuật, công nghệ phát triển cao. Nhu cầu vốn đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh
doanh ngày càng tăng nên việc tổ chức huy động vốn ngày càng trở nên quan trọng
đối với mỗi doanh nghiệp. Huy động vốn đầy đủ và kịp thời có thể giúp doanh nghiệp
chớp thời cơ kinh doanh, tạo được lợi thế trong cạnh tranh. Thêm vào đó việc lựa
chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp sẽ giảm bớt chi phí sử
dụng vốn, điều đó tác động rất lớn đến việc tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Từ
những lý do trên, cho thấy việc tổ chức đảm bảo đầy đủ, kịp thời vốn cho nhu cầu sản

tiền tệ hay cụ thể là mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra. Kết quả
thu được càng cao so với chi phí bỏ ra thi hiệu quả sử dụng vốn càng cao. Do đó, nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn là điều kện quả trọng để doanh nghiệp phát triển vững
mạnh.
Tóm lại, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là tất yếu khách quan và nó có ý
nghĩa quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp nói riêng và đói với nền kinh tế nói chung,
đặc biệt là trong cơ chế hiện nay.
Khái niệm: Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản
ánh trình độ khai thác, sử dụng và quản lý nguồn vốn, làm cho đồng vốn sinh lời tối
đa, nhằn mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Mục tiêu hàng đầu của mọi doanh nghiệp kinh doanh là thu được lợi nhuận. Do
đó, hiệu quả sử dụng vốn được thể hiện ở số lợi nhuận doanh nghiệp thu được trong
kỳ và mức sinh lời của một đồng vốn kinh doanh. Để so sánh, đánh giá hiệu quả sử
dụng vốn kinh doanh giữa các thời kỳ khác nhau của doanh nghiệp ta có thể sử dụng
các chỉ tiêu chủ yếu sau:
* Các chỉ tiêu tổng quát đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh.
- Hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh (số vòng quay của vốn kinh doanh).
18
Hiệu suất sử dụng
vốn kinh doanh
Doanh thu thuần trong kì
Tæng vèn kinh doanh sö dông b×nh qu©n
trong kú
=

Đây là chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong kỳ của doanh
nghiệp. Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn kinh doanh huy động vào hoạt động sản
xuất kinh doanh sau một kỳ sẽ đem lại bao nhiêu đồng doanh thu. Chỉ tiêu này càng
lớn chứng tỏ trình độ quản lý và sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu

=
Tỉ suất lợi nhuận
vốn kinh doanh
Chỉ tiêu này phản ánh 100 đồng vốn kinh doanh tham gia tạo ra bao nhiêu đồng
lợi nhuận trước thuế. Chỉ tiêu này cho biết trước khi doanh nghiệp nộp thuế thu nhập
doanh nghiệp, hoạt động kinh doanh lỗ, lãi của doanh nghiệp.
Tóm lại, các chỉ tiêu tổng quát trên đã phần nào cho ta thấy tình hình chung hiệu
quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, các chỉ tiêu này chưa phản
ánh được nét riêng biệt về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của từng bộ phận vốn. Do
đó, để đánh giá đầy đủ hơn hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh chúng ta cần xem xét
tới các chỉ tiêu cá biệt, đó là toàn bộ các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu
động và vốn cố định của doanh nghiệp.
* Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
- Hiệu suất sử dụng vốn lưu động ( số vòng quay vốn lưu động).
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động doanh nghiệp sử dụng vào hoạt động
kinh doanh tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Hay nói cách khác, chỉ tiêu
này cho biết trong kỳ phân tích vốn lưu động càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn
lưu động của doanh nghiệp càng cao.
- Thời gian một vòng luân chuyển.
Chỉ tiêu này phản ánh thời gian cần thiết để vốn lưu động thực hiện được một lần
luân chuyển. Ngược lại với số vòng quay vốn lưu động, chỉ tiêu này càng nhỏ thể hiện
vốn lưu động được luân chuyển nhanh, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng
20
Số vòng quay
vốn lưu động
Doanh thu thuần trong kì
Vốn lưu động sử dụng bình quân trong kì
=
Thời gian một vòng
luân

Vèn lu ®éng sö dông b×nh qu©n
trong kú
=
Hiệu suất sử dụng vốn
cố định
Doanh thu thuần trong kì
Vèn cè ®Þnh sö dông
b×nh qu©n trong kú
=
càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp càng cao.
- Hàm lượng vốn cố định.

Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra được một đồng doanh thu thuần trong kỳ thì doanh
nghiệp cần sử dụng bao nhiêu đồng vốn cố định. Chỉ tiêu này ngược lại với chỉ tiêu
hiệu suất sử dụng vốn cố định. Vì vậy, chỉ tiêu này càng nhỏ càng thể hiện trình độ
quản lý và sử dụng tài sản cố định càng cao.
- Tỉ suất lợi nhuận vốn cố định
Chỉ tiêu này phản ánh 100 đồng vốn cố định đầu tư ho việc mua sắm và sử dụng tài
sản cố định sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế. Chỉ tiêu này càng cao
chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp rất tốt.
- Hiệu quả sử dụng vốn cố định.
Chỉ tiêu này cho biết, một đồng vốn cố định có thể tạo ra được bao nhiêu đồng lợi
nhuận sau thuế cho doanh nghiệp. Lợi nhuận sau thuế là kết quả cuối cùng mà mọi
doanh nghiệp đều xét đến. Do đó, chỉ tiêu này càng cao bao nhiêu thì chứng tỏ doanh
nghiệp sử dụng vốn cố định càng có hiệu quả bấy nhiêu.
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
1.3.1. Chu kỳ sản xuất
22
Hµm lîng
vèn cè ®Þnh

1.3.4. Tác động của thị trường
Nếu thị trường đó là cạnh tranh tự do, những sản phẩm của doanh nghiệp đã có uy
tín lâu đối với người tiêu dùng thì sẽ là tác nhân tích cực thúc đẩy doanh nghiệp mở
rộng thị trường. Đối với thị trường sản phẩm không ổn định (theo mùa, theo thời
điểm, thị hiếu) thì hiệu quả sử dụng vốn cũng không ổn định qua việc doanh thu biến
động lớn qua các thời điểm này.
1.3.5. Trình độ tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất,hạch toán nội bộ doanh nghiệp
Để có hiệu quả cao thì bộ máy tổ chức quản lí, tổ chức sản xuất phải gọn nhẹ,
trùng khớp nhịp nhàng với nhau. Công tác kế toán đã dùng những công cụ của mình
để đo hiệu quả sử dụng vốn Kế toán phải có nhiệm vụ phát hiện những tồn tại trong
quá trình sử dụng vốn và đề xuất những biện pháp giải quyết.
1.3.6. Trình độ lao động, cơ chế khuyến kích và trách nhiệm vật chất trong doanh nghiệp
Công nhân trong doanh nghiệp có trình độ cao đủ để thích ứng với trình độ công
nghệ dây chuyền sản xuất thì các máy móc trong dây chuyền sẽ được sử dụng tốt hơn
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status