Quyết định quản lý Nhà nước của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh - những vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÀ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đ Ỗ CÔ N G Q U Â N
QUYẾT ĐỊNH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN CÃP TỈNH
- NHŨNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TlỂN
Chuvên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Ma sô: 6.01.01
LUẬN VÃN THẠC s ĩ KHOA HỌC LUẬT
• • » •
Người hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ luật học Nguyễn Cửu Việt
Hà Nội, năm 2000
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẨU 1
CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM QUYẾT ĐINH QUẢN LÝ NHÀ 6
NƯỚC CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH
1.1. Đặc điểm địa vị pháp lý của uỷ ban nhản dân cấp tỉnh 6
1.11. Vị trí, tính chất pháp lý 6
1 12 Tổ chức, cơ cấu 7
1 1 3 Hình thức hoạt động 7
1.14 Thẩm quyền 9
1 1 5 Các cơ quan chuyên mỏn thuộc uỷ ban nhân dân cấp tỉnh - bộ máy 12
giúp việc của uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
1 2 Xảy dựng và ban hành quyết định quản lý nhà nước - hình thức 13
hoạt động chủ yếu của uỷ ban nhản dân cấp tỉnh
1 2 1 Khái niệm quyết định quản lý của uỷ ban nhân dân cấp tỉnh 13
12 2 Xây dựng và ban hành quyết định quản lý - hình thức quản lý chủ yếu 17
của uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
1 3 Phân loại quyết định quản lý nhà nước của uỷ ban nhân dân cấp 22
tỉnh
1 3 1 Phân loại theo tính chất pháp lý 23

tỉnh với quyết định pháp luật của viện kiểm sát nhân dân
CHƯƠNG 3: THỦ TỤC XÀY DỤNG VÀ BAN HÀNH QUYẾT
ĐỊNH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA ƯỶ BAN NHÀN DÂN CẤP
TỈNH
3 1. Thực trạng thủ tục xây dựng và ban hành quvết định quản lý nhà
nước của ủv ban nhân dân cấp tỉnh
37
38
41
47
47
49
52
52
54
60
60
3.1.1. Khái niệm thủ tục xây dựng và ban hành quyết định quản lý nhà nước 60
3.1.2. Các quy định pháp luật về thủ tục xây dựng và ban hành quyết định 63
quản lý nhà nước của ủy ban nhân dân cấp tỉnh
3.1.3. Thực tiễn thủ tục xây dựng và ban hành quyết định quản lý nhà 76
nước của uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
3 2. Các giải pháp hoàn thiện thủ tục xây dựng và ban hành quyết định 87
quản lý nhà nước của uỷ ban nhàn dân cấp tỉnh
3 2 1 Các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về thủ tục xây dựng và 87
ban hành quyết định quản ]ý nhà nước của uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
3 2 2 Các giải pháp hoàn thiện thực tiễn hoạt động xây dựng và ban hành 92
quyết định quản lý nhà nước của uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
3 2 3 Các giải pháp hoàn thiện các biện pháp bảo đảm cho hoạt động xây 99
dựng và ban hành quyết định quản lý nhà nước của uỷ ban nhân dân

thiết cho hoạt động xây dựng và ban hành quyết định quản ]ý nhà nước cua
uỷ ban nhân dân cấp tình như kinh phí, tài liệu
2
Chính từ đó dẫn đến những yếu kém trong hoạt động xây dựng và
ban hành quyết đinh quản lý nhà nước của uỷ ban nhân dân cấp tỉnh. Hiện
tượng ban hành sai thẩm quyền, nội dung không bảo đảm tính hợp pháp và
hợp lý diễn ra tương đối phổ biến. Do vậy, việc hoàn thiện những quy định
của pháp luật về hoạt động ban hành quyết đinh quản lý nhà nước cũng như
thực tiễn hoạt động ban hành quyết đinh quản lý nhà nước của uỷ ban nhân
dân cấp tỉnh là việc làm hết sức cần thiết nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc
áp dụng thống nhất quy trình xây dựng và ban hành quyết định quản lý nhà
nước của uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, đổng thời bảo đảm cho nội dung của
quyết đinh quản lý nhà nước có tính khả thi cao, có hiệu lực trong thực tế
cuộc sống.
Xuất phát từ những yêu cầu và thực tiễn trên, chúng tôi đã chọn đề tài
nghiên cứu “Quyết đinh quản lý nhà nước của uỷ ban nhân dân cấp tỉnh -
Những vấn đề lý luận và thực tiễn”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hoạt động xây dựng và ban hành quyết định quản lý nhà nước của
các cơ quan chính quyền địa phương nói chung và của uỷ ban nhân dân nói
riêng đang là vấn đề rất được quan tâm dưới góc độ lý luận và thực tiễn.
Tại Việt Nam đã có một số cống trình nghiên cứu về những vấn đề
xung quanh hoạt động ban hành quyết định quản lý của các cơ quan chính
quyền các cấp như: "Phê chuẩn quyết định: lý luận, thực tiễn và đổi mới",
"Đình chỉ, sửa đổi, bãi bỏ quyết định: lý luận, thực tiễn và đổi mới ”, "Cơ
chế giám sát việc ban hành các văn bản pháp luật" của tác giả Nguyễn Cửu
Việt, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, năm 1988, 1989 và 1993; "Cơ sở lý
luận, thực tiễn phân định thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật
của cơ quan chính quyền địa phương” của tác siả Thái Vĩnh Thắng- "Về
thẩm quyền của hội đổng nhân dân và uỷ ban nhân dán trong việc bãi bỏ

Mục đích của Luận văn là trên cơ sở phân tích rõ bản chất, vị trí, vai
trò quyết đinh quản lý nhà nước của uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thông qua
việc nghiên cứu thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn hoạt động xây
dựng và ban hành quyết đinh quản lý nhà nước của uỷ ban nhân dân cấp
tỉnh nhằm rút ra kết luận để đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn
thiện hoạt động xây dựng và ban hành loại quyết định quản lý nhà nước
quan trọng này.
Để thực hiện mục đích trên, luận vãn có các nhiệm vụ sau đây:
Một là, khái quát những nét cơ bản về địa vị pháp lý của uỷ ban nhân dân
cấp tỉnh, vai trò quan trọng của hoạt động xây dựng và ban hành quyết định
quản lý nhà nước trong hệ thống các hình thức hoạt động nói chung của uỷ
ban nhân dân cấp tỉnh.
Hai là, làm rõ vị trí của quvết đinh quản lý nhà nước của u ỷ ban nhân dân
cấp tỉnh trong hệ thống các quyết định pháp luật của Nhà nước ta.
Ba là, đánh giá khái quát thực trạng các quy định của pháp luật liên quan
đến hoạt động ban hành quyết đinh quản lý nhà nước của uỷ ban nhân dân
cấp tỉnh và thực tiễn hoạt động ban hành quyết định quản lý nhà nước cúa
uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.
Bốn là, mạnh dạn đề xuất một số giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật
điều chỉnh hoạt động ban hành quyết định quản lý nhà nước của uỷ ban
nhân dân cấp tỉnh cũng như cơ chế, thủ tục và điều kiện bảo đảm cho hoat
động đó.
4. Co sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận vãn được thực hiện trên cơ sở áp dụng phương pháp luận của
triết học Mác - Lênin. các nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật biện chứng,
chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hổ Chí Minh, lý luận về nhà nước và
pháp luật và các quan điểm của Đảng và Nhà nước trons giai đoạn hiện
nay. Bên cạnh đó. tác giả còn sử dụng các phươns pháp cụ thể như phán
tích tổng hợp, quy nạp và diễn giải, phương pháp hệ thống, phương pháp
lịch sử, phương pháp điều tra xã hội học

dân"[23, Đ 123l Tương tự, uỷ ban nhân dân (sau đây gọi tắt là UBND) cấp
tỉnh do hội đổng nhân dân (sau đây gọi tất là HĐND) cấp tỉnh bầu ra, chịu
trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND cấp tỉnh. Nếu coi HĐND với
tư cách là cơ quan đại biểu của nhân dân ở địa phương thì UBND với ý
nghĩa là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ở địa
phương, có vai trò hết sức quan trọng trong việc tổ chức và chỉ đạo việc thi
hành các nghị quyết của HĐND.
Một đổi mới quan trọng về vị trí, tính chất pháp lý của UBND được
ghi nhận trong Luật sửa đổi “Luật tổ chức Hội đổng nhân dán và uỷ ban
nhân dân 1983” ban hành năm 1989 (sau đây gọi tắt là Luật năm 1989), đó
là sự xuất hiện của thường trực HĐND với tư cách là cơ quan bên trong của
HĐND. Luật tổ chức Hội đổng nhân dân và uỷ ban nhân dân (sửa đổi) năm
1994 (sau đây gọi tắt là Luật năm 1994) vẫn giữ quy định này băng viêc
quy định thường trực HĐND được thiết lập ở cấp tỉnh và cấp huyện 1 18 11
181 ]
Quyết định mới này có tác dụng xác định rõ hơn vị trí, tính chất của
ƯBND, ƯBND khồng còn có tư cách “hai mãt” (vừa là “cơ quan thường
trực” vừa là cơ quan chấp hành của HĐND) i lồ-ư 181J
/
1.1.2. Tổ chức, cơ cấu
Theo quy đinh của luật hiộn hành, UBND được thiết lập ở cả 3 cấp:
tỉnh, huyện và xã. ƯBND cấp tỉnh có từ 9 đến 11 thành viên, riêng ƯBND
Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh có không quá 13 thành
viên[31, \
Thành phần của UBND gồm có chủ tịch, phó chủ tịch và các ủy viên.
Khác với Luật Tổ chức Hội đổng nhân dân và u ỷ ban nhân dân năm 1983
(sau đây gọi tắt là Luật năm 1983), Luật năm 1994 và Luật năm 1989 quy
đinh: ngoài chủ tịch UBND, các thành viên khác không nhất thiết phải là
đại biểu HĐND. Đổi mới này cùng với việc bỏ chức năng thường trực
HĐND, càng tách rõ hơn chức năng chấp hành của UBND ra khỏi chức

- Chương trình làm việc của UBND;
- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách, quyết
toán ngân sách hàng năm và quỹ dự trữ ở địa phương trình HĐND;
- Các biện pháp thực hiện nghị quyết của HĐND về kinh tế - xã
hội, thông qua báo cáo của ƯBND trước HĐND;
- Đề án thành lập mới, sáp nhập, giải thể các cơ quan chuyên
môn thuộc ƯBND và việc phân vạch, điều chỉnh địa giới đơn vị hành
chính ở địa phương131, Đ 49].
Điều đáng nói ở đây là trong bốn loai vấn đề phải thảo luận tập thể và
biểu quyết theo đa số không đề cập tới hoạt động ban hành quvết định
quản lý của UBND. trong đó có cả những quyết định m ans tính quy pham
và chủ đạo. Theo chúng tôi, việc xem xét thóng qua các quyết đinh, chỉ thị
mang tính chủ đạo và quy phạm của UBND phải được đưa vào nội dung các
phiên họp của UBND.
Chủ tịch ƯBND là người lãnh đạo và điều hành công việc của UBND,
cùng với tập thể UBND chịu trách nhiệm về hoạt động của UBND trước
HĐND và với cơ quan nhà nước cấp trên. Hiệu quả hoạt động của uỷ ban
được bảo đảm bằng hiệu quả hoạt động của tập thể UBND, của chủ tịch
UBND và của các thành viên UBND.
Là người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chủ
tịch UBND thực hiện hai nhóm nhiệm vụ, quyền hạn chủ yếu sau đây: Thứ
nhất, những thẩm quyền mà Hiến pháp và luật trao đích danh cho chủ tịch
UBND; thứ hai, những nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp mình, trừ
những vấn đề mà Luật đòi hỏi ƯBND phải thảo luận tập thể và quyết định
theo đa số.
Chủ tịch UBND cấp tỉnh triệu tập và chủ tọa các phiên họp của UBND
cấp tỉnh, phê chuẩn kết quả bầu thành viên của UBND cấp huyện, điều
động, miễn nhiệm, cách chức chủ tịch, phó chủ tịch UBND cấp huyện
Chủ tịch UBND lãnh đao công tác của UBND, các thành viên của
UBND và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND. Các phó chủ tịch là người

sự can thiệp của trung ương. Mặt khác, thực tế hoạt động quản lý cho thấy,
nhiều công việc được các cơ quan nhà nước ở địa phương thực hiện sẽ đảm
bảo linh hoạt, hiệu quả hơn do các cơ quan này gần với đối tượns quản lý
và hiểu biết về địa bàn. Do vậy, để bảo đảm tính liên tục và hiệu quả cua
hoạt động quản lý, pháp luật hiện hành quy đinh: Bộ trình Chính phu quyết
định nội dung quản lý nhà nước của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương đối với ngành, lĩnh vực; hướng dẫn, kiểm tra ƯBND cấp tỉnh về việc
phân cấp cho UBND cấp huyện và xã về nội dung quản lý ngành, lĩnh vực
do Bộ quản lý[35 Đ 17].
Pháp lệnh về nhiệm vụ quyền hạn cụ thể của Hội đổng nhân dân và ưỷ
ban nhân dân ở mỗi cấp quy định hệ thống thẩm quvền của UBND tương
ứng với các lĩnh vực quản lý của các cơ quan này. Tuy vậy. qua quá trình
thực hiện Pháp lệnh đã bộc lộ một số nhược điểm cần khắc phục, v ề mặt kỹ
thuật, Pháp lệnh sử dụng phương pháp liệt kê để pháp điển hóa những
nhiệm vụ, quyền hạn của UBND ở mỗi cấp được quy định rải rác ở một số
lượng lớn các văn bản pháp luật. Như vậy, khó có thể cho rằng pháp luật có
tính tổng hợp cao và tính khái quát. Trong khi đó, việc phân cấp quản lý
luôn chịu sự tác động của sự phát triển các quan hệ kinh tế - xã hội và có
tính biến động linh hoạt. Điều đó dẫn đến khả năng một số nhiệm vụ, quyền
hạn mói phát sinh sẽ không được ghi nhận một cách hoàn toàn trong pháp
luật. Mặt khác, pháp luật có xu thế “bình quân hóa” khối lượng thẩm quyền
của các đơn vị hành chính trong cùng một cấp chính quyền mà trên thực tế,
chúng khác xa nhau về đặc điểm tự nhiên và xã hội, dân số, diện tích, trình
độ và năng lực quản lý của cán bộ.
Ở đây có một thực tế là các tỉnh có đặc thù riêng của mình về điều
kiện kinh tế - xã hội - dân số cũng như những đặc điểm tự nhiên và xã hội.
Ngoài ra, giữa tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương cũng có sự khác xa
nhau về điều kiện kinh tế - xã hội. Chính vì vậy, nhiệm vụ, quyền hạn của
các UBND ở các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương hoăc giữa các tỉnh
khác nhau cũng khác nhau.

chuyên môn chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước ƯBND (Điều 56
Luật năm 1994). Theo chiều dọc, cơ quan chuvên môn chiu sự ch] đao về
nghiệp vụ, đổng thời chịu trách nhiệm và báo cáo cóng tác trước cơ quan
chuyên môn cấp trên (Điều 54 Luật năm 1994)[l8' ư 188189ỉ Căn cứ vào hoạt
động thực tiễn, rõ ràng chiều trực thuộc ngang là cơ bản đối với đa phần các
cơ quan chuyên môn. Tuy vậy, có cơ quan chỉ trực thuộc ngang (văn
phòng), có loại chủ yếu trực thuộc dọc (công an, quân đội, bưu điện )ri4)-
Để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình, các cơ quan chuyên
môn có quyền ra quyết đinh pháp luật. Quyền này được ghi nhận một cách
gián tiếp tại Điều 124 Hiến pháp 1992. Tuy nhiên, đáng tiếc rằng, trong
suốt vài chục năm trở lại đây và hiện nay, pháp luật nước ta chưa có quy
định về hình thức pháp lý (tên) của quyết đinh mà cơ quan này được ban
hành, trình tự ban hành và hiệu lực pháp lý của chúng[18-ư 189]. Thực tiễn này
có lẽ là hộ quả của những quan điểm chưa thống nhất về việc có nên trao
cho loại cơ quan này quyền ban hành quyết đinh quản lý nhà nước hay
không, đặc biệt là quyết đinh quy phạm. Đây là vấn đề quan trọng mà luân
văn cũng cần dừng lại phân tích (xin xem Phần 2.3.1.), vì nó liên quan trực
tiếp tới quyền ban hành quyết định quản lý nhà nước của UBND cấp tỉnh.
1.2. Xây dựng và ban hành quyết định quản ly nhà nước - hình thức
hoạt động chủ yếu của UBND cấp tỉnh
Lý luận về quyết đinh quản lý nhà nước đã chỉ ra rằng, để thực hiện
các nhiệm vụ và chức năng quản lý nhà nước, các chủ thể quản lý sử dụng
những hình thức hoạt động khác nhau, nhưng hình thức cơ bản và quan
trọng nhất là hoạt động xây dựng và ban hành quyết đinh quản lý nhà
nước[l8- ư 273].
UBND cấp tỉnh với tính chất là một chủ thể quản lý nhà nước, cũng
hoạt động với hình thức chủ yếu là ban hành các quyết đinh quản lý nhà
nước.
1.2.1. Khái niệm quyết định quản lý nhà nước cùa UBND cấp tỉnh
v ề bản chất quyết đinh quản lý nhà nước, hiện có rất nhiều quan điểm

nó có tất cả những tính chất của một quyết đinh pháp luật. Các tính chất
quyết đinh quản lý nhà nước là tính ý chí, tính quyền lực nhà nước bởi lẽ,
cũng như các loại quyết đinh pháp luật khác, nó là kết quả sự thể hiện ý chí
của các chủ thể quản lý có thẩm quyền thực hiện nhân danh nhà nước, vì lợi
ích của nhà nước. Trong quyết đinh quản lý nhà nước ý chí của nhà nước
thể hiện một cách tập trung nhất và mang tính quyền lực. Đó là ý chí đơn
phương của nhà nước mà mọi chủ thể pháp luật khác đều phải tuân theo nếu
họ thuộc phạm vi tác động của quyết đinh đ ó.118,11 2761
Hai đặc điểm này cho phép phân biệt quyết định quản lý nhà nước với
các hoạt động tổ chức - xã hội trực tiếp, các tác nghiệp vật chất - kỹ thuât.
Tính pháp lý thể hiện ở hệ quả pháp lý của nó, đó là sự thay đổi trong
cơ chế điều chỉnh pháp luật. Bởi vì, quyết định quản lý nhà nước: hoạch
định chủ trương, đường lối, nhiệm vụ lớn cho hoạt động quản lý; đặt ra, sửa
đổi , bãi bỏ các quy phạm pháp luật hoặc làm thay đổi phạm vi hiệu lực của
chúng; làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quan hệ pháp luật cụ thể.
[18.tr. 276]
Ngoài ra, quyết đinh quản lý nhà nước có những tính chất khác với
mọi quyết định pháp luật nói chung, những tính chất này được gọi là các
đặc trưng. [l8 ư 2771
Đặc trưng đầu tiên là tính dưới luật. Xuất phát từ nsuyén tắc pháp chế
trong hoạt động quản lý nhà nước, thể hiện ở chỗ các quyết định quản lv
nhà nước được ban hành trên cơ sở và đê cu thể hóa luật. Nếu xem xét chủ
thể là UBND cấp tỉnh thì quyết định quản lý nhà nước của UBND cấp tỉnh
được ban hành phải phù hợp và để thi hành khống chỉ Hiến pháp, luât, pháp
lệnh, mà mọi quyết đinh pháp luật của các cơ quan Nhà nước cấp trên và cơ
quan quyến lực cùng cấp (nghị quyết của HĐND cấp tỉnh).
Tính dưới luật của quyết đinh quản lý nhà nước khống chỉ gắn với nội
dung mà cả trình tự xây dựng, ban hành và hình thức của quyết định. Có
nghĩa là, quyết đinh quản lý nhà nước phải được ban hành theo hình thức và
trình tự do pháp luật quy định (pháp luật ở đây theo nghĩa rộng - nghĩa là

nước của UBND cấp tỉnh là hình thức hoạt động chủ yếu của UBND cấp
tỉnh. Cần phải nhận thấy rằng, bên cạnh hoạt động ban hành quyết định
quản lý nhà nước, UBND cấp tỉnh còn thực hiện những hình thức quản lý
khác như: thực hiện các hoạt động tổ chức - xã hội trực tiếp, thực hiện các
hoạt động mang tính chất tác nghiệp vật chất - kỹ thuật cụ thể, hoặc hợp
đồng hành chính
Pháp lệnh về nhiệm vụ, quyền han cụ thể của Hội đổng nhân dân và
u ỷ ban nhân dân ở mỗi cấp đã quy định tương đối rõ nét nhiệm vụ, quyền
hạn cụ thể của UBND cấp tỉnh trong các lĩnh vực cụ thể. Qua nghiên cứu
các nhiệm vụ, quyền hạn, chúng ta có thể thấy bên cạnh hoạt động ban
hành quyết định quản lý, UBND cấp tỉnh còn thực hiện nhiều hoạt động
khác.
ƯBND cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ. quyền hạn của mình tổ chức
triển khai, chỉ đạo thực hiện các để án. chương trình, dự án trong các lĩnh
vực trên địa bàn tỉnh, tham gia với các bộ. ngành, trung ươns xây dựng các
chương trình dư án của bộ, ngành, truns ương trên địa bàn tỉnh. Nsoài ra.
UBND tỉnh còn tổ chức các hội thi phong trào thi đua, mít tinh, tuần hành
trên địa bàn tỉnh như: tuyên truyền, phổ biên, giáo dục pháp luật, phòne
chống các tệ nan xã hội, các hội diễn thê due thể thao, triển lãm hội chợ.
sinh hoạt văn hóa trên địa bàn tỉnh. UBND cấp tỉnh cấp. thu hổi siấ\ phép
* # _ V A h 4 * 1
'7^ :,M . '-)<
\ Z T i / 'rX
17
kinh doanh du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, cho phép thành lập. giải thể,
cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước theo phân cấp của Chính phủ; cấp,
thu hồi giấy phép thành lập doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu
hạn, công ty cổ phần, cho phép các tổ chức kinh tế trong nước đặt văn
phòng đại diộn, chi nhánh hoạt động trên địa bàn tỉnh [41' Đ l9*23]
Như vậy, bên cạnh hoạt động ban hành quyết định quản lý, UBND cấp

Đó là hoạt động không thể thiếu và trong nhiều trường hợp, ở vào những
thời điểm nhất đinh các hoạt động này có phần diễn ra phổ biến và là hình
thức hoạt động quan trọng của UBND cấp tỉnh.
Bên canh đó, UBND cấp tỉnh cũng thực hiện các hoạt động mang tính
chất tác nghiệp vật chất - kỹ thuật cụ thể. Đây là hình thức trợ giúp cho
hình thức ban hành quyết định quản lý nhà nước. Ví dụ: Chuẩn bị tư liệu,
dữ liệu thông tin cho việc ban hành quyết đinh quản lý, lập các báo cáo,
nhật trình công việc, chuẩn bị các tài liệu liên quan đến kỹ thuât, quản lv
công văn, giấy tờ, quản lý máy tính [I8-ư 279]
Những công việc này thường do văn phòng của UBND cấp tỉnh thực
hiện. Với tính chất là bộ máy làm việc của UBND cấp tỉnh, văn phòng
UBND có chức năng phục vụ sự quản lý tập trung thống nhất, sự chỉ đạo
điều hành mọi mặt công tác của UBND cấp tỉnh. Với vị trí đó, văn phòng
ƯBND cấp tinh có những nhiệm vụ như: tổ chức công tác thông tin và xử lý
thông tin bảo đảm phản ánh được thường xuyên, kịp thời, chính xác tình
hình các mặt công tác trong tỉnh, xây dựng chươns trình làm việc của
UBND cấp tỉnh, giúp UBND cấp tỉnh quản ]v côns tác văn thư. hành chính,
lưu giữ hổ sơ của UBND và hướng dẫn các neành trong tỉnh và huvện về
công tác văn thư, hành chính và lưu giữ thống nhất theo đúns nsuvên tắc,
chê độ của Nhà nước, đảm bảo các điều kiện vật chất cho bộ máy của uỷ
ban hoạt động bình thường (sắp xếp nơi làm viộc, tổ chức bộ máy dịch vụ,
tổ chức các cuộc hội nghị do uỷ ban triệu tập).[37, Đ 2 31
Nhìn chung, đúng với tính chất của mình, văn phòng của UBND cấp
tỉnh có nhiệm vụ đảm bảo các điều kiện vật chất, kỹ thuật - nghiệp vụ cho
hoạt động của UBND. Tuy nhiên, nhiều khi việc ban hành quyết định quan
lý nhà nước của UBND cấp tỉnh lại do các cơ quan chuyên môn của uỷ ban
đề nghị. Trong những trường hợp đó việc thành lập ban soạn thảo do chủ
tịch UBND cấp tỉnh quyết đinh và thành phần chủ yếu là chính cơ quan
chuyên mồn đó và một số ban ngành khác. Việc chuẩn bị tư liệu, dữ liệu,
thông tin cho việc ban hành quyết đinh quản lý do chính ban soạn thảo đảm

nhiều trường hợp cũng chỉ nhằm hỗ trợ hoặc tạo điều kiện cho hoạt động
xây dựng, ban hành hoặc tổ chức thực hiện các quyết định quản lý.[3]
Chẳng hạn, khi tiến hành kiểm tra, nếu phát hiện vi phạm pháp luật thì
ƯBND cấp tỉnh có thể ra quyết định xử lý vi phạm hành chính hoặc tổ chức
các phong trào thi đua, đợt vận động để thực hiện các quyết đinh quản lý
quan trọng.
Hơn nữa, vị trí của các quyết đinh quản lý đối với toàn bộ hoạt động
của UBND cấp tỉnh còn được khẳng đinh ở chỗ quyết đinh quản lý là cơ sở
pháp lý cho hoạt động của uỷ ban và cơ sở cho các hình thức quản lý khác.
Như đã biết, hoạt động của UBND cấp tỉnh được thể hiện qua hoạt động của
tập thể uỷ ban, các thành viên uỷ ban, của các cơ quan chuyên môn của uỷ
ban. Thông thường, các hoạt động này cũng cần phải có sư định hướng về
mặt nguyên tắc và trong nhiều trường hợp phải được luật hóa. Điều này đã
được thể hiện ở chức năng, nhiệm vụ, quvền và tổ chức của các cóng tác
này và chính điều này đã được luật hóa bang các văn ban pháp luât có giá

Trích đoạn Quan hệ giữa quyết định quản lý nhà nước của UBND cấp tỉnh với quyết định pháp luật của toà án nhản dán và viện kiểm sát nhân dán Thực trạng thủ tục xây dựng và ban hành quyết định quản lý nhà nước của UBND cấp tỉnh Cac giai pháp hoàn thiện thủ tục xâv dựng và ban hành quvết định quản lý nhà nước của UBND cấp tỉnh tinh, các thành v ita UBND tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân tinh, các ca quan
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status