Quản lý Nhà nước đối với báo chí - Pdf 26

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 20 năm đổi mới, cùng với kinh tế, nền báo chí cách mạng Việt Nam
đã không ngừng phát triển và đạt được những thành tựu quan trọng. Báo chí đã bám
sát đời sống xã hội, cung cấp những thông tin đa chiều, sâu sắc; tuyên truyền chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước hiệu quả. Vai trò của báo chí ngày càng
nâng cao trong đời sống xã hội, đặc biệt là trong quá trình đấu tranh chống tham
nhũng, quan liêu, lãng phí. Trước tình hình đó, ngày 17-10-1997, Bộ Chính trị Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã ban hành Chỉ thị 22-CT/TW về việc tiếp
tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản. Đây chính
là động lực để kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa X thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Báo chí ngày 12-6-1999. Điều này cho thấy, Nhà nước ta đã thể
hiện sự cố gắng trong quá trình quản lý hoạt động báo chí phù hợp với điều kiện, tình
hình mới.
Tuy nhiên, khi mà sự phát triển không đi cùng với việc nâng cao năng lực
quản lý phù hợp đã làm cho hoạt động báo chí bộc lộ nhiều bất cập, thiếu ổn định.
Đó chính là xu hướng thương mại hóa, xa rời tôn chỉ mục đích, đối tượng phục vụ;
làm lộ bí mật, an ninh quốc gia; nhiều tờ báo chạy theo thị hiếu tầm thường, đăng bài
ảnh dung tục, thiếu văn hóa, đi ngược lại thuần phong mỹ tục; nhiều địa phương vì lý
do này hoặc lý do khác đã gây cản trở hoạt động của phóng viên, cung cấp thông tin
sai lệch v.v... Trong khi đó, dưới góc độ Nhà nước thì các công cụ quản lý về báo chí
mà chủ yếu là pháp luật chưa hoàn thiện, không phù hợp với thực tiễn phát triển sinh
động trong lĩnh vực báo chí thời gian gần đây.
Tất cả đã đặt ra nhu cầu cần phải có những giải pháp hữu hiệu để nâng cao
hiệu quả quản lý Nhà nước cả về phương diện pháp lý lẫn thực tiễn. Chính từ bức
xúc như vậy mà tác giả đã tiến hành chọn đề tài “Quản lý Nhà nước đối với báo chí”
để nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp Cao học Luật của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đây là một lĩnh vực tương đối mới. Trong quá khứ cũng như hiện nay chỉ có
một số nghiên cứu chính thức về lĩnh vực này có thể kể đến như:
+ PGS.TS Lê Thanh Bình, ThS.Phí Thị Thanh Tâm: Quản lý Nhà nước và

luận cũng như thực tiễn của nội dung này. Đề tài sẽ không đề cập các nội dung liên
quan đến vấn đề về nghiệp vụ báo chí.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp chủ yếu để tiến hành nghiên cứu đề tài này dưa trên cơ sở
của phép biện chứng duy vật, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin. Ngoài ra,
tác giả cũng sẽ sử dụng tổng hợp các phương pháp hệ thống hóa, phân tích, so sánh
trên cở sở từ kết quả đi thực địa.
2
6. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Đề tài khi được hoàn thành sẽ là một tập luận văn trong đó bao hàm những lý
luận cơ bản nhất về quản lý Nhà nước hoạt động báo chí, thực trạng và hướng hoàn
thiện liên quan đến quản lý Nhà nước về hoạt động báo chí.
Đây sẽ nguồn tư liệu tham khảo và là ý tưởng đề xuất chân thành đối với các
cơ quan, tổ chức hoạt động liên quan đến lĩnh vực này.
7. Kết cấu Luận văn
Phần mở đầu
Phần nội dung: Gồm 2 chương
Chương 1: Những vấn đề chung về quản lý Nhà nước đối với báo chí.
Chương 2: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối
với báo chí.
Phần kết luận
3
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI BÁO CHÍ
1.1. Khái quát về báo chí
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và lịch sử hình thành báo chí
1.1.1.1. Khái niệm báo chí
Trong xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra một cách mạnh mẽ trên thế giới như
hiện nay, hoạt động thông tin nói chung và báo chí nói riêng ngày càng đóng vai trò

Theo triết học cổ Hy Lạp: “Chữ báo chí xuất phát từ chữ information có
nghĩa là thông tin, thông báo, báo tin và được hiểu như việc tạo ra hình thái giúp cho
sự hiểu biết của con người về thế giới xung quanh đang tồn tại bằng việc lấy hiện
thực khách quan để phản ánh một cách liên tục, xuyên suốt trong quan hệ chặt chẽ
giữa nhà báo - tác phẩm - công chúng”.
1
Trong khi đó, chính các tác giả quyển sách này lại cho rằng: “Báo chí là bao
gồm tất cả các tổ chức thông tin thuật những loại hình khác nhau (xuất bản, radio,
vô tuyến truyền hình…) và ở những cấp độ khác nhau từ trung ương đến địa phương,
với ý nghĩa là tất cả các phương tiện thông tin đại chúng”.
2
Một số quan điểm khác thì không định nghĩa báo chí riêng biệt mà gắn liền
báo chí với truyền thông. Ở cách hiểu này, trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn
ngữ học định nghĩa báo chí truyền thông hiểu theo nghĩa chung nhất và trừu tượng
nhất là “quá trình truyền dữ liệu giữa các đơn vị chức năng”.
3
Trong Từ điển xã hội học do G. Endruweit và G. Trommsdorff chủ biên, định
nghĩa báo chí truyền thông là “sự tạo ra mối liên hệ giữa hai đối tượng có thể mang
bản chất sự sống hay không”.
4
Còn tác giả Trần Hữu Quang trong cuốn Xã hội học truyền thông đại chúng
thì khẳng định: “Báo chí truyền thông là một quá trình truyền đạt, tiếp nhận và trao
đổi thông tin nhằm thiết lập các mối liên hệ giữa con người với con người”. Theo đó,
tác giả này định nghĩa, “truyền thông đại chúng là quá trình truyền đạt thông tin một
cách rộng rãi đến mọi người trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông
đại chúng như phát thanh, truyền hình”.
5
Nhìn chung, các tác giả trên bằng cách này hay cách khác, đã cố gắng đưa ra
những định nghĩa chung nhất về báo chí và tựu trung lại đều xem báo chí như một
phương tiện diễn đạt, chia sẻ thông tin giữa các chủ thể khác nhau trong xã hội.

nước đối với hoạt động báo chí.
1.1.1.2. Đặc điểm của báo chí
Với các khái niệm được trình bày như trên, phần nào đã cho chúng ta tiếp cận
một cách khái quát về báo chí và những biểu hiện cụ thể của nó. Dù các khái niệm
chưa được hoàn chỉnh, chuẩn mực bởi yếu tố lịch sử và những biểu hiện của hoạt
động báo chí nhưng nhìn chung báo chí có những đặc điểm chính sau:
a. Báo chí mang tính lịch sử
Trước nhu cầu thông tin và truyền tin của xã hội, báo chí đã xuất hiện và phát
triển cùng với sự phát triển của người. Báo chí là một phạm trù lịch sử, nó sẽ tồn tại
lâu dài cùng với sự tồn tại con người. Ngày nay, chưa có một nhà nghiên cứu nào có
thể tiên liệu trước sự mất đi của báo chí.
Chính một quá trình tồn tại song hành cùng với xã hội loài người và có những
ảnh hưởng, tác động đến đời sống, suy nghĩ, sinh hoạt và nhu cầu hưởng thụ văn hoá
của con người nên báo chí sẽ phải luôn có sự biến đổi cho phù hợp với thực tại. Vì
thế, qua mỗi thời kỳ lịch sử, báo chí đều có những biểu hiện rất khác nhau. Bên cạnh
đó, nội dung chuyển tải thông tin của báo chí và các hình thức biểu hiện của báo chí
cũng có sự thay đổi. Điều này có thể nhận thấy rõ nét nhất qua những thay đổi như
6
vũ bão của báo chí thế giới cũng như Việt Nam cùng với khả năng đáp ứng ngày
càng cao nhu cầu của quần chúng. Cụ thể, khi mới hình thành, báo chí chỉ là những
trang chép tay, truyền nhau đơn giản và rất sơ khai, tường thuật các lễ hội, chiến trận,
phục vụ nhu cầu của một bộ phận nhất định trong xã hội. Thời kỳ này, báo chí
thường không gắn liền với lịch ích kinh tế và không mang tính thương mại mà chủ
yếu vì nhu cầu tìm hiểu thông tin của con người. Kể từ đó, báo chí có những bước
phát triển khá dài. Sau những bản chép tay là những bản báo in đầu tiên và phát triển
cho tới đa phương tiện như ngày nay, tất cả điều đó đều là kết quả của quá trình phát
triển lâu dài với nhiều thách thức. Tùy theo điều kiện lịch sử và xu hướng của công
chúng, hệ thống báo chí có những bước đi riêng của mình để đáp ứng lại những điều
đó. Trong xã hội hiện đại, báo chí dần dần mang tính toàn cầu hóa, quốc tế hóa, tập
trung và độc quyền hóa với sự hiện diện của các tập đoàn thông tin, truyền thông đa

Nhà nước.
Chính vì lẽ đó mà, ngay từ khi xây dựng Luật Báo chí đầu tiên, Nhà nước ta
đã thống nhất xác định: “Báo chí ở nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn
luận của các tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội (dưới đây gọi
chung là tổ chức); là diễn đàn của nhân dân”.
6
Nhận thức một cách sâu sắc đặc điểm này của báo chí sẽ giúp cho các nhà
quản lý rất nhiều trong nhiệm vụ quản lý hiệu quả các hoạt động báo chí, phát triển
các yếu tố tích cực của báo chí, giảm thiểu và hạn chế những nguy cơ gây hại trong
hoạt động báo chí, góp phần vào sự giữ gìn, ổn định an ninh trật tự xã hội, phát triển
kinh tế và chủ động hội nhập với thế giới.
c. Báo chí mang tính chính trị
Báo chí tự bản thân không mang tính chính trị nhưng các giai cấp, các lực
lượng xã hội luôn muốn lợi dụng nó để phục vụ cho lợi ích chính trị của mình. Vì thế
báo chí mang tính chính trị sâu sắc. Ngoài ra, báo chí không chỉ là nhu cầu thông tin,
giải trí về mặt tinh thần mà còn ảnh hưởng đến các vấn đề xã hội, đến quan hệ quần
chúng, quan hệ dân tộc và quan hệ quốc tế. Báo chí chính là một sợi dây liên kết mọi
người và có tính hiệu triệu rất cao nên dễ dàng tác động đến các vấn đề nhạy cảm về
chính trị.
Khi mới hình thành, với hình thức sơ khai thì tính chính trị của báo chí không
được biểu hiện một cách rõ nét, hay nói cách khác, vấn đề chính trị trong báo chí
không được con người đề cập đến. Theo sự phát triển của xã hội và khi báo chí ngày
càng phát huy vai trò trong việc hiệu triệu quần chúng, sự đối kháng về quyền lợi
giữa các giai cấp khác nhau, giữa các quốc gia dân tộc, các vùng miền lãnh thổ với
nhau ngày càng cao thì tính chính trị của báo chí bộc lộ mạnh mẽ bằng quyền lực và
các chiêu bài được toan tính kỹ càng. Các lực lượng lãnh đạo tìm cách biến báo chí
6
Điều 1, Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung năm 1999
8

báo chí cũng không là ngoại lệ.
Nguồn lợi mà các tập đoàn báo chí mang lại thông qua hai dạng thức chủ yếu:
trực tiếp và gián tiếp. Nguồn lực trực tiếp thu được qua việc bán các sản phẩm hàng
hoá, dịch vụ báo chí và hoạt động quảng cáo. Ở các nước công nghiệp phát triển,
9
nguồn thu từ quảng cáo ngày càng lớn, chiếm phần chủ yếu tổng doanh thu của các
tờ báo, các đài phát thanh truyền hình, còn những tờ báo phát không, có nghĩa là các
hợp đồng quảng cáo trở thành nguồn thu duy nhất. Nguồn lợi gián tiếp mà các tập
đoàn báo chí, truyền thông thu được qua việc tạo ra những ảnh hưởng chính trị, làm
thay đổi các chính sách của nhà nước, hình thành những điều kiện đầu tư thuận lợi,
những đơn đặt hàng béo bở. Về sâu xa thì đây mới là nguồn lợi to lớn hơn mà các tập
đoàn báo chí muốn hướng đến. Và là lý do quan trọng nhất để dẫn tới sự liên kết báo
chí với giới công nghiệp, tài chính, dịch vụ để hình thành những tập đoàn độc quyền
khổng lồ.
Tại các nước phương Tây, tập đoàn tư bản thông qua báo chí để quảng bá,
quảng cáo, giữ gìn, đánh bóng thương hiệu của mình, dùng báo chí làm cầu nối giữa
sản phẩm của mình với công chúng. Hơn nữa, báo chí lại là ngành kinh doanh hái ra
tiền. Vì thế mà từ khi khai sinh, mục đích thương mại của báo in đã rất rõ ràng. Tờ
Anzeiger (nghĩa là Người quảng cáo) xuất bản ở Dresden (Đức) năm 1730, theo nhà
nghiên cứu Anthony Smith, đã tự cho mình là phục vụ tất cả những ai trong hay
ngoài thành phố muốn mua hay bán, cho thuê hay đi thuê, cho vay hay đi vay. Ở Mỹ,
trong thời gian thuộc địa, thương mại là một yếu tố tiên quyết của báo chí
7
. Riêng
ngành công nghiệp báo in Mỹ, thu nhập tăng từ 12.2 tỉ USD vào năm 1975 lên 54.9
tỉ USD năm 2000. Nói cách khác, báo in thu nhập tăng 2.5 lần từ quảng cáo năm
2000 so với năm 1950
8
.
Ngày nay, khi internet phát triển, các báo mạng xuất hiện cũng là môi trường

trước Tây lịch)… đã tạo ra những hiện tượng của thời tiền báo chí. Sự tuyên truyền
trong dân chúng của những người đưa tin nhằm mục đích tác động tới các hoạt động
tâm lý, tư tưởng của họ, hình thành nên quan điểm, ý niệm, mong muốn hướng họ
vào các hoạt động này hoặc hoạt động khác.
Thời kỳ này, ở các quốc gia rộng lớn, bên cạnh hình thức phổ biến tin tức
bằng truyền miệng đã xuất hiện việc gởi công văn bằng chữ viết đi khắp nơi. Những
bản tin khẩn cấp có hình dạng như những quyển sổ ghi chép tin tức bắt đầu được sử
dụng. Trong vương triều Ai Cập cổ đại đã xuất hiện loại “báo chí thảo” như viết trên
lá cây, ván gỗ, vỏ cây… Các nhà nước La Mã cổ đại (từ thế kỷ thứ I trước Tây lịch
đến thế kỷ thứ IV sau Tây lịch) đã xuất bản những bản tin tổng hợp, ban đầu được
xem như sắc lệnh, chỉ thị của Cesar. Tin tức được viết trên một tấm bảng bằng thạch
cao và treo nơi công cộng, dễ nhìn thấy. Các bản tin tổng hợp này được sao ra nhiều
bản và được gởi đến các thành phố, tỉnh thuộc đế quốc La Mã cho các quan chức địa
phương, các thủ lĩnh quân sự và dân chúng biết để thi hành mệnh lệnh của chính
quyền trung ương.
Ở Nhật Bản, trước khi xuất hiện kỹ thuật ấn loát, đã có các tờ báo bằng đất sét
nung có khắc tin tức. Tấm bảng đất sét nung cổ nhất được tìm thấy ở Nhật Bản có từ
năm 1615. Ở Anh cũng có những bản tin viết tay từ năm 1615. Riêng ở Nga, thời kỳ
Nga hoàng đã thực hiện bản tin với tên gọi “Đồng hồ chuông”. Song song đó, trong
xã hội cũng xuất hiện một bộ phận người làm công tác truyền tin. Trong thời kỳ
Trung cổ ở châu Âu, có những khu vực đã thành lập những văn phòng để lựa chọn và
11
phổ biến tin tức như Novellanti ở Roma, Serittori d’awiso ở Thụy Sĩ. Mặc dù chưa
hình thành nên những cơ quan thông tấn báo chí đúng nghĩa nhưng vẫn có những
nhóm có tổ chức thực hiện công việc phổ biến tin tức trong đại bộ phận công chúng
khác nhau. Những năm 30 của thế kỷ XVI, khi công nghệ in xuất hiện ở châu Âu thì
các bản tin bắt đầu được tập hợp và in hàng loạt. Đây được xem là các tiền đề vật
chất đầu tiên của báo chí.
Đến thế kỷ XVI, khi chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh, việc buôn bán giữa các
nước tăng lên làm nảy sinh nhu cầu tin tức về thương mại và các tin tức khác trong

nhu cầu về thông tin của con người.
b. Lịch sử hình thành và phát triển của báo chí Việt Nam
Lịch sử báo chí Việt Nam tính từ năm 1865 khi tờ “Gia Định báo” ra đời
đến nay đã được 145 năm. So với lịch sử báo chí trên thế giới, báo chí nước ta ra
đời và phát triển tương đối muộn nhưng với điều kiện Việt Nam chừng ấy năm cũng
là một dấu mốc lớn. Trong dòng chảy chung ấy có nhiều khuynh hướng báo chí khác
nhau: báo chí của thực dân đế quốc xâm lược; báo chí của những người Việt Nam
yêu nước, báo chí cách mạng và nổi bật lên là dòng báo chí cách mạng.
Theo các cột mốc thời gian, lịch sử báo chí Việt Nam diễn ra như sau: Ngày
15-4-1865, tờ báo Quốc ngữ Việt Nam đầu tiên - Gia Định báo ra số 1 tại Sài Gòn,
đánh dấu cột mốc khởi nguyên của báo chí Việt Nam. Tuy nhiên trong thời gian này,
thực dân Pháp đã siết chặt sự quản lý đối với báo chí và chính vì lẽ đó, trước sự đấu
tranh của công luận, vào năm 1881, chính quyền thực dân Pháp buộc phải ban hành
đạo luật để nới lỏng kiểm soát báo chí tại Nam Kỳ.
Đến năm 1888, tờ nguyệt san “Thông loại khóa trình” số 1 - tờ báo Quốc ngữ
thứ tư đầu tiên được phát hành. Và sau đó một thời gian dài, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc
sáng lập báo Thanh Niên và cho phát hành số đầu tiên vào ngày 21-6-1925, khai sinh
ra nền báo chí cách mạng Việt Nam. Ngày 21-6-1925 đã trở thành ngày kỷ niệm Báo
chí cách mạng Việt Nam hàng năm. Tiếp theo đó, vào ngày 5-8-1930, tạp chí Cộng
sản - tạp chí lý luận và chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, ban đầu có
tên là Tạp chí Đỏ.
Liên tiếp trong các năm 1945 và 1946, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã
Việt Nam được thành lập. Cũng trong năm 1946, những người viết báo Việt Nam đã
tập hợp lại trong một tổ chức gọi là Đoàn Báo chí Việt Nam - tiền thân của Hội Nhà
báo Việt Nam hiện nay. Đến tháng 4-1949, lớp học về báo chí đầu tiên trong lịch sử
nước ta mang tên Huỳnh Thúc Kháng được Đoàn Báo chí kháng chiến mở để đào tạo
cán bộ báo chí, thu hút gần 60 học viên. Đây là lớp học báo chí đầu tiên trong lịch sử
báo chí Việt Nam. Và một năm sau, Đoàn Báo chí cách mạng được chấn chỉnh thành
Hội Những người viết báo Việt Nam. Ngày 2-6-1950, Chính phủ chính thức ban hành
quyết định thành lập Hội Những người viết báo Việt Nam và Hội gia nhập ngay Mặt

phát triển đất nước, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sự đồng thuận
xã hội, sự hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân các nước trên thế giới. Báo chí phải
không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng, tăng cường tính chuyên nghiệp, đáp ứng
yêu cầu sự nghiệp đổi mới của đất nước và nhu cầu thông tin ngày càng cao của xã
hội.
14
1.1.2. Các loại hình báo chí trong giai đoạn hiện nay
Bởi tính chất đặc thù của hoạt động báo chí và cách hiểu của từng quốc gia
khác nhau nên cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất chung về các loại hình báo chí.
Hơn nữa, hoạt động báo chí ở Việt Nam là hoạt động tuy đã có hơn gần 150 năm
nhưng so với thế giới vẫn còn khá mới mẻ. Chính vì lẽ đó mà những quan niệm và
các loại hình báo chí ở Việt Nam có nhiều điểm khác biệt và cần có thời gian tiếp thu,
hội nhập. Dù vậy, căn cứ vào Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung 1999 và trên cơ sở tổng
hợp các nguồn tài liệu khác nhau, có thể khái quát các loại hình báo chí hiện nay như
sau:
1.1.2.1. Báo in
Báo in là tên gọi chung cho báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn…
Báo in là loại hình báo chí ra đời sớm nhất trong trong lịch sử nhân loại. Nhờ vận
dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật mới đã giúp báo in có những bước tiến
trong công nghệ cũng như quy trình làm báo. Đồng thời báo in cũng ngày càng phong
phú, chất lượng hơn về nội dung thông tin và hình thức trình bày.
Chính thức có mặt như một tờ báo vào thế kỷ thứ XVII, từ một bản tin nhỏ
đến nay trên thế giới, báo in đã phát triển vượt bậc mà biểu hiện cụ thể là nhiều tập
đoàn truyền thông xuất hiện, chi phối đến các hoạt động khác của xã hội. Ở báo in,
có một đặc điểm cơ bản mà khó có thể tồn tại ở các loại hình báo chí khác, đó chính
là tính hiện diện. Báo in có thể hiện diện khắp nơi trên thế giới mà không phụ thuộc
kỹ thuật công nghệ hiện đại hay phương tiện truyền tải kỹ thuật số. Ngoài ra, tính
hiện diện của báo in còn được biểu hiện qua việc tiếp cận đến tất cả các đối tượng
độc giả khác nhau. Có lẽ nhờ đặc điểm này, báo in đã tồn tại với bạn đọc dù gặp sự
cạnh tranh khốc liệt bởi các loại hình báo chí khác, nhất là ở các nước phương Đông.

người khi các chương trình phát sóng được thực hiện đều đặn hàng ngày. Mốc son
khẳng định này được thực hiện ở Đài KDKD của Công ty Westinghous ở East
Pittsburg, khi phát sóng mở màn vào ngày 1-11-1920, với bản tin công bố kết quả
bầu cử tổng thống.
Phát thanh là một loại hình báo chí từng có thời gian dài thống lĩnh các
phương tiện truyền thông. Bởi lẽ phát thanh có phương thức và con đường tác động
đến thính giả một cách riêng biệt, trong đó từ ngữ với phương thức biểu đạt bằng lời
nói là phương tiện chuyển tải ý nghĩa và tình cảm, gắn liền với âm thanh và tiếng
động minh hoạ. Bản chất quá trình tác động của báo nói là một sự tương tác để đi đến
sự hiểu biết, là sự truyền tải ý tưởng, tình cảm bằng cách sử dụng hệ thống các ký
hiệu âm thanh phong phú. Đây là một quá trình liên tục mà chính bản thân báo viết
không hề có được. Hơn nữa, tốc độ chuyển tải thông tin của báo nói cũng nhanh hơn
báo viết gấp nhiều lần. Tuy nhiên, so với báo hình, thính giả tiếp nhận thông tin qua
phát thanh không có khả năng nhìn được bằng mắt. Người nghe không thể nhìn thấy
những dấu hiệu khác thường khi giao tiếp bằng lời nói như khi biểu đạt bằng nét mặt,
16
sử dụng tay để minh hoạ. Các hình thức giao tiếp bằng mắt, ngôn ngữ, cử chỉ không
thể được sử dụng để chuyển tải ý nghĩa thông điệp. Bởi vậy, đây là một điểm yếu
buộc báo nói phải phát huy những lợi thế để bù đắp.
Theo xu thế phát triển, một mặt các phương tiện truyền thông đại chúng trong
đó có báo nói phải không ngừng thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của công chúng,
mặt khác bản thân công chúng lại liên tục đặt ra những yêu cầu mới đối với hoạt
động của hệ thống này. Đó chính là những đòi hỏi của bạn nghe đài trước cuộc sống,
và những nhu cầu tinh thần ngày một đa dạng phong phú. Cũng chính điều này đang
là lý do tạo ra cạnh tranh quyết liệt giữa các cơ quan truyền thông đại chúng để làm
sao ngày càng có thêm nhiều bạn đọc, người nghe, người xem. Ở các đô thị lớn, đời
sống kinh tế tăng trưởng hơn, kèm theo đó là sự phát triển mạnh mẽ của các phương
tiện thông tin đại chúng. Do đó cách thức tiếp nhận thông tin của công chúng có
nhiều thay đổi. Công chúng hiện nay và sau này vẫn luôn luôn cần đến một âm thanh
không có hình ảnh để có được cái quyền tự họ mỗi buổi sáng, rút ra được cái ý nghĩa

của Anh sử dụng các bức ảnh của truyền hình điện tử để phát sóng cho đông đảo
người xem. Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô (năm 1939) rồi tới Mỹ
(1942) đã có các chương trình truyền hình phát sóng đều đặn. Tuy nhiên, do chiến
tranh đã không cho phép truyền hình tiếp tục phát triển.
Trong và sau chiến tranh, nước Mỹ là nơi duy nhất vẫn duy trì chế độ phát
sóng đều đặn, những phát minh công nghệ cơ bản vẫn được áp dụng nhanh chóng,
vượt lên trước các nước tiên tiến qua các cột mốc như sau: Năm 1954 phát thanh
màu, năm 1956 sáng chế được băng ghi hình điện tử, năm 1962 truyền phát bằng vệ
tinh, từ năm 1960 đến năm 1970 có truyền hình cáp, năm 1975 có chương trình HBO
trả tiền trước, năm 1981 có chương trình thông tấn đặc biệt CNN v.v...
Ở Việt Nam, ngay trong thời kỳ chiến tranh khốc liệt, các chương trình thí
nghiệm về truyền hình đã được Đài Tiếng nói Việt Nam thực hiện. Ngày 7-9-1970,
nhân dân Hà Nội đã được tận mắt chứng kiến những hình ảnh truyền hình đầu tiên.
Tại miền Nam Việt Nam, năm 1962 đã xuất hiện đài truyền hình phục vụ quân đội
Mỹ-ngụy. Và tháng 5-1976, Đài Truyền hình Việt Nam với tư cách là đài truyền hình
quốc gia của đất nước Việt Nam thống nhất đã chính thức phát sóng và được xem
như một bước phát triển mới của lịch sử báo chí Việt Nam.
Từ kỹ thuật phát sóng lục địa, thông qua các đài phát mặt đất, ngày nay báo
hình đã được phân phối qua vệ tinh và qua mạng cáp quang. Chính những biểu hiện
ưu việt về cả hình ảnh, âm thanh sinh động được truyền dẫn trực tiếp liên tục và sự
đầu tư về kỹ thuật chuyên sâu nên báo hình dù xuất hiện sau nhưng đã trở nên phổ
biến và có tính cạnh tranh cao so với loại hình báo chí khác. Sự hấp dẫn đã tạo cho
báo hình những bước đi thuận lợi và thể hiện sự đột phá để phục vụ khán giả ngày
càng tốt hơn trong điều kiện kén chọn của người xem, nghe và đọc như hiện nay.
18
Điều này đã giúp cho báo hình liên tục đứng vững trước thực trạng các loại hình báo
chí khác có dấu hiệu xuống dốc trong thời kỳ bùng nổ thông tin hiện nay.
1.1.2.4. Báo điện tử
Báo điện tử là loại hình báo chí được thực hiện trên mạng thông tin máy tính,
tuy chỉ vừa mới xuất hiện trong vài năm trở lại đây nhưng đã có một chỗ đứng nhất

mạng phía dưới bài báo luôn có một khung dành riêng cho ý kiến độc giả), và qua đó
tòa soạn cập nhật những nhận xét hay những thông tin nóng được nhanh chóng hơn.
Ngoài ra, báo điện tử còn thể hiện ưu thế bởi yếu tố đa phương tiện
(multimedia). Có thể coi báo điện tử hiện nay là sự hội tụ của cả báo giấy (text), báo
nói (audio) và báo hình (video). Người đọc lướt web không chỉ được cập nhật thông
tin dưới dạng chữ viết mà còn có thể nghe rất nhiều kênh phát thanh và xem truyền
hình ngay trên các website báo chí. Ưu thế này không hề xuất hiện ở các loại hình
báo khác.
Chính những sự ưu việt trên đã giúp loại hình báo điện tử phát triển nhanh
chóng, đồng thời đẩy những loại hình báo chí khác rơi vào khủng hoảng. Đầu tiên
phải kể đến báo in khi vào năm 2008, 5 tờ báo lớn nhất nước Mỹ đều sụt giảm lượng
phát hành. Tờ New York Times giảm 3.6%, Los Angeles Times giảm 5.2%, Daily
News giảm 7.2%, New York Post giảm 6.3%. Tờ nhật báo hàng đầu Christian Sciene
Monitor (CSM) cũng tuyên bố sẽ đình bản in hằng ngày từ tháng 4-2009. Hàng loạt
vụ phá sản của báo chí Mỹ cũng xảy ra trong năm 2008, khi mà báo điện tử vươn lên
chiếm thế độc tôn.
Ngày nay, sự phát triển nhanh chóng của internet càng làm cho báo điện tử lớn
mạnh và từ đó cũng tạo cho các loại hình báo chí khác có những sự thay đổi không
ngừng để chiếm lại vị trí của mình trong lòng độc giả. Bên cạnh việc cải tiến nội
dung, các loại báo này đang nỗ lực trong việc đổi mới cách trình bày hay giao diện,
đầu tư kỹ thuật và phát triển thêm nhiều chương trình phát thanh, phát sóng đa dạng,
phong phú. Qua đó, độc giả là người sẽ thụ hưởng nhiều thành quả tích cực từ quá
trình cạnh tranh này.
20
1.1.3. Giá trị và vai trò của báo chí trong đời sống xã hội
Là một loại hình hoạt động mang tính chính trị xã hội, ra đời do nhu cầu
khách quan của xã hội và phát triển đến một trình độ nhất định, báo chí giữ một vai
trò hết sức quan trọng. Bản thân sự ra đời, tồn tại và phát triển của báo chí đã khẳng
định một cách khách quan giá trị và ý nghĩa của nó trong đời sống xã hội. Ở phương
diện nhà nước, bất kỳ một lực lượng cầm quyền nào trong các quốc gia trên thế giới

9
Điều 1, Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung 1999
21
phù hợp với thời đại bùng nổ thông tin hiện nay. Báo chí thể hiện vai trò trong đời
sống xã hội như sau:
a. Báo chí định hướng tư tưởng, dư luận
Báo chí là công cụ, là vũ khí quan trọng trên mặt trận tư tưởng và định hướng
dư luận. Đây là một nội dung đặc biệt được lưu tâm của các chính đảng, các hệ thống
xã hội cũng như các giai cấp nắm quyền lãnh đạo trong xã hội. Trên mặt trận tư
tưởng, báo chí giữ vai trò liên kết những thành viên riêng lẻ của xã hội thành một
khối thống nhất dựa vào một lập trường chính trị chung, thái độ tích cực để xây dựng
và cải tạo xã hội. Một khi nhận thức được tính ưu việt của chế độ xã hội, mục đích,
hành động và kết quả phù hợp với lợi ích của mình, người dân sẽ tự nguyện thực hiện
các nhiệm vụ của mình trên những điều kiện cụ thể.
Ngoài ra, với khả năng tác động mang tính rộng lớn, toàn diện, nhanh chóng
và mạnh mẽ vào xã hội, hoạt động của báo chí có vai trò hết sức to lớn trong công tác
tư tưởng. Báo chí trong quá khứ cũng như hiện tại được xem như cầu nối việc giáo
dục lý tưởng, chính trị, xây dựng nếp sống lành mạnh gắn liền với việc phát huy
những giá trị tinh thần to lớn của nhân loại. Lịch sử cũng chỉ ra rằng, bất cứ chế độ
nào trên thế giới cũng sử dụng và khai thác triệt để các phương tiện truyền thông đại
chúng nhằm phục vụ, củng cố và duy trì chế độ đó. Trong xã hội hiện đại, người nào
nắm được các phương tiện thông tin đại chúng có thể “điều khiển” mọi người theo ý
muốn, có nghĩa là dùng báo chí để hàng ngày phát đi những thông điệp chính trị
nhằm giáo dục ý thức, tư tưởng, định hướng dư luận và thuyết phục quần chúng làm
theo ý muốn của mình.
Ở nước ta, báo chí chính là phương tiện dùng để “tuyên truyền, phổ biến, góp
phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước, thành tựu của đất nước theo tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí; góp
phần ổn định chính trị, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của
nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy

Báo chí không chỉ dừng lại trong việc cung cấp thông tin thuần túy mà còn có
thể hướng dẫn thị trường, hướng dẫn việc áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ
mới, giới thiệu những mô hình, điển hình tiên tiến trong sản xuất và kinh doanh. Với
việc phổ biến các kinh nghiệm thành công hay thất bại trong quản lý, kinh doanh và
áp dụng công nghệ mới, tiết kiệm chi phí trong sản xuất. Không những thế, báo chí
cũng góp phần tạo nên hiệu quả kinh tế lớn cho xã hội
thông qua việc dự báo, cảnh báo những khó khăn, thách thức, tai họa cần phải vượt
qua hay né tránh; phát hiện, đề xuất với Đảng, Nhà nước những khó khăn, bất cập,
vướng mắc cần tháo gỡ. Đôi khi một bài báo tốt, có tầm, sắc bén, kịp thời có thể cứu
một doanh nhân khỏi bị oan sai, cứu doanh nghiệp khỏi đổ bể. Trong thời gian qua,
rất nhiều doanh nghiệp trong nước đã phát triển đều đặn, đạt được những thành tựu
to lớn về kinh doanh, lợi nhuận và trở thành những tập đoàn kinh tế lớn đều có phần
đóng góp không nhỏ của báo chí như: Tập đoàn Bưu chính Viễn thông (VNPT), Tập
đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam, Cà phê Trung Nguyên, Công ty Cổ phần Sữa
Việt Nam (Vinamilk)...
13
12
Bộ Thông tin Truyền thông (2010), Báo chí với công tác tuyên truyền, đấu tranh chống các luận điệu sai
trái - Tài liệu lưu hành nội bộ, NXB Thông Tin và Truyền Thông, Hà Nội, tr. 28
13
Http://vneconomy.vn/65574P0C5/bao-chi-va-doanh-nghiep-de-cung-nhau-boi-ra-bien-lon.htm
23
c. Báo chí làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần xã hội
Làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần của xã hội là một trong những vai
trò mang tính khách quan của báo chí. Bỡi lẽ, báo chí là kênh truyền bá một cách sinh
động nhất các giá trị văn hóa, tinh thần để nâng cao trình độ hiểu biết và đáp ứng nhu
cầu hưởng thụ, giải trí của người dân.
Vai trò của báo chí trong lĩnh vực văn hóa thể hiện trên nhiều mặt. Thứ nhất,
báo chí làm giàu, làm đẹp cho vốn văn hóa dân tộc, nhất là ngôn ngữ, báo chí là nơi
vừa giữ gìn và sáng tạo ra nhiều từ mới, thuật ngữ mới cả trong cách viết và cách thể

Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học. Theo cách hiểu
chung nhất của điều khiển học thì quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay
quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được những mục
đích đã định trước.
Nói tóm lại:
- Quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến các đối tượng
quản lý.
- Quản lý xuất hiện ở bất kỳ nơi nào, lúc nào nếu ở nơi đó và lúc đó có hoạt
động chung của con người.
- Mục đích, nhiệm vụ của quản lý là điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của
con người, phối hợp các hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân tạo thành một hành
động thống nhất của tập thể để hướng đến mục tiêu đã định trước.
- Quản lý được thực hiện bằng tổ chức và quyền uy nhằm đảm bảo sự phục
tùng và tạo sự thống nhất trong quản lý.
Nói đến quản lý Nhà nước đối với báo chí là nói đến những hoạt động của bộ
máy Nhà nước nhằm đảm bảo cho hoạt động báo chí được ổn định và phù hợp với xu
thế phát triển chung của xã hội. Với vai trò là thiết chế trung tâm trong hệ thống
chính trị, Nhà nước đại diện cho nhân dân, đảm bảo cho công dân được thực hiện các
quyền cơ bản của mình, trong đó có quyền về tự do ngôn luận, tự do báo chí. Nhà
nuớc có trách nhiệm điều tiết để đảm bảo báo chí phát triển, đáp ứng các nhu cầu về
thông tin của nhân dân, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc
biệt trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc
đấu tranh chống các thế lực thù địch lợi dụng chính sách tự do ngôn luận, tự do báo
chí để đưa ra các luận điệu sai trái, thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” gây
mất an ninh chính trị và trật tự trong nước.
Qua việc khái quát trên chúng ta có thể hiểu quản lý Nhà nước đối với báo chí
là tổng thể những hoạt động của bộ máy Nhà nước trên cơ sở những quy định của
pháp luật đảm bảo cho báo chí thực hiện được nhiệm vụ thông tin của mình và chịu
sự điều chỉnh thống nhất của pháp luật.
Hay nói cách khác, “Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực báo chí cũng như bất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status