Tạo môi trường cho trẻ làm quen văn học - chữ viết
thông qua phòng thư viện đồ chơi – góc sách
Ở TRƯỜNG MẦM NON 2 THÀNH PHỐ HUẾ
Thư viện đồ chơi trường mầm non 2 Thành phố Huế được hình thành
từ năm 2000. Ngoài những giờ học, hoạt động trên lớp, trẻ được luân phiên
đến thư viện chơi, tập… bởi nơi đây vó nhiều loại sách, đồ dùng, đồ chơi
phong phú, đa dạng. Thư viện đồ chơi có nhiều góc chơi giúp trẻ học bằng
chơi, chơi mà học rất có kết quả. Trong những năm qua, nhà trường đầu tư ở
góc sách trong thư viện đồ chơi nhiều loại sách từ nhà trẻ đến lớp mẫu giáo
theo chủ đề, chủ điểm phục vụ nội dung chương trình giáo dục của ngành
mầm non.
Từ năm thứ nhất thực hiện chuyên đề “Làm quen văn học - chữ viết”,
nhà trường đã có suy nghĩ cần phải phát huy, khai thác hiệu quả phòng thư
viện đồ chơi, nhằm tạo điều kiện để trẻ được thực nghiệm. Đây là môi
trường phong phú giúp trẻ làm quen với việc “đọc sách” từ tuổi mầm non.
Bước đầu hình thành cho trẻ có một số kỹ năng “đọc viết” chuẩn bị điều
kiện để trẻ vào học phổ thông.
Đến nay nhà trường đã có các loại sách: Những bộ tranh nhà trẻ,
truyện tranh chữ to, thơ chữ to, tạp chí, hoạ báo đều có hình ảnh minh hoạ.
Về truyện thì có truyện cổ tích kể theo tranh, truyện dân gian Việt Nam,
truyện kể sáng tạo. Những bài thơ, ca dao, đồng dao cùng các nguồn tài liệu
được chọn lựa phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ và các nội dung sách
có liên quan đặc thù văn hoá địa phương. Sách là một phần trong đồ dùng đồ
chơi cho trẻ: sách giúp trẻ làm quen môi trường chung quanh, làm quen với
tạo hình, với toán, với chữ viết…
Ngoài ra, còn có sách cho giáo viên tham khảo những nội dung văn
hoá Huế, chăm sóc sức khoẻ, sách truyện tranh của nước ngoài… đối với trẻ
đồ chơi cũng là một loại sách đặc biệt sinh động. Trẻ không những xem
tranh, ngắm nhìn tranh trong sách mà trẻ còn hoạt động với đồ vật, đồ chơi,
và tự kể theo ngôn ngữ của trẻ. Giáo viên giúp trẻ sửa những từ trẻ dùng
không đúng và giúp trẻ phát triển từ mới. Trẻ có thể tự làm sách truyện từ
phải nắm chương trình giảng dạy, và cùng hợp tác rất chặt chẽ nên việc thực
hiện chuyên đề đã đạt kết quả rất cao.
Để có được đồ chơi đáp ứng yêu cầu của trẻ, trong quá trình thực hiện
chuyên đề trường đã đầu tư kinh phí 25.400.000đ, tân dụng nguyên vật liệu,
và vận động phụ huynh hỗ trợ sách cho trẻ nên góc sách số lượng ngày càng
nhiều và phong phú. Đến nay thư viện đồ chơi của trường đã có số sách và
đồ chơi như sau:
- Thơ nhà trẻ: 12 cuốn
- Truyện nhà trẻ: 17 cuốn
- Truyện cổ tích:374 cuốn
- truyện sáng tạo: 450 cuốn
- Truyện tranh nước ngoài: 384 cuốn
- Sách cho trẻ thực hành: 680 cuốn
- Sách tham khảo của giáo viên: 120 cuốn
- Đồ chơi, tranh tự vẽ, lô tô, rối đủ loại: 260 bộ
Việc trang trí góc sách, đồ dùng đồ chơi phải phù hợp đặc điểm tâm sinh
lý của trẻ. Tăng cường các điều kiện cho trẻ được hoạt động cá nhân và theo
nhóm nhỏ. Trẻ được rèn luyện khả năng quan sát, cảm thụ, giúp trẻ yêu thích
văn học, phát triển năng khiếu. Trong các buổi biểu diễn văn nghệ trước
quần chúng, trước các bậc phụ huynh, các buổi liên hoan văn nghệ, không
chỉ có trẻ năng khiếu tham gia mà lần lượt các trẻ trong trường đều được
trình diễn kể chuyện, đọc thơ gây được nhiều niềm tin, cảm tình.
Nhờ có sự đầu tư trên nên đã phát huy tối đa khả năng hoạt động của trẻ,
kích thích sự khám phá bằng các giác quan, phát triển trí tò mò ham hiểu
biết của trẻ. Trong những năm qua, nhà trường đã đạt nhiều giải nhất, nhì
trong các Hội thi kể chuyện sách, cấp Thành và cấp Tỉnh. Đó cũng là hiệu
quả phấn khởi của việc đầu tư thích đáng vào hoạt động đồ chơi, sách, tranh
truyện của nhà trường.
Góc sách, thư viện đồ chơi đã giúp trường MN thành phố Huế nâng cao
chất lượng giáo dục toàn diện. Sự phong phú, đa dạng của sách, đồ chơi phù
- Lượng thông tin bao gồm các vấn đề liên quan đến dinh dưỡng, vệ sinh,
phòng bệnh. Các họat động hưởng ứng các phong trào giáo dục sức khỏe của
nhà trường.
- Nội dung được chọn đề tuyên truyền cần căn cứ vào các yếu tố liên quan
như:
+ Tình hình sức khỏe của học sinh có những vấn đề nào phải can thiệp.
+ Tình hình bệnh tật của trẻ có thể phát sinh do thời tiết, khí hậu, môi trường
cần được nhắc nhở đề phòng bệnh, xử lý kịp thời.
+ Tình hình hiểu biết về nuôi con của cha mẹ.
+ Thời điểm chọn nội dung tuyên truyền được gắn kết cùng thời điểm với
các nội dung truyền thông của thế giới, trong nước của thành phố trên các
phương tiện thông tin đại chúng.
Ví dụ: Tháng 3 hàng năm ủy ban nhân dân thành phố tuyên truyền tháng
hành động về chất lượng vệ sinh an tòan thực phẩm thì tại các trường MN
cũng có bandroll tuyên truyền hưởng ứng tháng hành động này đồng thời
trên các bảng tuyên truyền của nhóm, lớp phổ biến các tin như: lực chon
thực phẩm an tòan; cách chế biến hợp vệ sinh, cách ăn uống hợp vệ sinh;
dạy trẻ rửa tay trước khi ăn; Cách bảo quản thức ăn; Giới thiệu họat động
hội thi tay nghề cấp dưỡng đang diễn ra trong trường…
4. Học tập trao đổi khinh nghiệm:
Mở các hội nghị học tập rút kinh nghiệm tại cơ sở từ cấp thành phố đến
quận, huyện để cùng nhau bàn bạc, thảo luận. Nhiều cách làm thuận lợi,
tranh thụ được sự giúp đỡ hợp tác từ nhiều phía giúp các trường làm tốt công
tác tuyên truyền đã được giới thiệu trong các hội nghị như:
- Tổ chức sinh họat câu lạc bộ tuyên truyền viên trong quận, huyện. Các
tuyên truyền viên ngòai việc trao đổi kinh nghiệm, cách giải quyết các tình
huống khi tiếp xúc với phụ huynh còn được cung cấp các thông tin tài liệu từ
ngành. Cùng với các tư liệu tự sưu tầm, đội ngũ tuyên truyền viên đã biên
soạn nhiều bài viết có nội dung phong phú phục vụ cho các vấn đề cần tuyên
truyền trong tháng. Sau đó lại cùng nhau biên tập, trình bày, photo, ép nhực
được tầm quan trọng của công tác phòng chống suy dinh dưỡng, vệ sinh an
tòan thực phẩm, ngay từ đầu năm học 2002-2003 sở GD – ĐT Lâm Đồng đã
xây dựng kế họach triển khai thực hiện chuyên đề “ Nâng cao chất lượng
giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an tòan thực phẩm”. Sau hơn 2 năm chỉ đạo
thực hiện tại các trường MN trong tòan tỉnh, chúng tôi đã rút ra được một số
kinh nghiệm như sau:
A. CÁC HÌNH THỨC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC TRIỂN KHAI THỰC
HIỆN CHUYÊN ĐỀ:
1. Hàng năm vào đầu năm học. Sở Giáo dục và Đào Tạo, các phòng giáo
dục và các trường MN đều tổ chức bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ giáo viên
những kiến thức cơ bản về phòng chống suy dinh dưỡng, nội dung và hình
thức giáo dục dinh dưỡng cho trẻ MN, công tác tuyên truyền giáo dục các
bậc cha mẹ. Trong đó đặc biệt chú trọng việc triển khai giáo dục dinh dưỡng
thông qua họat động bé tập làm nội trợ. Xây dựng các họat động chung có
lồng ghép các nội dung dinh dưỡng theo chủ đề và tổ chức dự giờ cho cán
bộ quản lý và đội ngũ giáo viên tòan ngành học. Đồng thời hướng dẫn các
đơn vị lập kế họach 3 năm và cụ thể từng năm học.
2. Chỉ đạo các trường tổ chức tốt các họat động phòng chống suy dinh
dưỡng, cụ thể như:
- Vận động tổ chức bán trú cho trẻ tại trường, đảm bảo chế độ ăn cho trẻ
theo quy định, thay đổi chế độ ăn, thực đơn phù hợp. Đặc biệt quan tâm đến
việc chăm sóc về tinh thần, tạo bầu không khí đầm ấm giúp trẻ có cảm giác
như bữa ăn tại gia đình, trẻ ăn ngon miệnghơn.
- Phát động ngày hội trứng gà và trái cây tại 11 huyện thị, đảm bảo 1 tuần
cho trẻ có ít nhất 1 lần ăn 1 quả trứng, 1 bữa trái cây ( kể cả trẻ học 1 buổi
vùng dân tộc). Triển khai việc tổ chức cho trẻ được uống sữa đậu nành vào
mỗi buổi sáng.
- Tổ chức vườn rau của bé tại các cơ sở bán trú có điều kiện về đất đai để trẻ
được tiếp xúc với thiên nhiên, giúp trẻ trải nghiệm với thực tế và phát triển.
Đồng thời cải thiện thêm bữa ăn cho trẻ.
họach giáo dục trẻ thường xuyên để động viên trẻ tích cực họat động hơn,
cán bộ- giáo viên thường xuyên học hỏi rút kinh nghiệm trong việc hướng
dẫn. Số trường triển khai bé tập làm nội trợ: 135/135 trường, Số trẻ thực
hiện bé tập làm nội trợ: 19.800 trẻ.
- Hội thi giáo viên giỏi chuyên đề và cô nuôi nấu ăn giỏi được tổ chức hàng
năm. 100% giáo viên và cô nuôi đều tham gia dự thi từ cấp trường đến cấp
tỉnh nhằm nâng cao chất lượng tay nghề cho đội ngũ. Nội dung thi gồm 2
phần: Lý thuyết và thực hành. Qua hội thi đã tuyển chọn được nhiều sáng
kiến kinh nghiệm thiết thực. Kết quả thi cấp tỉnh: có 35 sáng kiến xếp lọai
B : 26 đồ dùng xếp lọai A và 9 đồ dùng xếp lọai B. Có 3 thực đơn được xếp
loại xuất sắc và đã gửi tham gia chuyển chọn cấp bộ.
5. Công tác đảm bảo vệ sinh an tòan thực phẩm được xem là nhiệm vụ
trọng tâm trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc và đã góp phần
nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ:
- Tổ chức bồi dưỡng kiến thức vệ sinh an tòan thực thẩm cho 120 cán bộ
giáo viên nòng cốt cấp tỉnh và 100% cán bộ giáo viên nhất là đội ngũ cấp
dưỡng cấp huyện đồng thời cử cán bộ giáo viên trường điểm tham gia lớp
tập huấn về VSATTP tại TP Hồ Chí Minh.
- Thực hiện xây dựng bếp ăn hợp vệ sinh tại trường có tổ chức bán trú: đảm
bảo bếp không bị bụi, có đủ dụng cụ cho nhà bếp và đồ dùng ăn uống cho
trẻ, có đủ nguồn nước sạch phục vụ ăn uống, có bảng tuyên truyền về 10
nguyên tắc vàng, phân công nhà bếp cụ thể các khâu, tiếp phẩm tìm nguồn
cung cấp thực thẩm an tòan ký hợp đồng cụ thể, chế biến theo thực đơn đảm
bảo nhu cầu dinh dưỡng, và hợp vệ sinh. Kiểm tra sức khỏe cho đội ngũ cấp
dưỡng trước khi hợp đồng làm việc theo định kỳ hàng năm. Xây dựng vườn
rau cho bé tại các trường MN có điều kiện sân vườn rộng và tiếp tục chỉ đạo
điểm phong trào xây dựng VAC tại huyện Đạ Tẻh để góp phần giáo dục
dinh dưỡng và cải thiện bữa ăn cho trẻ đảm bảo VSATTP.
6. Thực hiện quy mô hình phòng chống suy dinh dưỡng là biện pháp
hữu hịêu trong việc nâng cao chất lượng dinh dưỡng và thể hiện sự
được triển khai có hiệu quả góp phần hạ thấp tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng hàng
năm từ 2-3,4%, tỉ lệ trẻ tăng cân thường xuyên 91%, tỉ lệ trẻ kênh A tăng
5,8% so với đầu năm, không còn trẻ ở kênh D, hạn chế tối đa trẻ bị béo phì.
- Tỉ lệ trẻ bán trú ngày càng tăng chiếm tỉ lệ 51,3% so với tổng trẻ ra lớp.
- Chưa có trường hợp dịch bệnh, ngô độc thức ăn nào xảy ra trong trường
mầm non.
C. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM
1. Nhận thức đúng đắn về vai trò, tầm quan trọng của chuyên đề đối với
việc nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ nên Sở đã triển khai nghiêm
túc và chỉ đạo chặt chẽ việc xây dựng, triển khai kế họach năm học đến từng
cơ sở giáo dục MN.
2. Có sự quan tâm của các cấp lãnh đạo Đảng và chính quyền địa phương, sự
chỉ đạo cụ thể sâu sát của các cấp các ngành ( Y tế, UB dân số gia đình và
trẻ em, hội phụ nữ, hội nông dân…) Phối hợp tốt với các ban ngành, đòan
thể: có kế họach cụ thể và thường xuyên họat động, tranh thủ sự hỗ trợ của
các ban ngành, đòan thể và sử dụng có hiệu quả các nguồn thu.
3. Nâng cao nhận thức về trách nhiệm và bồi dưỡng thường xuyên về
chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ giáo viên MN, nhất là xây dựng
được mạng lưới cộng tác viên chỉ đạo chuyên đề từ cấp tỉnh đến các trường
MN.
4. Xây dựng kế họach cụ thể và chọn điểm đầu tư chuyên môn và cơ sở vật
chất.
5. Nâng cao nhận thức của các bậc phụ huynh thông qua công tác tuyên
truyền.
6. Thực hiện có hiệu quả về chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ cũng là một
trong những biện pháp huy động trẻ đến lớp và làm tốt công tác tuyên truyền
cxhăm sóc giáo dục trẻ tuổi mầm non.
7. Hàng năm tổ chức đánh giá, sơ kết, tổng kết theo định kỳ khen thưởng kịp
thời các đơn vị cá nhân điển hình. Đồng thời phổ biến kinh nghiệm, các sáng
kiến kinh nghiệm, các thực đơn tốt cho các đơn vị cùng tam khảo và học tập.