Ứng dụng phần mềm Powerpoint vào dạy - học ngữ văn
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.Về mặt lý luận
Trong thời đại ngày nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách
mạng khoa học kĩ thuật là sự bùng nổ của những thông tin. Thế giới ngày càng
phát triển thì ý thức về vị thế của đất nước trên hoàn cầu ngày càng cao. Song
thực tế đặt ra trước mắt chúng ta một câu hỏi “Phải làm gì để theo kịp với tiến
trình phát triển của quốc tế”. Cùng với nhiều lĩnh vực kinh tế khác, giáo dục là
chìa khóa cho câu hỏi đó.
Ứng dụng công nghệ tin học nói chung và phần mềm dạy học nói riêng
vào hoạt động giảng dạy, học tập đang được sự quan tâm đăc biệt của ngành
giáo dục. Điều này được thể hiện rõ trong chủ đề năm học 2008-2009: “ Đẩy
mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và học tập”.Sử dụng
phần mềm trong hoạt động dạy học cũng là một yêu cầu trong đổi mới phương
pháp dạy học nhằm tích cực hoá các hoạt động của học sinh với sự trợ giúp của
các phương tiện dạy học hiện đại.
2.Về mặt thực tiễn :
Thực tế đã chứng minh, công nghệ tin học đem lại hiệu quả rất lớn trong
quá trình dạy học. Giáo viên tiếp cận và sử dụng công nghệ thông tin sẽ làm cho
giờ dạy trở nên sinh động và hấp dẫn, học sinh hứng thú và tích cực tham gia
hoạt động tìm tòi học hỏi, khám phá tri thức.
Ở nhà trường THCS công nghệ thông tin đã được sử dụng vào các bộ môn
tự nhiên như: toán, lí, hóa, sinh với các phần mềm: Paintbrush, Powerpoint,
Riêng đối với bộ môn Ngữ văn, với đặc thù của bộ môn, các đồ dùng trực quan
hầu như không có, tranh ảnh minh họa trong sách giáo khoa không nhiều lại tối
màu, khó quan sát và cảm nhận. Đặc biệt đây là môn học đựơc HS coi là “khó,
khổ, khô khan” những giờ học văn thường rất nặng nề, căng thẳng đối với một
số học sinh. Vì vậy để khắc phục tình trạng trên trong các tiết học giáo viên phải
chuẩn bị, sưu tập tranh ảnh, đồ dùng dạy học minh họa rất vất vả mà hiệu quả
chưa được cao.
Powerpoint là phần mềm công cụ giúp cho giáo viên có thể tự xây dựng
được các bài giảng trên máy tính một cách nhanh chóng và hiệu quả. So với các
Người viết: Hoàng Thị Tiêng - 2 - THCS Cao Minh
Ứng dụng phần mềm Powerpoint vào dạy - học ngữ văn
công cụ khác, Powerpoint chú trọng hơn trong việc tạo ra các bài giảng có âm
thanh, hình ảnh, chuyển động và tương tác phù hợp với mọi đối tượng học
sinh.
Với đề tài này, tôi không có tham vọng viết tất cả về công dụng của phần
mềm Powerpoint trong thiết kế và giảng dạy Ngữ văn vì sự hiểu biết về tin học
còn hạn chế. Từ thực tế những việc đã làm được tôi mạnh dạn đưa ra những ý
kiến để đồng nghiệp trao đổi bàn bạc, rút ra kinh ngiệm và vận dụng một cách
có hiệu quả các phương tiện hiện đại vào công tác chuyên môn nghiệp vụ.
IV.CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần đặt vấn đề, tài liệu tham khảo, kết luận, phụ lục, nội dung đề tài gồm
3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về sử dụng phần mềm Powerpoint.
Chương 2: Thực trạng việc sử dụng phần mềm powerpoint trong bài giảng điện
tử ở trường THCS
Chương 3: Giải pháp và vận dụng phần mềm powerpoint trong bài giảng điện tử
ngữ văn 8
B. NỘI DUNG
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VIỆC XÂY DỰNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ
Hiện nay, công nghệ thông tin cung cấp khá nhiều phần mềm công cụ trợ
giúp giáo viên tạo ra các sản phẩm cá nhân. Các phần mềm công cụ này có các
đặc điểm rất dễ sử dụng: Giáo viên không cần có trình độ cao về CNTT, chỉ cần
có một số kiến thức cơ bản về công nghệ là có thể tạo ra các sản phẩm có chất
lượng. Sản phẩm được tạo ra bởi các phần mềm công cụ này tương ứng với các
phần mềm hệ thống như các thế hệ của hệ điều hành Windows và cứ thế sử dụng
ở các môi trường khác nhau như trên Internet, trên mạng LAN hoặc máy tính cá
dàng:
Sau khi soạn thảo xong bài giảng trên phần mềm Powerpoint giáo viên có
thể xuất bài giảng ra thành một thư mục chứa file, chức năng này xuất bài giảng
đang soạn thảo ra thành một sản phẩm chạy độc lập, có thể copy vào đĩa mềm,
USB hoặc đĩa CD để chạy trên các máy tính khác thông qua chưong trình
Người viết: Hoàng Thị Tiêng - 4 - THCS Cao Minh
Ứng dụng phần mềm Powerpoint vào dạy - học ngữ văn
Powerpoint. Với chức năng này ta có thể liên kết với các bài giảng được tạo
bằng Powerpoint hoặc các công cụ khác có hỗ trợ liên kết. Ngoài ra phần mềm
còn có chức năng đóng gói bài giảng phần mềm sẽ chạy dưới dạng giao diện
Web và có thể đưa lên Website của trường (cá nhân) nhờ vậy giáo viên có thể
truy cập sử dụng bài giảng của mình thông qua Internet ở mọi nơi mọi lúc mà
không cần mang theo đĩa mềm, USB hoặc đĩa CD.
Chính vì vậy theo tôi mỗi giáo viên trước khi thực hiện soạn một giáo án
điện tử để tiến hành thực hiện bài giảng điện tử cần nắm được:
1. Cấu trúc và yêu cầu một giáo án điện tử.
Hiện nay, giáo viên thường tự xây dựng các giáo án điện tử. Sau đây là một số
gợi ý về cấu trúc của nó ( tôi có tham khảo tài liệu của Ths Phạm Mạnh Cường.
Trung tâm công nghệ dạy học Viện nghiên cứu khoa học giáo dục ĐHSP TP Hồ
Chí Minh)
1.1 Cấu trúc giáo án điện tử.
Cấu trúc hình thức của một bài giảng điện tử có những nét phù hợp với bài dạy
học truyền thống. Tuy nhiên cần phải thấy sự khác biệt rõ nhất và là ưu điểm
của bài giảng điện tử đó là: Ngoài khả năng trình bày lý thuyết nó cho phép thực
hiện phần minh hoạ và phần kiểm tra đánh giá tại từng vấn đề nhỏ, điều mà
trong bài giảng truyền thống khó thực hiện.
Một bài giảng điện tử cần thể hiện được:
- Tính đa phương tiện ( Multimedia) : Là sự kết hợp của các phương tiện khác
nhau dùng để trình bày thông tin thu hút người học( text, âm thanh ( sound),
hình ảnh đồ hoạ, phim minh hoạ )
* Có hiểu biết và sử dụng thành thạo máy quét (Scanner Knowledge) và phần
mềm nhận dạng thông qua máy quét. Biết sử dụng máy ảnh kỹ thuật số.
2.2 Yêu cầu về phần câu hỏi, giải đáp.
Bài giảng điện tử cần thể hiện một số câu hỏi, với mục đích:
- Giới thiệu một chủ đề mới.
- Kiểm tra đánh giá người học có hiểu nội dung (từng phần, toàn bài) vừa trình
bày không.
- Liên kết một chủ đề đã dạy trước với một chủ đề hiện tại hay kế tiếp.
Người viết: Hoàng Thị Tiêng - 6 - THCS Cao Minh
Ứng dụng phần mềm Powerpoint vào dạy - học ngữ văn
Câu hỏi cần được thiết kế sử dụng tính đa phương tiện để kích thích học sinh
vận động trí não để tìm câu trả lời.
Phần đáp án cũng được thiết kế sẵn trong bài giảng điện tử nhằm mục đích:
+ Với câu trả lời đúng: Thể hiện sự tán thưởng. Ví dụ : Bạn đã trả lời rất chính
xác, xin chúc mừng,; bạn trả lời rất tốt! Và có một tràng pháo tay lúc đó sẽ
kích thích lòng tự hào, say mê hợp tác tìm tòi tri thức của người học.
+ Với câu trả lời sai: Thông báo lỗi và gợi ý tìm chỗ sai và nhắc nhở học sinh
quay lại phần đầu bài đồng thời tạo cơ hội cho người học làm lại bằng nút quay
lại. Cuối cùng là một giải đáp hoàn chỉnh.
Yêu cầu về phần thể hiện khi thiết kế:
- Đầy đủ: Có đủ yêu cầu nội dung bài học.
- Chính xác: Đảm bảo không có thông tin sai sót.
- Trực quan: Hình ảnh, âm thanh, bảng biểu trực quan sinh động hấp dẫn người
học.
2. Qui trình thiết kế giáo án điện tử
Giáo án điện tử có thể được xây dựng theo quy trình gồm 6 bước sau:
- Xác định mục tiêu bài học.
- Lựa chọn kiến thức cơ bản, xác định đúng những nội dung trọng tâm.
- Multimedia hoá từng đơn vị kiến thức.
- Xây dựng thư viện tư liệu.
giáo khoa.
B ớc 2. Nội dung bài giảng
Tuỳ theo môn dạy để xây dựng bài giảng theo các hoạt động
+ Hoạt động 1. Kiểm tra bài cũ và giới thiệu bài mới.
+ Hoạt động 2. Tìm hiểu văn bản (hoặc hình thành kiến thức
mới)
Ngi vit: Hong Th Tiờng - 8 - THCS Cao Minh
ng dng phn mm Powerpoint vo dy - hc ng vn
+ Hoạt động 3.Tổng kết (hoặc luyện tập)
+ Hoạt động 4. Củng cố
+ Hoạt động 5. Hớng dẫn về nhà
Ví dụ: Hoạt động 1
Kiểm tra bài cũ
*Sử dụng kiểu bài tập trắc nghiệm để kiểm tra lý thuyết.
Giới thiệu bài mới (tuỳ theo phân môn, theo bài) giáo viên có thể sử dụng hình
ảnh có liên quan đến nội dung bài học, đó là những tranh ảnh, phim động cho
học sinh xem, quan sát từ đó giới thiệu nội dung bài học để tạo tâm thế cho học
sinh.
Hình ảnh trực quan sinh động giúp tôi vào bài mới tự nhiên hơn và đặc
biệt gây hứng thú cho học sinh đi vào tìm hiểu tác phẩm.( hình ảnh các nhà văn,
nhà thơ hay các tranh ảnh liên quan đến bài học)
Ví dụ. Hoạt động 2: Tìm hiểu văn bản
Tìm hiểu khái quát văn bản.
Giới thiệu về tác giả tác phẩm, ta có thể đa chân dung nhà văn, một
số tác phẩm tiêu biểu và vài nét về tác giả, tác phẩm.(chọn ảnh màu nhằm
tác động tới trực quan của học sinh)
Đọc tác phẩm giáo viên sử dụng các bài đọc diễn cảm, đọc nghệ
thuật từ các đĩa CD, VCD đợc cung cấp hay ghi âm chính giọng đọc chuẩn
của mình, của đồng nghiệp trong trờng vào bài dạy. Việc sử dụng âm
thanh Powerpoint rất tiện dụng vì ta có thể tạo một công cụ để tắt, mở,
sinh vào bài dạy. Đây cũng là cơ sở để học sinh phát huy tính độc lập, tự giác,
tích cực trong học tập.
Tuy nhiên thực tế ở trường tôi và trong quá trình đi dự giờ đồng nghiệp
trong các buổi sinh hoạt chuyên môn cụm trường và cả trong hội thi giáo viên
dạy giỏi cấp cơ sở thì việc giáo viên tự chiếm lĩnh CNTT để tạo ra các sản phẩm
cá nhân là giáo án điện tử còn nhiều hạn chế. Có giáo viên đã từng tham gia
giảng dạy- bài giảng điện tử song cũng còn lúng túng về nhiều mặt , đặc biệt là
việc định hình một cách sâu sắc về cấu trúc và yêu cầu của bài giảng điện tử
cũng như qui trình thiết kế bài giảng. Nhiều giáo viên chưa xác định rõ giáo án
điện tử chỉ là một phương tiện dạy học hỗ trợ cho việc dạy học của người thầy
dẫn đến những sai phạm như : lạm dụng tính năng, tác dụng của giáo án điện tử
mà bỏ qua tính truyền thống của quá trình dạy – học bằng phấn trắng bảng đen;
suốt tiết học chỉ thiên về trình diễn với những kiểu hiệu ứng bay nhảy, màu hình
loá mắt, chưa khai thác được tính năng chuyên biệt của giáo án điện tử mà giáo
Người viết: Hoàng Thị Tiêng - 10 - THCS Cao Minh
Ứng dụng phần mềm Powerpoint vào dạy - học ngữ văn
án truyền thống không thể thực hiện được….điều đó đã dẫn đến những tiết học
mờ nhạt, sự lưu đọng kiến thức trong các em học sinh không được là bao. Làm
thế nào để có những giờ học văn thực sự có hiệu quả? Làm được điều này vai trò
của người thầy thật không nhỏ.
Việc sử dụng phương tiện hiện đại một cách hợp lý, khoa học sẽ rút ngắn
khoảng cách giữa lý thuyết với thực hành và làm cho quá trình nhận thức của
học sinh được cụ thể hơn. Các em lĩnh hội tri thức một cách đầy đủ chính xác
hơn đồng thời củng cố, mở rộng, khắc sâu và nâng cao kiến thức cơ bản cho các
em.
Chương 3:
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO BÀI DẠY NGỮ
VĂN 8- TIẾT 66
Văn bản: Ông đồ
I/ Mục tiêu cần đạt
- Đọc văn bản và trả lời phần đọc hiểu văn bản.
III. Tiến trình bài dạy.
• ổn định lớp
• Kiểm tra bài cũ
• Bài mới
GV vào bài: Trình chiếu 1 slide Video về những ông đồ ngày xưa với công
việc viết chữ, dạy học truyền bá đạo thánh hiền … qua lời thuyết minh của
nghệ sỹ Minh Trí – người đọc lời bình cho chương trình VTV3 của chương
trình “Nghệ nhân đất Việt”.
Hoạt động của thầy
Hoạt động
của trò
Nội dung cần đạt và trình chiếu các slide
Slide:1
Người viết: Hoàng Thị Tiêng - 12 - THCS Cao Minh
Ứng dụng phần mềm Powerpoint vào dạy - học ngữ văn
Bài tập trắc nghiệm
Bài thơ cần đọc với giọng
như thế nào cho phù hợp ?
- Theo dõi chú thích –giải
thích nghĩa của từ ông Đồ
và từ nghiên.
- Giới thiệu những nét
khái quát nhất về nhà thơ
Vũ Đình Liên?
HS suy nghĩ
và xác định
phương án
đúng.
HS nghe
- Nêu hoàn cảnh sáng tác
bài thơ bài thơ Ông đồ ?
GV: Bài thơ được viết vào
năm 1936 giai đoạn xã hội
Việt Nam có nhiều biến
động đã kéo theo sự biến
đổi của văn học : nhà nước
bảo hộ bãi bỏ khoa thi chữ
Hán, các nhà nho, những
ông đồ trở thành những kẻ
sinh không gặp thời bị gạt
ra ngoài lề xã hội và dần
dần vắng bóng. Khi đó
những ông đồ chỉ còn là
cái di tích tiền tuỵ đáng
thương của 1 thời tàn ->
thực tế đó là nguồn cảm
hứng để Vũ Đình Liên cho
ra đời bài thơ này.
- Bài thơ được viết theo
thể thơ ? Những phương
thức góp phần tạo lập nên
bài thơ.
HS quan
sát
Suy nghĩ,
trả lời.
HS nghe và
suy nghĩ
HS trả lời
gì? ( Dùng Slide 6 ) giúp
HS cảm nhận
Ông đồ xuất hiện với
những hình ảnh nào?.
-Sự lặp lại của thời gian
“mỗi năm”, “lại thấy”điều
đó có ý nghĩ gì về sự xúât
hiện của ông đồ.
GV: Thiên nhiên đẹp ,
mùa xuân đẹp cùng với
chuẩn bị
của cá nhân
HS xác định
HS đọc
HS cảm
nhận
HS phát
hiện
HS đánh giá
Kể về cuộc đời của 1 ông đồ già với 1 duyên
phận hẩm hiu bị đẩy vào nghịch cảnh, qua
đó bày tỏ niềm cảm thương chân thành của
mình.
*Bố cục :3 phần.
- Khổ 1,2 : Hình ảnh ông đồ thời đắc ý.
- Khổ 2,3 : Hình ảnh ông đồ thời tàn.
- Khổ 5 : Nỗi lòng của tác giả.
II. Đọc - hiểu văn bản.
1. Ông đồ thời đắc ý
- Hoa đào nở.
-Nhận xét về cách sử dụng
từ của tác giả, tác dụng
của cách sử dụng từ đó.
- Sự đắt hàng của ông đồ
không chỉ vì người ta cần
thuê ông viết chữ mà còn
để thưởng thức tài viết chữ
đẹp của ông. Tài viết chữ
của ông được gợi tả qua
hình ảnh thơ nào?
HS nghe
HS theo dõi
SGK và
phát hiện
rút ra nhận
xét
Slide: 7 ( Tranh minh hoạ)
Bao nhiêu người thuê viết.
Bao nhiêu -> số từ: ông đồ thật đắt hàng
Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay
Nghệ thuật so sánh->nét chữ đẹp, sắc sảo,
mềm mại, vuông vức tung hoành như những
Người viết: Hoàng Thị Tiêng - 16 - THCS Cao Minh
Ứng dụng phần mềm Powerpoint vào dạy - học ngữ văn
- Biện pháp nghệ thuật nào
được sử dụng trong hình
ảnh thơ.
- Em hình dung như thế
nào về nét chữ của ông đồ
Slide: 8 ( Tranh minh hoạ)
- Quý trọng, ngưỡng mộ.
- Quý trọng ông đồ…
- Quý trọng 1 nếp sống đẹp…
- Mến mộ chữ nho, nhà nho
Người viết: Hoàng Thị Tiêng - 17 - THCS Cao Minh
Ứng dụng phần mềm Powerpoint vào dạy - học ngữ văn
khổ thơ này?
H: Nếu được đánh giá về
những tháng ngày này của
ông đồ thì theo em đó là
những tháng ngày như thế
nào?
GV: Có thể nói qua 2 khổ
thơ đầu hình ảnh ông đồ
hiện lên thật rực rỡ, ông
trở thành nhân vật trung
tâm không thể thiếu được
trong thời buổi trọng chữ
nho. Cái thời mà xin được
chữ đẹp là có được vật báu
trong nhà, thế nhưng thời
gian trôi qua, những mùa
xuân cũng nối tiếp trôi
qua, xã hội có nhiều biến
đổi, số phận của những
người viết chữ thuê như
ông đồ sẽ ra sao.
- Những hình ảnh nào
được lặp lại trong khổ thơ.
tượng lúc này ?.
-Nỗi buồn tủi ấy lan sang
cả những vật vô tri vô
giác: Giấy đỏ buồn không
thắm, mực đọng trong
nghiên sầu.
Biện pháp nghệ thuật được
sử dụng trong 2 câu thơ?
- Em hình dung được thực
tế nào từ biện pháp nghệ
thuật nhân hoá này?
( Dùng Slide 9 gt để HS tự
bộc lộ cảm nhận )
GV:Tác giả đã thổi linh
hồn và những vật vô tri vô
giác một cách tài tình đến
nỗi giấy , mực cũng như
ôm cả một tâm sự đau
đớn, buồn thương.Giờ đây
là một thực tế phũ phàng.
Những tờ giấy đỏ cứ phơi
ra đấy chẳng được dùng
HS nhận xét
HS đánh giá
HS phát
hiện và
phân tích
HS quan sát
tranh và tự
bộc lộ cảm
“ vẫn ngồi đấy”, “không ai
hay”?
- Thiên nhiên cũng xuất
hiện trong khổ thơ này
Quan sát
tranh và
cảm nhận
Slide :10 ( Tranh minh hoạ)
Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy;
Ngoài đường mưa bụi bay.
Vẫn ngồi đấy: Ông đồ vẫn cố bám lấy cuộc
đời, vẫn muốn góp sự hiện diện của mình
vào cuộc sống.
Không ai hay: Ông đồ vẫn ngồi đó mà
không một ai nhìn đến, đoáI hoài, ông trở
thành người lạc lõng bơ vơ giữa dòng người
tấp nập ngược xuôI đến chóng mặt.
Ông cố níu kéo nhưng cũng không
được, chẳng biết bám víu vào đâu.
Lá vàng rơi trên giấy;
Ngoài trời mưa bụi bay
Người viết: Hoàng Thị Tiêng - 20 - THCS Cao Minh
Ứng dụng phần mềm Powerpoint vào dạy - học ngữ văn
nhưng không phải là cái
rực rỡ, tươi tắn của hoa
đào mà là “ lá vàng, mưa
bụi”,
- Biện pháp nghệ thuật nào
suy ngẫm
Tả cảnh ngụ tình
-> Cảnh thê lương tiều tuỵ
Một nỗi lòng xót xa, thương cảm.
Người viết: Hoàng Thị Tiêng - 21 - THCS Cao Minh
Ứng dụng phần mềm Powerpoint vào dạy - học ngữ văn
Phải chăng những chiếc lá
vàng cuối mùa hay ông đồ
là chiếc lá cuối cùng của
rừng Nho học? Những giọt
mưa bụi hay chính là
những giọt nước mắt xót
thương của tác giả dành
cho ông đồ, cho lớp người
như ông, cho một nền văn
hoá Nho học bị lãng quên,
cho một nét đẹp văn hoá
truyền thống của dân tộc
bị lụi tàn!
- Qua hai khổ thơ 3-4 em
đánh giá đây là những
tháng ngày như thế nào
của ông đồ?
- Qua 4 khổ thơ tác giả đã
dựng lên hai bức tranh
bằng ngôn ngữ thơ ca. Em
có nhận xét gì về hai bức
tranh này?
(Dùng Slide 11 để giúp
HS so sánh)
em có nhận xét gì về cách
kết cấu này?
- Có gì đặc biệt giữa thiên
nhiên và con người được
nhắc tới ở đây?
- Theo em cảm xúc nào của
tác giả được bộc lộ khi phát
hiện ra điều đó?
- Tình xót thương đã giúp
nhà thơ viết tiếp hai câu
thơ cuối bài .Tác giả đã sử
dụng kiểu câu nào trong
câu thơ?
- Em đọc được nỗi lòng
nào của tác giả sau câu hỏi
tu từ này?
GV: Đoạn thơ đã khép lại
bài thơ như một nén hương
thơm thắp lên để tưởng nhớ
về hình bóng một ông đồ
già đáng thương khuất nẻo
dương gian, xót thương cho
một nền văn hoá lụi tàn.
- Em có suy nghĩ gì về tục
HS phát
hiện
HS phân
tích , nhận
xét
HS thảo
ngồi bên hè phố làm câu
đối, viết thuê chữ không
còn nữa, hình bóng của ông
đã lùi vào quá khứ nhưng
tập tục chơi câu đối thì
không bao giờ mất được vì
nó mang vẻ đẹp của tâm
hồn Việt Nam, văn hoá
Việt Nam, nó chỉ có thăng
trầm chứ vĩnh viễn không
bao giờ mất được.
- Khái quát lại những nét
đặc sắc về nghệ thuật của
bài thơ?
- Qua bài thơ giúp em hiểu
gì về nội dung?
GV dùng Slide 12 để giúp
học sinh khái quát lại kiến
thức)
hệ
HS nghe
HS khái
quát lại
kiến thức
HS đọc nội
dung kiến
thức
• Ghi nhớ: SGK
Slide 12
Nghệ thuật
D.Cả B và B.
Bài 2: Câu hỏi thảo luận
Có ý kiến cho rằng: hai nguồn thi cảm chính
trong thơ Vũ Đình Liên đã gặp nhau tại bài
thơ Ông đồ. ý kiến của em như thế nào? Giải
thích rõ quan điểm của mình.
IV. Hướng dẫn học bài và làm bài ở nhà
V. KẾT QUẢ .
Sau những tiết lên lớp bằng bài giảng điện tử ở trường THCS bản thân tôi
và một số đồng nghiệp đã nhận thấy:
- Học sinh ở các khối lớp đã thực sự cảm hiểu được tác phẩm. Mỗi em có một sự
cảm nhận riêng với những mức độ khác nhau nhưng đều bộc lộ sự hiểu biết,
nắm vững bài. Bản thân các em học tập có tính tự giác, tích cực và chủ động
hơn. Các em từ chỗ lười suy nghĩ, lười phát biểu nay đã biết tập trung, độc lập,
hợp tác suy nghĩ. Trong giờ học các em đã hăng hái phát biểu xây dựng bài làm
cho tiết học sôi nổi nhưng không phải ào đi, chẳng đọng được gì .
- Kiến thức truyền đạt của một bài dạy có chiều sâu hơn: Học sinh được luyện
tập bằng các bài tập trắc nghiệm khách quan và tự luận được nhiều hơn. Từ đó
sự hiểu biết về văn chương ngày càng tăng, sự cảm nhận về văn học, về cuộc
sống càng sâu sắc, tâm hồn các em đẹp đẽ và phong phú hơn nhiều.
- Giáo viên chủ động trong việc phân phối thời gian, đối thoại trao đổi với học
sinh được nhiều hơn và hiệu quả bộ môn được nâng lên.
Người viết: Hoàng Thị Tiêng - 25 - THCS Cao Minh