Bồi dương phương pháp giải toán Hóa học nhanh (HSG)_SKKN THCS - Pdf 26


SKKN – Nguyễn Đình Hành
MỤC LỤC
Nội dung đề tài Trang
LỜI CẢM ƠN 2
A- PHẦN MỞ ĐẦU 3
I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

3
II-MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

3
III-ĐỐI TƯNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU:

3
1- Đối tượng nghiên cứu : 3
2- Khách thể nghiên cứu : 3
IV-NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

4
V- PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

4
VI- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

4
1- Phương pháp chủ yếu: 4
2-Các phương pháp hỗ trợ: 4
B- NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 6
I- CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢI NHANH MỘT SỐ BÀI TOÁN HOÁ HỌC.



22
II- TÀI LIỆU THAM KHẢO:

23


Trang 1

SKKN – Nguyễn Đình Hành
Lời cảm ơn
Đề tài này được hoàn thành nhờ sự giúp đỡ, động viên của Ban giám hiệu trường
THCS Chu Văn An huyện Đak Pơ và của một số đồng nghiệp đã cung cấp các tài liệu
phục vụ cho việc nghiên cứu. Đồng thời đề tài cũng được sự cộng tác nhiệt tình của các
giáo viên trong tổ bồi dưỡng, các giáo viên có nhiều kinh nghiệm và các em học sinh
trong đội tuyển HS giỏi huyện Đak Pơ.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô giáo đã hợp tác
trao đổi kinh nghiệm và trợ giúp tài liệu; cảm ơn các thầy cô giáo và các em học sinh đã
tham gia trả lời các câu hỏi trong phiếu điều tra, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành
đề tài này./.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Người thực hiện đề tài

Nguyễn Đình Hành

Trang 2

SKKN – Nguyễn Đình Hành
A- PHẦN MỞ ĐẦU
I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Đề tài này nghiên cứu 5 phương pháp giải bài toán hoá học, nguyên tắc áp dụng của
mỗi phương pháp, cách tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi theo nguyên tắc “ Kế thừa - phát
triển - sáng tạo”
2- Khách thể nghiên cứu :
Khách thể nghiên cứu là học sinh lớp 9 dự thi học sinh giỏi các cấp ( Tỉnh và huyện)

Trang 3

SKKN – Nguyễn Đình Hành
IV-NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài nhằm giải quyết một số vấn đề cơ bản sau đây :
1-Những cơ sở lý luận về phương pháp giải nhanh các bài toán hoá học; nêu ra một
số phương pháp cụ thể và nguyên tắc áp dụng cho mỗi phương pháp.
2-Thực trạng về trình độ và điều kiện học tập của học sinh trong đội tuyển học sinh
giỏi lớp 9 do tôi đảm nhiệm bồi dưỡng trước và sau khi vận dụng đề tài.
3 -Từ việc nghiên cứu vận dụng đề tài, rút ra bài học kinh nghiệm để phát triển
thành diện rộng, góp phần nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi tại huyện Đak Pơ.
V- PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Do hạn chế về thời gian và nguồn lực nên về mặt không gian đề tài này chỉ nghiên
cứu giới hạn trong phạm vi huyện ĐakPơ. Về mặt kiến thức kỹ năng, đề tài chỉ nghiên
cứu 5 chủ đề về các phương pháp giải bài toán hoá học.Các ví dụ nêu trong mỗi chủ đề
chỉ đề cập đến phần bài tập vô cơ có nội dung rất ngắn gọn.
VI- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1- Phương pháp chủ yếu:
Căn cứ vào mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, tôi sử dụng phương pháp chủ yếu là
tổng kết kinh nghiệm, được thực hiện theo các bước:
• Xác đònh đối tượng: xuất phát từ những khó khăn vướng mắc trong khi làm nhiệm
vụ bồi dưỡng HS giỏi, tôi xác đònh cần phải nghiên cứu tích luỹ kinh nghiệm về phương
pháp giải nhanh các bài tập hoá học để bồi dưỡng cho học sinh giỏi. Qua việc áp dụng đề
tài để đúc rút, tổng kết kinh nghiệm.

đều có nguyên tắc riêng và có phương pháp giải đặc trưng riêng. Tuy nhiên do việc phân
loại các bài tập hoá học chỉ mang tính tương đối, vì vậy trong mỗi loại bài tập loại này
thường chứa đựng một vài yếu tố của loại bài tập kia. Điều đó giải thích tại sao có nhiều
bài toán hoá học giải được bằng nhiều cách giải khác nhau. Đối với học sinh giỏi không
phải chỉ đơn thuần là giải ra đáp số mà việc biết giải khéo léo, tiết kiệm được thời gian
mà vẫn cho kết quả chính xác mới là điều quan trọng.
Về nguyên tắc, muốn giải nhanh và chính xác một bài toán hoá học thì nhất thiết
học sinh phải hiểu sâu sắc nội dung và đặc điểm của bài toán đó, nắm vững các mối quan
hệ giữa các lượng chất cũng như tính chất của các chất, viết đúng các phương trình phản
ứng xảy ra. Thực tế có rất nhiều bài toán rất phức tạp: các dữ kiện đề cho không cơ bản
( tổng quát ), hoặc không rõ, hoặc thiếu nhiều dữ kiện … tưởng chừng như không bao giờ
giải được. Muốn giải chính xác và nhanh chóng các bài toán loại này thì phải chọn một
phương pháp phù hợp nhất ( phương pháp giải thông minh ).
Tôi nghó, giáo viên làm công tác bồi dưỡng học sinh giỏi sẽ không đạt được mục
đích nếu không biết chọn lọc những phương pháp giải toán thông minh, nêu ra đặc điểm
của phương pháp và nguyên tắc áp dụng. Các phương pháp này là cẩm nang giúp học
sinh biết tìm hướng giải dễ dàng, hạn chế tối đa những sai lầm trong quá trình giải bài
tập, đồng thời phát triển tìm lực trí tuệ cho học sinh ( thông qua các bài tập tương tự mẫu
và các bài tập vượt mẫu ).
Trong phạm vi của đề tài này, tôi xin được mạn phép trình bày kinh nghiệm bồi
dưỡng một số phương pháp giải nhanh các bài tập hoá học cho học sinh giỏi. Nội dung đề
tài được sắp xếp theo 5 chủ đề, mỗi chủ đề có nêu nguyên tắc áp dụng và các ví dụ minh
hoạ. Sau đây là tên một số phương pháp giải bài tập hoá học được thể hiện trong đề tài:
1) Phương pháp tự do chọn lượng chất.
2) Phương pháp khối lượng mol trung bình.
3) Phương pháp tăng giảm khối lượng.
4) Phương pháp tính theo lượng của nguyên tử hoặc nhóm nguyên tử.
5) Phương pháp hợp thức.

Trang 6

câu hỏi mở để HS có thể phát hiện ra những cách giải hay.

Trang 7

SKKN – Nguyễn Đình Hành
III- KINH NGHIỆM VẬN DỤNG ĐỀ TÀI VÀO THỰC TIỄN
Khi thực hiện đề tài vào giảng dạy, tôi giơi thiệu cho HS các bước chung để giải một
bài toán hoá học ( sau khi đã nghiên cứu kỹ đề bài cho gì ? hỏi gì ? các kiến thức hoá học
có liên quan ? các mối quan hệ giữa điều kiện và yêu cầu ? xác đònh cách thức để thực
hiện các thao tác để hoàn thành yêu cầu của đề bài); gồm các bước như sau :
-Bước 1: Chuyển dữ kiện không cơ bản thành các dữ kiện cơ bản ( theo số mol )
(dữ kiện không cơ bản thường là : chất không tinh khiết, các đại lượng chưa
chuẩn về đơn vò, … )
-Bước 2: Đặt ẩn cho số mol, hoá trò, nguyên tử khối … ( Nếu cần )
-Bước 3: Viết đúng tất cả các phương trình hoá học xảy ra.
-Bước 4: Thực hiện các kỹ năng tính toán theo CTHH, theo PTHH, biện luận …
-Bước 5: Kiểm tra.
Tiếp theo, tôi tiến hành bồi dưỡng kỹ năng theo dạng. Mức độ rèn luyện từ minh
họa đến khó, nhằm bồi dưỡng học sinh phát triển kỹ năng từ biết làm đến đạt mềm dẻo,
linh hoạt và sáng tạo. Để bồi dưỡng mỗi dạng tôi thường thực hiện theo các bước sau:
- Bước 1: Giới thiệu bài tập mẫu và hướng dẫn giải.
- Bước 2: Rút ra nguyên tắc và phương pháp áp dụng.
- Bước 3: HS tự luyện và nâng cao.
- Bước 4: Kiểm tra đánh giá theo chủ đề.
Tuỳ theo độ khó mỗi chủ đề tôi có thể hoán đổi thứ tự của bước 1 và 2.
Sau đây là một số phương pháp giải bài tập hoá học, cách nhận dạng, kinh nghiệm
giải quyết đã được tôi thực hiện và đúc kết từ thực tế. Trong giới hạn của đề tài, tôi chỉ
nêu 5 chủ đề giới thiệu 5 phương pháp thường gặp có tác dụng giúp học sinh giải được
nhiều bài toán với độ chính xác cao và tiết được nhiều thời gian.
CHỦ ĐỀ 1: PHƯƠNG PHÁP TỰ DO CHỌN LƯNG CHẤT

100
2 4
dd H SO
m gam
=
hoặc giả sử có 1 mol oxit
đã tham gia phản ứng.
* Giải :
Đặt công thức tổng quát của oxit là R
2
O
x
( x là hoá trò của R )
Giả sử hoà tan 1 mol R
2
O
x

R
2
O
x
+ xH
2
SO
4
→ R
2
(SO
4

2 96
100 5 87
2 2016
suy ra ta có M
R
= 12x
Vì x là hoá trò của kim loại trong oxit bazơ nên : 1 ≤ x ≤ 4
Biện luận:
x 1 2 3 4
M
R
12 24 36 48
Vậy kim loại là Mg ; oxit kim loại là : MgO
Ví dụ 2:
Cho a gam dung dòch H
2
SO
4
loãng nồng độ C% tác dụng hoàn toàn với hỗn hợp 2
kim loại K và Fe ( Lấy dư so với lượng phản ứng ). Sau phản ứng, khối lượng khí sinh ra
là 0,04694 a (g). Tìm giá trò C%
* Gợi ý HS :
- GV : gợi ý cho HS phát hiện ra vì kim loại lấy dư nên toàn bộ lượng axit và nước
trong dung dòch đều phản ứng. Các lượng chất đều cho dưới dạng tổng quát ( chứa chung
tham số a ), vì vậy bài toán sẽ không phụ thuộc vào lượng a (gam ).

Trang 9

SKKN – Nguyễn Đình Hành
- HS : Nêu cách chọn lượng chất : chọn a = 100 gam.

→
K
2
SO
4
+ H
2
↑ (1)
Fe + H
2
SO
4

→
FeSO
4
+ H
2
↑ (2)
2K
(dư)
+ 2H
2
O
→
2KOH + H
2
↑ (3)
Theo các ptpư (1),(2),(3) ta có :
2 2 4 2

+ +
= =
+ +


1 1 2 2
1 2

+) Đối với hỗn hợp khí thì có thể thay các số mol n
1
,n
2
… bằng thể tích hoặc % thể
tích.
+) Nếu hỗn hợp chỉ có 2 chất khí , với x% là % thể tích của khí thứ nhất thì :
x%.M ( x%).M
M
%
+ −
=
1 2
100
100
+) Giá trò của
M
nằm trong khoảng :M
1
<
M
< M

hh
;
M
hh
).
2) Các ví dụ:
Ví dụ 1:
Hỗn hợp X gồm hai kim loại kiềm A và B thuộc hai chu kỳ liên tiếp nhau trong
bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học. Chia m ( gam ) hỗn hợp X làm 2 phần bằng nhau:
- Phần 1 : Hoà tan vào dung dòch HCl dư thu được một dung dòch Y. Cô cạn Y được
23,675 gam muối khan.
- Phần 2: Đốt cháy hoàn toàn thì phải dùng hết 1,96 lít khí O
2
( đktc).
a) Xác đònh hai kim loại A,B
b) Xác đònh % khối lượng của các kim loại trong hỗn hợp X.
* Gợi ý HS:
Hai kim loại có hoá trò và tính chất tương tự nên để đơn giản có thể đặt một ký hiệu
đại diện cho hỗn hợp 2 kim loại. Viết PTHH, Từ số mol O
2
và khối lượng muối khan ta tính
toán để tìm giá trò
M
hh
.
* Giải:
a) Xác đònh kim loại A,B
Đặt
M
là kim loại đại diện cho hỗn hợp hai kim loại kiềm A,B

a=0,35

M a
a
M

+ × =

 

 
= =
=




Hai kim loại kiềm liên tiếp có
M
= 32,14 thoã mãn là Na (23) và K(39)
b) Xác đònh % khối lượng của hỗn hợp X
gọi x là số mol của K

số mol Na là ( 0,35 – x ) mol
Áp dụng công thức tính khối lượng mol trung bình ta có:

Trang 11

SKKN – Nguyễn Đình Hành
39 (0,35 ).23

2
bằng 0,425. Biết số
mol H
2
trong hỗn hợp gấp 3 lần số mol N
2
trong hỗn hợp.
Tính thành phần % theo thể tích và theo khối lượng cuả hỗn hợp khí A.
* Gợi ý HS:
- Đối với một hỗn hợp khí thì % thể tích bằng % số mol
- GV tạo cơ hội cho HS phát hiện ra ý nghóa của các mối quan hệ trong đề bài : Từ tỉ
khối hơi của hỗn hợp ta có thể tính được gì ? Từ quan hệ số mol H
2
và số mol N
2
có thể
giải quyết được điều gì ? Từ đó xác đònh các bước để giải bằng phương pháp đại số.
* Giải:
Giả sử có 1mol hỗn hợp khí A gồm : x mol N
2
, 3x mol H
2
và (1- 4x) mol NH
3
Theo đề bài ta có :
M
hh
= 28x + 2.3x + 17 ( 1 – 4x ) = 32.0,425 = 13,6 (1)
Giải phương trình (1) được : x = 0,1 mol
Thành phần % theo thể tích của hỗn hợp khí A là:

% 100 4,41%
13,6
H
m
× ×
= × =

3
% 100% (20,59 4,41) 75%
NH
m
= − + =
* Lưu ý : Có thể đặt x % là % thể tích của N
2
rồi dùng công thức (1) với tổng % là
100 %
CHỦ ĐỀ 3 : PHƯƠNG PHÁP TĂNG GIẢM KHỐI LƯNG
1) Nguyên tắc áp dụng:
-Nguyên tắc của phương pháp này là dựa vào sự tăng hoặc giảm khối lượng trong
quá trình làm biến đổi chất này thành chất khác. Về bản chất phương pháp này dựa trên
cơ sở của đònh luật bảo toàn khối lượng, vì vậy trong nhiều tài liệu dạy học hoá học nhiều
tác giả ví phương pháp này và phương pháp bảo toàn khối lượng như “anh em sinh đôi”.
-Phương pháp chung:

Trang 12

SKKN – Nguyễn Đình Hành
+) Tìm độ tăng ( hoặc giảm ) khối lượng theo PTHH (
m∆
2

khối lượng hoặc phương pháp ghép ẩn số. Tuy nhiên muốn giải nhanh chóng thì nên dùng
phương pháp tăng giảm.
- HS: Viết PTHH dạng tổng quát và tìm độ tăng khối lượng của muối theo PTHH.
* Giải:
a) Đặt công thức tổng quát cho hỗn hợp muối cacbonat là :
M
CO
3

(
M
là khối lượng mol trung bình của 2 kim loại nhóm IIA )
Phương trình phản ứng:
M
CO
3
+ 2HCl
→
M
Cl
2
+ H
2
O + CO
2

1mol 1mol 1mol
⇔ (
M
+ 60)g (

0 3

Trang 13

SKKN – Nguyễn Đình Hành
Hai kim loại nhóm IIA thuộc 2 chu kỳ liên tiếp có
M
= 34,67 nên phải là Mg(24) và
Ca(40).

Trang 14

SKKN – Nguyễn Đình Hành
Ví dụ 2:
Thả một thanh kim loại Pb vào trong dung dòch muối nitrat của kim loại hoá trò II,
đến khi lượng Pb không đổi nữa thì lấy ra khỏi dung dòch, thấy khối lượng của nó giảm
28,6 gam. Thả tiếp thanh Fe nặng 100g vào phần dung dòch còn lại. Đến khi lượng Fe
không đổi nữa thì lấy kim loại khỏi dung dòch, làm khô cân nặng 130,2 gam. Tìm công
thức của muối nitrat ban đầu.
* Gợi ý HS:
-Do lượng kim loại ở 2 phản ứng đã không đổi được nữa nên R(NO
3
)
2
và Pb(NO
3
)
2
đã phản ứng hết.Suy ra số mol Pb(NO
3

)
2
+ Pb (2)
Từ đề bài nhận thấy : Lượng muối ở 2 phản ứng đều đã phản ứng hết
Theo (1): do khối lượng kim loại giảm 28,6 gam, nên :
3 2
( )
2,86
207
(mol)
Pb NO
n
R
=

Theo (2): do khối lượng kim loại tăng 130,2 -100 =30,2 gam, nên :
3 2
( )
3,02
207 56
= 0,2 (mol)
Pb NO
n
=

Suy ra ta có :
28,6
207
= 0,2 R = 64 ( Cu )
R

2
OH H O
của axit) = n của bazơ) = n
H
n
Vì vậy khi biết được số mol của nhóm - OH thì tìm được số mol H trong axit , số mol
H
2
O và ngược lại.

Trang 15

SKKN – Nguyễn Đình Hành
2- Các ví dụ:
Ví dụ 1:
Có 190 ml dung dòch chứa đồng thời KOH và Ba(OH)
2
có nồng độ tương ứng là 3M
và 4M. Tính thể tích dung dòch Axit chứa đồng thời HCl 1,98M và H
2
SO
4
1,1M đủ để
trung hoà lượng dung dòch kiềm trên.
* Gợi ý HS:
- Có thể giải bài toán bằng phương pháp ghép ẩn số, tuy nhiên phương pháp này rất
phức tạp.Vì vậy cần sử dụng phương pháp tính theo nhóm -OH và theo -H
- Tìm số mol của KOH và Ba(OH)
2
, Suy ra số mol (OH);suy luận theo PTHH để tìm

2KOH + H
2
SO
4

→
K
2
SO
4
+ H
2
O
Ba(OH)
2
+ 2HCl
→
BaCl
2
+ 2H
2
O
Ba(OH)
2
+ H
2
SO
4

→

2
và CaCl
2
, sau khi kết thúc phản ứng thì thu được 39,7 gam kết
tủa A và dung dòch B.
a) Chứng minh hỗn hợp muối clorua đã phản ứng hết.
b) Tính % khối lượng của các chất có trong kết tủa A.
* Gợi ý HS:
Để chứng minh muối clorua phản ứng hết ta phải chứng minh hỗn hợp muối cacbonat
còn dư. Tức là số mol gốc CO
3
phản ứng < số mol gốc CO
3
ban đầu.
Trong hỗn hợp Na
2
CO
3
và (NH
4
)
2
CO
3
thì số mol CO
3
= tổng số mol 2 muối ( vì 1 mol
mỗi muối đều có 1 mol CO
3
)

CO
3
+ RCl
2

→
2NaCl + RCO
3
↓ (1)

Trang 16

SKKN – Nguyễn Đình Hành
(NH
4
)
2
CO
3
+ RCl
2

→
2NH
4
Cl + RCO
3
↓ ( 2)
Từ (1), (2) nhận thấy :
Cứ 1 mol muối clorua biến thành kết tủa RCO

x y y
+ =
 

 
+ = =
 

Vậy :
3
0,1 197
% 100 49,62%
39,7
3
CaCO
%m =50,38%
BaCO
m
×
= × = ⇒
CHỦ ĐỀ 5: PHƯƠNG PHÁP HP THỨC
1) Nguyên tắc áp dụng:
- Đây là phương pháp được vận dụng chủ yếu cho việc giải các bài toán chứa nhiều
PTPƯ nối tiếp nhau ( quan hệ bởi các chất trung gian ).
- Ngoài ra phương pháp này vẫn được sử dụng rất hiệu quả trong các trường hợp bài
toán có nhiều PTPƯ diễn ra song song ( không có chất trung gian ) nếu biết tỉ lệ về lượng
của các chất ở 2 phản ứng khác nhau.
- Phương pháp chung:
+) Nếu các phản ứng nối tiếp nhau thì lập một sơ đồ hợp thức chuyển hoá giữa các
chất đề cho và chất đề hỏi.


SKKN – Nguyễn Đình Hành
Các phương trình phản ứng xảy ra: :
CO
2
+ Ca(OH)
2

→
CaCO
3
↓ + H
2
O (1) × 2
2CO
2
+ Ca(OH)
2

→
Ca(HCO
3
)
2
(2)
Vì tỉ lệ mol CaCO
3
: Ca(HCO
3
)

= = =
lít
Lưu ý :
Nếu 0,672 lít khí là của hỗn hợp CO
2
và SO
2
thì bài toán sẽ phức tạp. Tuy nhiên ta
vẫn có thể giải dễ dàng nếu đặt công thức chung của 2 oxit là RO
2
( vì cấu tạo và tính chất
của 2 oxit tương tự nhau )
Ví dụ 2:
Hoà tan hoàn toàn 10,8 gam kim loại Al vào trong dung dòch HNO
3
thì sau phản
ứng thu được một dung dòch X và hỗn hợp khí Y gồm 2 khí NO và N
2
O có tỉ khối đối với
khí Hiđro bằng 19,2. Tính thể tích của mỗi khí trong hỗn hợp Y ( đktc).
* Gợi ý HS:
Từ dữ kiện :
2
/
M
hh
Y H
d ⇒



8,4 3
n
n
= =
Các phương trình phản ứng :
Al + 4HNO
3
→
Al(NO
3
)
3
+ NO + 2H
2
O (1) × 2
8Al + 30HNO
3
→
8Al(NO
3
)
3
+ 3N
2
O + 15H
2
O (2)
Vì tỉ lệ mol NO : N
2
O = 2 : 3 nên tổng hợp (1) và (2)ta có ptpư:

1,792 2,688
2
lít
N O
V
= × =

Tóm lại : Trên đây chỉ là một số phương pháp giải bài tập hoá học. Đây chỉ là một
phần nhỏ trong vô số các phương pháp giải bài tập hoá học nâng cao. Để trở thành một
học sinh giỏi hóa thì học sinh còn phải rèn luyện nhiều phương pháp khác. Tuy nhiên, dù
áp dụng bất kỳ phương pháp nào, học sinh cũng phải nắm thật vững kiến thức giáo khoa
về hóa học. Không ai có thể giải đúng một bài toán nếu không biết chắc phản ứng hóa
học nào xảy ra, hoặc nếu xảy ra thì tạo sản phẩm gì, điều kiện phản ứng như thế nào ?.
Như vậy, nhiệm vụ của giáo viên không những giúp HS rèn kỹ năng giải bài tập, mà còn
xây dựng một nền tảng kiến thức vững chắc, hướng dẫn các em biết kết hợp nhuần
nhuyễn những kiến thức kỹ năng hóa học với năng lực tư duy toán học.

Trang 19

SKKN – Nguyễn Đình Hành
C - BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯC:
I- BÀI HỌC KINH NGHIỆM:

Trong quá trình bồi dướng học sinh giỏi cho huyện, tôi đã vận dụng đề tài này và
rút ra một số kinh nghiệm thực hiện như sau:
- Giáo viên phải chuẩn bò thật kỹ nội dung cho mỗi chủ đề bài tập cần bồi dưỡng
cho HS. Xây dựng được nguyên tắc và phương pháp giải các bài toán của chủ đề đó.
- Tiến trình bồi dưỡng kỹ năng được thực hiện theo hướng đảm bảo tính kế thừa và
phát triển vững chắc. Tôi thường bắt đầu từ một bài tập mẫu, hướng dẫn phân tích đầu
bài cặn kẽ để học sinh xác đònh hướng giải và tự giải, từ đó các em có thể rút ra phương


SKKN – Nguyễn Đình Hành
( Năm học 2005-2006 do trường THCS Chu Văn An tổ chức bồi dưỡng HS giỏi đủ các bộ
môn nên số lượng đội tuyển Hoá ít hơn các năm học trước )

D- KẾT LUẬN CHUNG:
Việc nghiên cứu, vận dụng các phương pháp giải bài tập hoá học đã nêu trong đề tài
nhằm mục đích bồi dưỡng và phát triển kiến thức kỹ năng cho HS vừa bền vững, vừa sâu
sắc; phát huy tối đa sự tham gia tích cực của người học. Học sinh có khả năng tự tìm ra
kiến thức,tự mình tham gia các hoạt động để củng cố vững chắc kiến thức,rèn luyện được
kỹ năng. Đề tài còn tác động rất lớn đến việc phát triển tìm lực trí tuệ, nâng cao năng lực
tư duy độc lập và khả năng tìm tòi sáng tạo cho học sinh giỏi, góp phần thực hiện mục
tiêu đào tạo con người mới phát triển toàn diện. Tuy nhiên cần biết vận dụng các phương
pháp một cách hợp lý và biết kết hợp các kiến thức cơ bản hoá học, toán học cho từng
bài tập cụ thể thì mới đạt được kết quả cao.
Trong khi viết đề tài này chắc chắn tôi chưa thấy hết được những ưu điểm và tồn tại
trong tiến trình áp dụng, tôi rất mong muốn được sự góp ý phê bình của các đồng nghiệp
để đề tài ngày càng hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cám ơn !

Trang 21

SKKN – Nguyễn Đình Hành
E- PHẦN PHỤ LỤC:
I- PHIẾU ĐIỀU TRA :
1) Điều tra tình cảm, thái độ của 20 HS giỏi về năng lực giải BTHH



( Dữ kiện không căn bản , nhiều phản ứng phức tạp )
C) Dạng nào cũng thấy khó khăn.

D) Một loại bài tập khác.

• Xin vui lòng cho biết những khó khăn cụ thể ? Hướng
giải quyết của Anh (chò)? SKKN – Nguyễn Đình Hành
II- TÀI LIỆU THAM KHẢO:
• Cao Thò Thặng : Hình thành kỹ năng giải BTHH - NXB GD 1999.
• GS .Lê Xuân Trọng: Bài tập nâng cao hoá học 9 - NXB GD 2004.
• Ngô Ngọc An : 400 BTHH lớp 9 - NXB ĐHQG TP Hồ Chí Minh 2004.
• Vũ Anh Tuấn : Bồi dưỡng hóa học THCS - NXBGD 2004.
• GS.TS Đào Hữu Vinh : 250 BTHH lớp 9 - NXB GD 2001.
• PGS.TS Nguyễn Xuân Trường : Bài tập nâng cao Hoá học lớp 9 - NXB GD 2005.


Trang 23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status