Sử dụng phiếu giao việc trong dạy học môn Toán lớp 2_Khóa luận tốt nghiệp khoa GDTH. - Pdf 26

Khoá luận tốt nghiệp
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài.
Con ngời là vốn quý nhất của một quốc gia, bởi vậy đào tạo nguồn nhân lực,
bồi dỡng nhân tài là nhiệm vụ mang tính chiến lợc hàng đầu của Đảng và Nhà nớc ta
hiện nay. Để thực hiện mục tiêu đó, trách nhiệm của Giáo dục - đào tạo là hết sức
lớn lao. Trong thời gian qua Giáo dục - đào tạo nớc ta đã có những thay đổi đáng kể
từ nội dung đến phơng pháp dạy và học cho phù hợp với sự phát triển mau lẹ của
khoa học và công nghệ thông tin trên thế giới, phù hợp với yêu cầu mới về phát triển
nguồn nhân lực cho quốc gia trong giai đoạn mới.
Trong hệ thống giáo dục của mỗi quốc gia thì hệ thống giáo dục Tiểu học giữ
một vị trí quan trọng. Trong quyết định số 2957/GD của Bộ trởng Bộ giáo dục
đào tạo đã chỉ rõ: Tiểu học là cấp học nền tảng đặt cơ sở ban đầu cho việc hình
thành, phát triển nhân cách toàn diện của con ngời, đặt nền tảng vững chắc cho Giáo
dục đào tạo và toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân:.
Trong các môn học ở trờng tiểu học thì môn Toán có một ý nghĩa và vị trí
đặc biệt quan trọng. Với t cách là một môn khoa học trong nhà trờng thì môn Toán
giúp trang bị cho học sinh một hệ thống tri thức và phơng pháp riêng để nhận thức
thế giới và làm công cụ cần thiết để học tập các môn khác tốt hơn. môn Toán cũng
giúp hình thành ở học sinh các kỹ năng Toán học, góp phần hình thành ở học sinh
phơng pháp học tập và làm việc có kế hoạch, khoa học, chủ động, sáng tạo.
Để nâng cao hiệu quả của việc dạy và học Toán ở Tiểu học hiện nay vấn đề
đổi mới phơng pháp dạy học Toán đã đợc đa ra và trở thành vấn đề đợc quan tâm
nhiều nhất của các cấp, ngành có liên quan. Phải làm sao có đợc những giờ học toán
thực sự chất lợng, gây hứng thú ở học sinh, phát huy đợc hết tính tích cực và năng
lực vôn có ở các em. Có nhiều phơng án đã đợc đa ra và phơng pháp dạy học Toán
bằng phiếu giáo việc (PGV) là một phơng pháp dạy học mới có nhiều u điểm, phát
huy năng lực và tích cực hoá hoạt động của học sinh trong mỗi giờ học.
Nguyễn Thị Minh K30B GDTH
1
Khoá luận tốt nghiệp

Nguyễn Thị Minh K30B GDTH
2
Khoá luận tốt nghiệp
Nội dung
Chơng 1: Cơ sở lý luận
1. Nhu cầu và định hớng đổi mới phơng pháp dạy học.
1.1. Vì sao phải đổi mới phơng pháp dạy học (PPDH).
Phát huy tính tích cực học tập của học sinh không phải là vấn đề mới mà đã
đợc đặt ra trong ngành Giáo dục nớc ta từ những năm 60 của thế kỉ trớc. Trong cuộc
cải cách giáo dục lần thứ hai từ năm 1980, vấn đề này đã trở thành một trong những
phơng hớng chính nhằm tạo ra những ngời lao động sáng tạo, làm chủ đất nớc.
Những năm vừa qua, trong phong trào đổi mới PPDH, một số không ít giáo
viên có tâm huyết với nghề, có hiểu biết sâu sắc về bộ môn, có tay nghề khá và nhạy
cảm trớc yêu cầu của xã hội đã thể hiện nhiều giờ dạy tốt, phản ánh đợc tinh thần
của xu thế mới. Tuy nhiên phổ biến hiện nay vẫn là cách dạy thông báo kiến thức có
sẵn, dạy học theo phơng pháp thuyết trình có kết hợp với đàm thoại là chủ yếu mà
thực chất vẫn là thầy truyền đạt, trò tiếp nhận và ghi nhớ.
Một nét nổi bật hiện nay là nói chung học sinh cha biết cách tự học, cha học
tập một cách tích cực, tự giác. Nếu cứ tiếp tục cách dạy học thụ động nh thế sẽ
không đáp ứng đợc nhu cầu mới của xã hội. Sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại
hoá đất nớc và sự thách thức trớc nguy cơ tụt hậu trong cạnh tranh trí tuệ đang đòi
hỏi phải đổi mới Giáo dục, trong đó có sự đổi mới căn bản về PPDH. đây không
phải chỉ là vấn đề của nớc ta mà là vấn đề đợc quan tâm của mọi quốc gia trong
chiến lợc phát triển nguồn nhân lực phục vụ các mục tiêu kinh tế - xã hội.
1.2. Định hớng đổi mới phơng pháp dạy học đã đợc xác định trong các
Nghị quyết TW4 khoá VII và Nghị quyết TW2 khoá VIII, đợc thể chế hoá trong
luật giáo dục và đợc cụ thể hoá trong chỉ thị 15 của Bộ giáo dục và đào tạo.
Trong Luật Giáo dục khoản 2 điều 24 đã ghi: Phơng pháp giáo dục phổ thông
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với
đặc điểm của từng môn học, bồi dỡng tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức

đợc yêu cầu giáo dục hiện nay); từ nội dung chơng trình đã thay đổi Những lý do
này yêu cầu trong quá trình dạy học môn Toán phải có sự đổi mới PPDH để đảm
bảo quá trình dạy học vận động và phát triển đúng quy luật.
Nguyễn Thị Minh K30B GDTH
4
Khoá luận tốt nghiệp
Để việc đổi mới PPDH môn Toán ở Tiểu học đạt kết quả cao cần phải đề ra
những định hớng cụ thể, và thực hiện theo những định hớng có tính nguyên tắc ấy.
Có ba định hớng nh sau:
- Trong quá trình dạy học môn Toán, giáo viên là ngời tổ chức, hớng dẫn các
hoạt động của học sinh. Tất cả mọi học sinh đều phải hoạt động học tập để phát
triển năng lực cá nhân.
- Khi tổ chức và hớng dẫn các hoạt động của học sinh, giáo viên phải vận
dụng một cách hợp lý mặt tích cực của các PPDH cũ để giúp học sinh huy động các
kiến thức của mình, tham gia vào các hoạt động nh quan sát, điều tra, thảo luận. Từ
đó mà phát hiện ra và tham gia vào việc giải quyết các tình huống có thể có trong
đời sống.
- Đổi mới PPDH Toán là một quá trình lâu dài. Nó gắn bó chặt chẽ với đổi
mới mục tiêu giáo dục, nội dung, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và bồi dỡng
trình độ chuyên môn cho giáo viên dạy Toán.
Nh vậy để đổi mới PPDH Toán thành công nh mong muốn cần phải tiến hành
theo ba định hớng trên. Ngoài ra chúng ta nên thực hiện 5 giải pháp có tính khả thi
sau đây:
+ Đổi mới nhận thức, trong đó cần tôn trọng khả năng chủ động, sáng tạo của
ngời giáo viên và học sinh Tiểu học.
+ Đổi mới các hình thức tổ chức dạy học: khuyến khích dạy học theo nhóm,
dạy học ở hiện trờng, tăng cờng trò chơi học tập.
+ Đổi mới cách trang trí, sắp xếp phòng học để tạo ra môi trờng học tập hợp
lý.
+ Đổi mới phơng tiện dạy học, khuyến khích dùng các loại phiếu học tập, đồ

6. Viết số 5
7. Viết dấu =
8. Học sinh nghĩ: 12 - 2 = 10; 10 - 5 = 5 rồi viết tiếp 5 vào sau dấu =
Cách 2: Dùng phiếu giao việc:
Trong phiếu giao việc đã in sẵn: 12 - 2 - 5 =
Khi đó, học sinh đợc phát mỗi em một phiếu giao việc và học sinh chỉ cần
tính nhẩm trong đầu 12 - 2 = 10; 10 - 5 = 5 rồi viết 5 sau dấu = để có
12 - 2 - 5 = 5. Tức là học sinh chỉ phải thực hiện 1 động tác: viết 5.
Nguyễn Thị Minh K30B GDTH
6
Khoá luận tốt nghiệp
So sánh hai cách làm nói trên ta thấy rõ ràng từ việc phải thực hiện 8 động
tác, khi sử dụng phiếu giao việc học sinh chỉ phải làm 1 động tác, học sinh tiết kiệm
đợc 7 động tác. Quan trọng hơn, cách 2 nói trên u thế hơn cách 1 là tiết kiệm đợc
thời gian. (Phần thời gian tiết kiệm đợc ấy sẽ giúp bù lại số thời gian bị kéo dài ra do
giáo viên tổ chức cho học sinh thao tác).
Ví dụ 2: Khi cho học sinh lớp 2 giải bài tập 2. SGK Toán 2 trang 21.
Viết số thích hợp vào ô trống:
Số hạng 8 28 38 8 18 90
Số hạng 7 16 41 53 34 8
Tổng
Thông thờng, giáo viên bắt buộc phải sử dụng lối đàm thoại cũ, tức là giáo
viên kẻ bảng nói trên lên bảng lớp rồi lần lợt chỉ vào ô trống rồi hỏi học sinh:
- Em điền vào đây số nào?
- Vì sao?
- .
Cứ giáo viên chỉ bảng hỏi, học sinh trả lời lần lợt cho đến hết. ở đây nếu chỉ
dùng SGK thì rất khó tổ chức cho tất cả học sinh đợc làm việc,vì muốn vậy chỉ có
các phơng án sau:
Phơng án 1: Giáo viên cho học sinh điền ngay số tìm đợc vào SGK

- Sử dụng phiếu giao việc trong đó có nhiều bài tập trắc nghiệm sẽ giúp học
sinh dần tiếp cận và làm việc thành thạo với các phiếu trắc nghiệm, phù hợp với ph-
ơng hớng đổi mới kiểm tra đánh giá và thi cử theo quy định hiện hành của Bộ giáo
dục - đào tạo.
- Khi sử dụng phiếu giao việc, giáo viên làm việc có kế hoạch và mang tính
khoa học. giáo viên không cần phải giải thích, làm nhiều, còn học sinh đợc làm việc
nhiều cho nên rất phù hợp với quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm.
3.2. Nhợc điểm.
- Học sinh làm việc bằng tay nhiều nên khả năng diễn đạt bằng lời bị hạn chế.
- Dùng phiếu giao việc khá tốn kém trong khi nhiều địa phơng cha có điều
kiện về kinh phí để đầu t sử dụng.
- Các thao tác của giáo viên khi phát và thu phiếu giao việc cho học sinh nếu
không tốt sẽ dễ gây lộn xộn, ồn ào lớp học.
Nguyễn Thị Minh K30B GDTH
8
Khoá luận tốt nghiệp
3.3. Cách khắc phục những nhợc điểm nói trên.
- Giáo viên không nên quá lạm dụng phiếu giao việc mà phải cân đối giữa
việc dùng phiếu giao việc với việc sử dụng SGK và cho học sinh ghi vở với các bài
tập trên lớp thì có thể yêu cầu học sinh sử dụng phiếu giao việc còn với các bài
luyện tập ở nhà thì yêu cầu học sinh làm vào vở.
- Yêu cầu học sinh khi đọc kết quả bài làm trong phiếu giao việc thì phải đọc
hoàn chỉnh, không đợc nói tắt theo kiểu không đầu, không cuối, đồng thời yêu cầu
học sinh giải thích cách làm của mình. Khuyến khích học sinh nêu thắc mắc và tự
giải đáp thắc mắc lẫn nhau. Trong dạy học, không nên tuyệt đối hoá nguyên tắc
học bằng tay mà vẫn phải kết hợp khéo léo các phơng pháp khác nhau.
4. Các dạng phiếu giao việc đợc sử dụng trong tiết học bài mới.
Cấu tạo của từng dạng:
Tiến trình dạy bài mới của giáo viên có thể gồm có 3 bớc:
Bớc 1: Kiểm tra bài cũ

trang 46 mà giáo viên muốn kiểm tra khả năng hiểu bài và học bài ở nhà của học
sinh ở bài đó, mà trong SGK có bài tập:
Tính bằng cách thuận tiện nhất:
a) 3254 + 146 + 1698 b) 921 + 898 + 2079
Thì giáo viên có thể ghi vào phiếu kiểm tra các bài tập giống hệt nh thế, chỉ
khác là có chừa sẵn chỗ trống để học sinh làm:
Tính bằng cách bằng thuận tiện nhất:
a) 3254 + 146 + 1698 b) 921 + 898 + 2079
= = .
= . = .
= = .
+ Giáo viên ra các bài tập mới cùng loại với các bài tập đã ra về nhà nhng
thay số.
Ví dụ:
Tính bằng cách thuận tiện nhất:
a) 1589 + 261 + 1730 b) 657 + 899 + 2103
= = .
= . = .
= = .
Nguyễn Thị Minh K30B GDTH
10
Khoá luận tốt nghiệp
+ Giáo viên muốn kiểm tra phần lý thuyết thì yêu cầu học sinh viết đoạn còn
lại của quy tắc vào chỗ chấm.
Ví dụ: nếu giáo viên muốn kiểm tra thêm về lý thuyết xem học sinh có nhớ đ-
ợc quy tắc Tính chất kết hợp của phép cộng không thì có thể ghi thêm vào phiếu
kiểm tra đoạn sau:
Điền các từ còn thiếu vào chỗ chấm:
Khi cộng một tổng hai số với số thứ ba, ta có thể cộng với .
của số thứ hai vào số thứ ba.

x
x 2 = 16
3 x
x
= 21
x
x 4 = 24
x
= 7
x
= 5
x
= 6
x
= 8
x
= 4
x
x 4 = 24
Khoá luận tốt nghiệp

+ Giáo viên đa ra các phát biểu về một quy tắc toán học, học sinh xác định
quy tắc đúng.
Ví dụ: gạch chéo vào ô trống trớc câu đúng trong các câu sau:
Thừa số cha biết của phép nhân bằng tích nhân với thừa số đã biết
Thừa số cha biết của phép nhân bằng tích chia cho thừa số đã biết
Thừa số cha biết của phép nhân bằng thừa số đã biết chia cho tích
Nếu dùng phiếu kiểm tra thì đầu giờ giáo viên phát phiếu cho học sinh và nêu
thời gian làm bài sau đó để các em tự làm. Việc nhận xét bài làm, chấm và chữa bài
nh thế nào thì tuỳ từng trờng hợp mà giáo viên có thể tiến hành theo các cách khác

+ Các cặp cạnh bằng nhau là:
AB =
AD =
2. Hình bình hành có hai cặp cạnh đối diện . .và
Trong phiếu số 1 này đã vẽ sẵn tứ giác ABCD trên nền các ô vuông. Bằng
trực quan, học sinh có thể nhận ra ngay các đặc điểm của tứ giác ABCD trên hình
vẽ. Tức là học sinh có thể làm việc một cách dễ dàng.
Sau khi học sinh đã hoàn thành việc 1 thì các đặc điểm đặc trng của một hình
bình hành đã đợc nêu ra. Lúc đó giáo viên giới thiệu: Ta gọi tứ giác ABCD là hình
bình hành rồi ghi (2) vào ô lệnh, học sinh hoàn thành bài tập 2 trong phiếu học
chính là đã tự khái quát thành khái niệm hình bình hành.
Ví dụ 2: Dạy bài So sánh hai phân số khác mẫu số.SGK Toán 4 trang 121.
Mục tiêu của phiếu học: tổ chức cho học sinh làm việc để tự các em xây dựng
đợc quy tắc so sánh hai phân số khác mẫu số. Giáo viên chỉ hớng dẫn ở mức độ thấp
nhất, còn học sinh làm việc là chủ yếu.
Ta có thể soạn phiếu học cho bài này nh sau:
Nguyễn Thị Minh K30B GDTH
13
D
A
C
B
Khoá luận tốt nghiệp
1. Cho hai băng giấy bằng nhau. Quan sát hai băng giấy:a. Điền số thích hợp vào chỗ chấm:
Đã tô màu băng giấy (I).
Đã tô màu băng giấy (II).
b. Điền dấu >; <; = vào ô trống:

4
=
3

4
ì
=
ì
b. Điền dấu >; <; = vào ô trống:
8
12

9
12
3. Viết tiếp vào chố chấm:
Muốn so sánh hai phân số khác mẫu số, ta có thể mẫu số hai
phân số đó rồi so sánh các .của hai phân số mới.
Phiếu 2: ở phiếu số 2 này ta thấy:
- Việc 1 học sinh hoàn toàn làm ngay đợc dựa trên phơng tiện trực quan là
các băng giấy: học sinh chỉ việc quan sát độ dài của phần băng giấy đã đợc tô màu ở
Nguyễn Thị Minh K30B GDTH
142
3
3
4
(II)
(I)

thành quy tắc khi so sánh hai phân số khác mẫu số bất kỳ.
4.3. Phiếu luyện tập:
-Phiếu luyện tập là một hệ thống bài tập đã đợc viết sẵn trên giấy có chứa
nhiều chỗ trống để học sinh rèn kỹ năng vận dụng các kiến thức mới vừa học đợc.
- Phiếu luyện tập tơng ứng với bớc luyện tập củng cố trong cách dạy học
truyền thống.
ở mỗi phiếu luyện tập nên đa vào các bài toán đố và các bài tập về một số
trong các vấn đề: số học, hình học và đo đại lợng có liên quan đến kiến thức mới,
trong đó u tiên hai mạch bài tập về toán đố và số học, sau đó mới đến hai mạch nội
dung còn lại.
Ví dụ: Dạy bài Tính giá trị của biểu thức .SGK Toán 3 trang 79.
Ta có thể thiết kế phiếu giao việc với các dạng bài tập về các mạch nội dung
nh sau:
- Các bài tập về số học, chẳng hạn:
Nguyễn Thị Minh K30B GDTH
15
Khoá luận tốt nghiệp
a. 203 + 40 + 6 = .
268 - 68 + 15 =
116 - 40 + 13 = .
456 - 7 - 60 = .
b. 25 x 3 x 2 =
84 : 4 : 3 = .
15 x 2 : 3 = .
81: 9 x 4 =
- Bài toán đố:
Giải bài toán theo tóm tắt sau:
1 bộ quần áo: 20.000 đồng
1 chiếc mũ: 12.000 đồng
3 bộ quần áo và 2 chiếc mũ: đồng ?

= 3 D.
x
= 4 D.
x
= 5
+ Bài toán về đo lờng:
12cm + 9cm = .dm .cm
54cm - 5cm + 3cm 5 dm 2cm
Nguyễn Thị Minh K30B GDTH
16
Khoá luận tốt nghiệp
5. Căn cứ để xây dựng phiếu giao việc trong dạy học Toán.
5.1. Phải căn cứ vào mục đích của phiếu giao việc.
Giáo viên phải căn cứ vào mục đích của từng loại phiếu giao việc mà định ra
nội dung phù hợp cho từng loại phiếu, đó là:
+ PGV với mục tiêu để kiểm tra bài cũ xem mức độ học bài ở nhà của học
sinh.
+ PGV với mục tiêu hình thành kiến thức mới ở mỗi học sinh.
+ PGV với mục tiêu để học sinh củng cố luyện tập kiến thức, rèn luyện kĩ
năng, vận dụng kiến thức vừa học.
Việc xác định mục tiêu muốn kiểm tra, mục tiêu kiến thức và kĩ năng cần
hình thành ở học sinh là điều không dễ nhng cần thiết.
5.2. Phải căn cứ vào nội dung kiến thức cần hình thành ở học sinh và hệ
thống bài tập trong SGK để xây dựng các bài tập trong phiếu giao việc cho học
sinh.
5.3. Căn cứ vào trình độ học sinh ở từng lớp, trờng, địa phơng mà mức độ
khó của các nhiệm vụ trong PGV đề ra là khác nhau.
Ví dụ: Khi dạy bài: Bảng chia 6, ở lớp 3 có bài tập để học sinh tự xây dựng
bảng chia 6 từ bảng nhân 6 thì chia hai mức độ nh sau:
+ Với đối tợng học sinh trung bình, bài tập trong PGV là:


60 : 6 =
Nguyễn Thị Minh K30B GDTH
17
Khoá luận tốt nghiệp
+ Với đối tợng học sinh khá, bài tập trong PGV là:
Viết số thích hợp vào bảng nhân 6, từ đó suy ra bảng chia 6:
(a) (b)
6 x 1 =

6 : 6 =
6 x 2 =

12 : 6 =
6 x 3 =

. : 6 =
6 x 4 =

.: 6 =
6 x 5 =

.: 6 =
6 x 6 =

. : 6 =
6 x 7 =

.: 6 =
6 x 8 =

Việc chuyển đổi từ dạng tiếng sang dạng hình giúp chúng ta có thể biến hành
động bằng lời của học sinh thành các hành động bằng tay nh: làm việc trên vật thật,
dùng các kí hiệu để điền, vẽ, nối, tô, đánh dấu với sự hỗ trợ của kênh hình. Đây
cũng là một cách làm tăng hứng thú học tập ở học sinh, mặt khác tăng cờng chuyển
các thông tin từ kênh tiếng sang kênh hình để làm cho kênh hình mạnh lên cũng là
một trong những hớng đổi mới phơng pháp dạy học ở Tiểu học hiện nay.
Ví dụ: Dạy bài Số bị chia - số chia - thơng có nhiều giáo viên thờng nêu các
phép chia, chẳng hạn:
8 : 2 = 4
10 : 2 = 5
14 : 2 = 7
18 : 2 = 9
rồi lần lợt chỉ vào từng phép chia và hỏi học sinh:
- Trong phép chia 8 : 2 = 4 thì 8 là gì? 2 là gì? 4 là gì?
- Trong phép chia 10 : 2 = 5 thì 10 là gì? 2 là gì? 5 là gì?
vv
sau đó lần lợt học sinh trả lời bằng cách gọi tên các thành phần của phép
chia, cứ nh vậy cho đến hết.
Cách làm này rõ ràng kênh tiếng đợc xem trọng vì ở đây chủ yếu là thầy, trò
đàm thoại với nhau còn kênh hình thì rất mờ nhạt, chỉ thể hiện chút ít qua việc giáo
viên chỉ bảng hoặc học sinh quan sát các phép tính trên bảng.
Trong trờng hợp này giáo viên có thể chuyển từ dạng tiếng sang dạng hình
bằng nhiều cách.
Cách 1: Viết các phép chia trên quanh 3 hình: hình chữ nhật, hình tròn và
hình tam giác tơng ứng với 3 thành phần của phép chia: số bị chia, số chia, thơng.
Đề bài yêu cầu học sinh Nối theo mẫu.
Nguyễn Thị Minh K30B GDTH
19
8 : 2 = 4
Số bị

học tập cho học sinh trong PGV cho phù hợp để đạt hiệu quả cao nhất. Đây là một
công việc không đơn giản, nó đòi hỏi sự suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo của giáo viên.
- Chỉ nên chừa chỗ trống các chữ quan trọng và nên để học sinh điền vào các
từ có ý nghĩa quan trọng. Nên đặt chỗ trống vào cuối câu hỏi hơn là đầu câu.
Nguyễn Thị Minh K30B GDTH
20
14 : 2 = 7
18 :
10 :
Khoá luận tốt nghiệp
Ví dụ: Dạy bài Hình thang - Lớp 5
Có thể đa vào phiếu học nhiệm vụ: Điền từ còn thiếu vào chỗ chấm.
(1) Hình thang có hai cạnh đối diện với nhau.
(2) có hai cạnh đối diện song song với nhau.
Thì ta nên chọn cách 1 vì nó rõ ràng hơn không gây nhầm lẫn cho học sinh.
- Không nên chừa chỗ trống quá nhiều chữ trọng yếu để tránh bắt học sinh
phải đoán xem ý giáo viên muốn hỏi gì.
Vídụ: Muốn tính hình chữ nhật ta lấy chiều
rộng.
Nên sửa lại là:
Muốn tính diện tích hình chữ nhật ta lấy nhân với chiều rộng.
- Các khoảng trống phải đủ chỗ cho các câu trả lời để học sinh trình bày rõ
ràng.
Nguyễn Thị Minh K30B GDTH
21
Khoá luận tốt nghiệp
Chơng 2: Xây dựng phiếu giao việc
trong tiết học bài mới môn Toán lớp 2
1. Mục tiêu dạy học môn Toán lớp 2:
Dạy học Toán 2 nhằm giúp học sinh:

phân tích, tổng hợp, trừu tợng hoá, khái quát hoá, phát triển trí tởng tợng trong quá
trình áp dụng các kiến thức, kĩ năng Toán 2 trong học tập và đời sống.
1.3. Tập phát hiện, tìm tòi và tự chiếm lĩnh kiến thức mới theo mức độ của
lớp 2, chăm chỉ, hứng thú trong học tập và thực hành toán.
Nguyễn Thị Minh K30B GDTH
22
Khoá luận tốt nghiệp
2. Nội dung chơng trình môn Toán lớp 2:
2.1. Số học.
2.1.1. Phép cộng và phép trừ có nhớ trong phạm vi 100.
- Giới thiệu tên gọi thành phần và kết quả của phép cộng (số hạng, tổng),
phép trừ (số bị trừ, số trừ, hiệu).
- Bảng cộng và phép trừ không nhớ hoặc có nhớ một lần trong phạm vi 100.
Tính nhẩm và tính viết.
- Tính giá trị biểu thức số có đến hai dấu phép tính cộng, trừ.
- Giải bài tập dạng: Tìm
x
, biết a +
x
= b;
x
- a = b; a -
x
= b (với a,b là các
số có đến 2 chữ số) bằng việc sử dụng mối quan hệ giữa thành phần và kết quả của
phép tính.
2.1.2. Các số đến 1000, phép cộng và phép trừ không nhớ trong phạm vi
1000.
- Đọc, viết, so sánh các số có 3 chữ số. Giới thiệu hàng đơn vị, hàng chục,
hàng trăm.

2.2. Đại lợng và đo đại lợng.
- Giới thiệu đơn vị đo độ dài đềcimét, mét, kilômét, milimét. Đọc, viết các số
đo độ dài theo đơn vị đo mới học. Quan hệ giữa các đơn vị đo độ dài:
1m = 10dm; 1dm = 10cm; 1m = 100cm; 1km = 1000m, 1m = 1000mm
- Tập chuyển đổi các đơn vị đo độ dài, thực hiện phép tính với số đo độ dài
(các trờng hợp đơn giản). Tập đo và ớc lợng độ dài.
- Giới thiệu về lit, đọc, viết, làm tính với các số đo theo đơn vị lit. Tập đong,
đo, ớc lợng theo lit.
- Giới thiệu đơn vị đo khối lợng kilogam. Đọc, viết, làm tính với các số đo
theo đơn vị kilogam. Tập cân và ớc lợng theo kilogam.
- Giới thiệu đơn vị đo thời gian: giờ, tháng. Thực hành đọc lịch (loại lịch
hàng ngày), đọc giờ đúng trên đồng hồ (khi kim phút chỉ vào số 12) và đọc giờ khi
kim phút chỉ vào số 3, 6. Thực hiện phép tính với các số đo theo đơn vị giờ, tháng.
- Giới thiệu về tiền Việt Nam (trong phạm vi các số đang học). Tập đổi tiền
trong trờng hợp đơn giản. Đọc, viết, làm tính với số đo theo đơn vị đồng.
2.3. Yếu tố hình học.
- Giới thiệu về đờng thẳng. Ba điểm thẳng hàng.
- Giới thiệu đờng gấp khúc. Tính độ dài đờng gấp khúc.
- Giới thiệu hình chữ nhật, hình tứ giác. Vẽ hình trên giấy ô vuông.
- Giới thiệu khái niệm ban đầu về chu vi của một hình đơn giản. Tính chu vi
hình tam giác, hình tứ giác.
Nguyễn Thị Minh K30B GDTH
24
Khoá luận tốt nghiệp
2.4. Giải toán có lời văn.
Giải các bài toán đơn về phép cộng và phép trừ (trong đó có các bài toán về
nhiều hơn hoặc ít hơn một số đơn vị), về phép nhân và phép chia.
Trên đây là 4 nội dung chủ yếu của chơng trình Toán lớp 2. Cách phân chia
nh vậy là để ta dễ phân biệt, còn thực tế các kiến thức này đợc sắp xếp đan xen, tạo
ra sự kết hợp hữu cơ, quán triệt tính thống nhất của Toán học, đảm bảo sự tiếp nối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status