Số hóa bởi trung tâm học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN HƢƠNG LAN
SỬ DỤNG MỘT SỐ KĨ THUẬT
DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC
MÔN TOÁN LỚP 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2013 THÁI NGUYÊN - 2013 Số hóa bởi trung tâm học liệu
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết
quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác.
Tác giả luận văn
Nguyễn Hƣơng Lan Số hóa bởi trung tâm học liệu
ii
LỜI CẢM ƠN
Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn PGS.TS.Vũ
Thị Thái, người trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ bảo em trong suốt quá
trình thực hiện luận văn.
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4. Giả thuyết khoa học 2
5. Phương pháp nghiên cứu 2
6. Cấu trúc luận văn 3
Chƣơng 1.CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1. Một số phương pháp dạy học tích cực 4
1.1.1. Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học 4
1.1.2. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở trung học phổ thông 5
1.1.3. Một số phương pháp dạy học tích cực 10
1.2. Một số kĩ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh 17
1.2.1. Mô hình quan điểm dạy học - phương pháp dạy học - kĩ thuật dạy học 17
1.2.2. Một số kĩ thuật dạy học tích cực 18
1.3. Thực tế áp dụng kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học Toán ở
trường THPT 20
1.4. Chương trình sách giáo khoa và thực trạng dạy Toán lớp 11 THPT 21
1.4.1. Đặc điểm chương trình sách giáo khoa lớp 11 21
1.4.2. Thực trạng dạy Toán lớp 11 THPT 22
Kết luận chương 1 23 Số hóa bởi trung tâm học liệu
iv
Chƣơng 2. SỬ DỤNG MỘT SỐ KỸ THUẬT DẠY HỌCTÍCH
CỰC VÀO THIẾT KẾ BÀI GIẢNG MÔN TOÁNLỚP
11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 24
2.1. Một số tiêu chí để lựa chọn các kĩ thuật dạy học 24
2.2. Một số kĩ thuật dạy học tích cực sử dụng trong thiết kế bài giảng
môn Toán lớp 11 24
2.2.1. Kĩ thuật (XYZ) 24
GTLN
Giá trị lớn nhất
2
GTNN
Giá trị nhỏ nhất
3
KTDH
Kỹ thuật dạy học
4
NXB
Nhà xuất bản
5
PPDH
Phương pháp dạy học
6
PTLG
Phương trình lượng giác
7
SGK
Sách giáo khoa
8
THPT
Trung học phổ thông
Số hóa bởi trung tâm học liệu
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
phương pháp dạy học.
Luật Giáo dục 2005, chương I, điều 24 có ghi: "Phương pháp giáo dục
phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của
học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng
phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác
động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập của học sinh.
Quy định này đã trở thành định hướng cho việc đổi mới phương pháp
dạy học ở nước ta hiện nay. Tinh thần cơ bản của định hướng này là: Phương
pháp dạy học cần tạo cơ hội cho người học học tập trong hoạt động và bằng
hoạt động tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo. Định hướng có thể gọi tắt là
định hướng “hoạt động hoá người học”.
Việc vận dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực vào dạy học có ý nghĩa
đặc biệt trong việc phát huy sự tham gia tích cực của học sinh vào quá trình
dạy học, kích thích tư duy sáng tạo và sự cộng tác làm việc của học sinh. Áp
dụng các kĩ thuật dạy học tích cực trong hoạt động dạy học là một hướng
đang nhận được sự quan tâm của các nhà giáo dục và nhiều các thầy cô giáo,
tích cực góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, đặc biệt là giáo
dục và đào tạo phổ thông.
Nội dung môn Toán lớp 11 được xây dựng theo quan điểm hiện đại,
thực tiễn và có nhiều nội dung có thể vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực
vào việc dạy học. Số hóa bởi trung tâm học liệu
2
Với những lý do trên và qua thực tế giảng dạy bộ môn Toán ở trường
THPT chúng tôi chọn đề tài là:
“Sử dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy họcmôn Toán
lớp 11”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: dạy thử nghiệm trực tiếp trên lớp.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận văn gồm ba chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn.
- Chương 2: Sử dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học
môn Toán lớp 11 trung học phổ thông.
- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. Số hóa bởi trung tâm học liệu
4
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Việc sử dụng chúng đạt hiệu quả hay không, có tác dụng thiết thực đến đổi
mới PPDH hay không tùy thuộc vào cách dạy của từng giáo viên cụ thể. Nếu
sử dụng loại phương tiện hiện đại này để thuyết trình bài học, thay cho việc
ghi bảng của giáo viên thì vẫn là cách dạy cũ làm cho học sinh thụ động trong
học tập. Việc sử dụng công nghệ thông tin để phát huy tính tích cực, chủ động
của học sinh trong học tập, thông qua tổ chức hợp lý hoạt động nhận thức của
học sinh là biện pháp đẩy nhanh việc đổi mới PPDH ở trường phổ thông,
nâng cao chất lượng bài học.
ĐổimớiPPDH là nhucầu tất yếu của giáo viên, bởi vì đổimới là sự cải
tiến, nâng cao chất lượng PPDH đang sử dụng để đóng góp nâng cao chất
lượng hiệu quả của việc dạyhọc, là sự bổ sung, phối hợp nhiều PPDH để khắc
phục mặt hạn chế của phươngpháp đã và đang sử dụng nhằm đạt mục tiêu
dạyhọc, là thay đổiphươngpháp đã và đang sử dụng bằng phươngpháp ưu việt
hơn, đem lại hiệu quả dạyhọc cao hơn. Vì thế, đổimớiPPDH được xác định
trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đang chỉ
đạo triển khai nhằm đáp ứng yêu cầu của mục tiêu và nội dung giáo dục mới.
1.1.2. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở trung học phổ thông
Định hướng đổi mới PPDH đã được xác định trong Nghị quyết Trung
ương 4 khoá VII (01/1993), Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII (12/1996),
được thể chế hoá trong Luật Giáo dục, được cụ thể hoá trong các chỉ thị của Bộ
Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt chỉ thị số 14 (4 - 1999).
Luật Giáo dục, điều 28.2,[8] đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp
với đặc điểm của từng lớp học, môn học và bồi dưỡng phương pháp tự học, Số hóa bởi trung tâm học liệu
6
khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực
tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
tiêu và nội dung dạy học. Mỗi phương pháp và hình thức dạy học có những
ưu, nhựơc điểm và giới hạn sử dụng riêng. Vì vậy việc phối hợp đa dạng các
phương pháp và hình thức dạy học trong toàn bộ quá trình dạy học là phương
hướng quan trọng để phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng dạy học.
c) Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề
Dạy học giải quyết vấn đề (hay còn là dạy học nêu vấn đề; dạy học
nhận biết và giải quyết vấn đề) là quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực
tư duy, khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề. Học sinh được đặt trong một
tình huống có vấn đề, đó là tình huống chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, thông
qua việc giải quyết vấn đề, giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương
pháp nhận thức. Dạy học giải quyết vấn đềlà con đường cơ bản để phát huy
tính tích cực nhận thức của học sinh, có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy
học với những mức độ tự lực khác nhau của học sinh.
d) Vận dụng dạy học theo tình huống
Dạy học theo tình huống là một quan điểm dạy học, trong đó việc dạy
học được tổ chức theo một chủ đề phức hợp gắn với các tình huống thực tiễn
cuộc sống và nghề nghiệp. Quá trình học tập được tổ chức trong một môi
trường học tập tạo điều kiện cho học sinh kiến tạo tri thức theo cá nhân và
trong mối tương tác xã hội của việc học tập.
e) Vận dụng dạy học định hướng hành động
Dạy học định hướng hành động là quan điểm dạy học nhằm làm cho
hoạt động trí óc và hoạt động chân tay kết hợp chặt chẽ với nhau. Trong quá
trình học tập, học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập và hoàn thành các sản
phẩm hành động, có sự kết hợp linh hoạt giữa hoạt động trí tuệ và hoạt động
tay chân. Đây là một quan điểm dạy học tích cực hoá và tiếp cận toàn thể. Số hóa bởi trung tâm học liệu
8
Vận dụng dạy học định hướng hành động có ý nghĩa quan trong cho việc thực
Số hóa bởi trung tâm học liệu
9
i) Bồi dưỡng phương pháp học tập cho học sinh
Phương pháp học tập một cách tự lực đóng vai trò quan trọng trong
việc tích cực hoá, phát huy tính sáng tạo của học sinh. Có những phương pháp
nhận thức chung như phương pháp thu thập, xử lý, đánh giá thông tin, phương
pháp tổ chức làm việc, phương pháp làm việc nhóm, có những phương pháp
học tập chuyên biệt của từng bộ môn. Bằng nhiều hình thức khác nhau, cần
luyện tập cho học sinh các phương pháp học tập chung và các phương pháp
học tập trong bộ môn.
j) Cải tiến việc kiểm tra đánh giá
Đổi mới PPDH cần gắn liền với đổi mới về đánh giá quá trình dạy học
cũng như đổi mới việc kiểm tra và đánh giá thành tích học tập của học sinh.
Cần bồi dưỡng cho học sinh những kĩ thuật thông tin phản hồi nhằm tạo điều
kiện cho học sinh tham gia đánh giá và cải tiến quá trình dạy học.
Định hướng chung về đổi mới PPDH là phát huy tính tích cực, tự giác,
chủ động, sáng tạo, tự học, kĩ năng vận dụng vào thực tiễn, phù hợp với đặc
điểm của từng lớp học, môn học; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, tạo
hứng thú học tập cho học sinh, tận dụng được công nghệ mới nhất; khắc phục
lối dạy truyền thống truyền thụ một chiều các kiến thức có sẵn. Rất cần phát
huy cao năng lực tự học, học tập suốt đời trong thời đại bùng nổ thông tin.
Tăng cường học tập cá thể phối hợp với hợp tác. Định hướng vào người học
được coi là quan điểm định hướng chung trong đổi mới PPDH. Quan điểm
định hướng chung cần được cụ thể hoá thông qua những quan điểm dạy học
khác, như dạy học giải quyết vấn đề, dạy học theo tình huống, dạy học định
hướng hành động cũng như các phương pháp, kĩ thuật dạy học cụ thể, nhằm
tăng cường hơn nữa việc gắn lí thuyết với thực tiễn, tư duy với hành động, nhà
trường với xã hội. Đổi mới PPDH được thực hiện theo các định hướng sau:
Bám sát mục tiêu giáo dục phổ thông; phù hợp với nội dung dạy học cụ thể;
Số hóa bởi trung tâm học liệu
11
- Dạy học nhóm đòi hỏi giáo viên phải chuẩn bị kĩ lưỡng kế hoạch dạy
học, lựa chọn những nội dung thực sự phù hợp với hoạt động nhóm và thiết
kế được các hoạt động giúp các em lĩnh hội, khám phá kiến thức mới một
cách tốt nhất.
- Tổ chức dạy học nhóm là một hình thức dạy học mới. Đó là một trong
những hình thức thực hiện tốt việc dạy học phát huy tính tích cực và tương tác
của học sinh. Với hình thức này, học sinh được hấp dẫn, lôi cuốn vào các hoạt
động học, thu lượm kiến thức bằng chính khả năng của mình với sự giúp đỡ,
hướng dẫn của giáo viên.
- Phương pháp dạy học theo nhóm được sử dụng nhằm khai thác vốn
kiến thức mà các em đã tích luỹ, những hiểu biết thực tế trong đời sống hoặc
vận dụng kiến thức vào cuộc sống lao động sản xuất.
Lợi ích của công việc dạy học nhóm.
1. Giúp học sinh làm việc hợp tác.
2. Cho phép học sinh học hỏi lẫn nhau.
3. Khuyến khích sự tham gia của học sinh.
4. Loại bỏ vết nhơ về thất bại của học sinh.
5. Cho phép học sinh tôn trọng điểm yếu và điểm mạnh của người khác.
6. Cho phép học sinh làm việc với nhịp độ riêng.
7. Tạo điều kiện cho công việc hợp tác.
8. Khuyến khích sự cùng ra quyết định.
9. Tạo điều kiện cho học sinh tập làm lãnh đạo.
10. Khuyến khích phát triển tính tự quản, khả năng xoay sở và tôn
trọng bản thân.
11. Khuyến khích tư duy cấp cao.
12. Là một phương pháp đặc biệt hữu hiệu cho hoạt động giải quyết
vấn đề.
* Đặc điểm của dạy học theo hợp đồng
Học theo hợp đồng là một hình thức dạy học mang tính cá thể hóa, tạo
điều kiện phân hóa trình độ của học sinh, khuyến khích học sinh phát triển tối Số hóa bởi trung tâm học liệu
13
đa năng lực học tập, năng lực xã hội (năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp) và
tự kiểm soát, tự đánh giá kết quả học tập của mình. Hình thức dạy học này
khác với việc dạy học mang tính đồng loạt cho toàn thể lớp học, cho phép
giáo viên có thể quản lí và kiểm soát, thẩm định, đánh giá được năng lực học
tập của mỗi học sinh. Hình thức dạy học này tạo cơ hội học tập cho tất cả học
sinh trong lớp theo trình độ, nhịp độ và theo năng lực.
Khi yêu cầu học sinh thực hiện một số các nhiệm vụ, bài tập theo một
thứ tự cố định thì chỉ có thể gọi là hình thức làm việc độc lập chứ không phải
là học theo hợp đồng. Học theo hợp đồng chủ yếu phù hợp với những nội
dung luyện tập, ôn tập. Đối với các nội dung lý thuyết thì hợp đồng chỉ được
thực hiện nếu các nhiệm vụ học tập không được yêu cầu thực hiện theo một
thứ tự nhất định. Học theo hợp đồng đôi khi bị nhầm với học cá nhân. Tuy
nhiên trong học theo hợp đồng không phải không có nhiệm vụ lắng nghe và
trình bày. Học theo hợp đồng có thể có hoạt động theo cặp, theo nhóm(có
thỏa thuận hướng dẫn rõ ràng). Các nhiệm vụ làm theo nhóm, các nhiệm vụ
bắt buộc và tự chọn có thể làm cho các hoạt động học theo hợp đồng phong
phú và hấp dẫn hơn vì khi đó học sinh có thể thể hiện khả năng sáng tạo của
mình, có thể xây dựng, thực hành các kỹ năng xã hội như kỹ năng làm việc
nhóm, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thể hiện mình với người khác, kỹ năng trình
bày vấn đề
* Vai trò của giáo viên trong dạy học theo hợp đồng
Trong học theo hợp đồng, giáo viên là người: thiết kế, xây dựng các
nhiệm vụ, bài tập trong hợp đồng; tổ chức, hướng dẫn học sinh nghiên cứu
tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội. Trong những trường hợp lý
tưởng, việc thực hiện các dự án có thể mang lại những tác động xã hội tích cực.
- Định hướng hứng thú người học: Học sinh được tham gia chọn đề tài,
nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân. Ngoài ra, hứng
thú của người học cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện dự án. Số hóa bởi trung tâm học liệu
15
- Tính phức hợp: Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh
vực hoặc môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp.
- Định hướng hành động: Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết
hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và vận dụng lý thuyết vào trong hoạt động thực
tiễn, thực hành. Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết
cũng như rèn luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học.
- Tính tự lực cao của người học: Trong dạy học dự án, người học cần
tham gia tích cực và tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học. Điều đó
cũng đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học.
Giáo viên chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ. Tuy nhiên mức độ
tự lực cần phù hợp với kinh nghiệm, khả năng của học sinh và mức độ khó
khăn của nhiệm vụ.
- Cộng tác làm việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theo
nhóm, trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các
thành viên trong nhóm. Dạy học dự án đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kĩ
năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa học sinh và giáo
viên cũng như với các lực lượng xã hội khác tham gia trong dự án. Đặc điểm
này còn được gọi là học tập mang tính xã hội.
- Định hướng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm
được tạo ra. Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lý
thuyết, mà trong đa số trường hợp các dự án học tập tạo ra những sản phẩm
làm cho vai trò của học sinh gắn với nội dung cần học (thiết kế các bài tập
cho học sinh)…
Tóm lại, giáo viên không còn giữ vai trò chủ đạo trong quá trình dạy
học mà trở thành người hướng dẫn, người giúp đỡ học sinh, tạo môi trường
thuận lợi nhất cho các em trên con đường thực hiện dự án.