PHÒNG GIÁO DỤC & ĐT HUYỆN CHÂU THÀNH
TRƯỜNG THCS AN HIỆP
Người thực hiện : La Bích Loan
ỨNG DỤNG MỘT SỐ KĨ THUẬT DẠY HỌC
GIÚP HỌC SINH
LỚP 6 HỌC TỐT TIẾT
TẬP LÀM VĂN
1 / TÓM TẮT ĐỀ TÀI :
Trong tình hình hiện nay, nền kinh tế khoa học kĩ thuật luôn vận
động và phát triển như vũ bão. Do đó kiến thức bộ môn của từng cấp
học luôn là nền tảng, là động lực, là cơ sở mang tính lâu dài, hơn nữa
nhiệm vụ của ngành Giáo dục mang ý nghĩa vô cùng to lớn, không chỉ
truyền đạt tri thức mà con giúp cho người học biết vận dụng, có kĩ năng,
có tư duy, có ý tưởng, cách xử lí tình huống trong hoạt động học tập …
Muốn làm được điều đó thì yêu cầu người giáo viên cần phải có định
hướng, phối hợp với các họat động của học sinh, đặc điểm học sinh của
lớp, tình hình lớp dạy, từ khâu xây dựng giáo án đến khâu lên lớp dạy,
bước kiểm tra bài cũ, vào bài mới có thiết kế các hoạt động dạy – học,
có phương pháp dạy, nội dung bài dạy, yêu cầu này được ghi rõ và cụ
thể hóa trong thông tư 30/ 2009/ TT- BGDĐT ban hành 22/10/2009 ở
điều sáu, tiêu chuẩn ba đó là: “Các kế hoạch dạy học được xây dựng
theo hướng tích hợp dạy học với giáo dục thể hiện rõ mục tiêu, nội
dung, phương pháp dạy học phù hợp với đặc thù môn học, đặc điểm học
sinh và môi trường giáo dục, phù hợp hoạt động học với hoạt động dạy
theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh”. Để làm
được điều này đối với học sinh lớp sáu, lớp mới bước vào ngưỡng cửa
cấp THCS còn nhiều bỡ ngỡ, mới mẻ cho nên tôi quyết định chọn đề tài
văn như : bài văn viết đoạn, luyện nói trên lớp và các yêu cầu có ở sách
giáo khoa đưa ra.
Trong hình thức học này, tôi áp dụng một trong những yêu cầu của
lớp học tập huấn giáo viên dành cho học sinh vùng khó khăn. Ở đây
người giáo viên là người định hướng, sao cho phát huy tính chủ đạo, chủ
động của học sinh, luôn khuyến khích tác động đến người học, giúp người
học có động cơ, sự say mê, niềm sáng tạo, sự tự tin, độc lập trong việc
phát hiện cái hay, giải quyết tình huống bài tập, tình huống thực tiễn liên
hệ bài học. Chính từ đó học sinh có thể tự đánh giá mức độ tiếp thu, tự
khẳng định những tri thức mà bản thân mình đạt được trong tiết học,với
tiết Tập làm văn tôi thường áp dụng kĩ thuật dạy này, nhằm mục đích tạo
kĩ năng học tập, tạo thói quen trong cách nghĩ, cách ứng dụng, rèn môi
trường tự học, ý thức học tích cực và cũng là nền tảng học tốt các bộ môn
khác.
2.2 / Giải pháp thay thế :
Theo định hướng phương pháp dạy học mới, học sinh phải là
trung tâm trong tất cả các hoạt học trên lớp. Tuy nhiên trong thực tế lên
lớp, không phải lúc nào các em cũng chủ động làm chủ kiến thức, lĩnh hội
kiến thức theo sự mong muốn, có lúc giáo viên lại phải quay về với
phương pháp truyền thống ( thuyết giảng) để bổ sung kiến thức. Từ thực
tế đó, vô tình làm cho hoạt động nhóm trên lớp chỉ là hình thức, thiếu hiệu
quả, không đáp ứng đòi hỏi hiện thực phát triển trí não của người học và
nhu cầu nhân tài cho thế hệ.
Do đó để hình thành kĩ năng học tập tích cực chủ động, sáng tạo
của học sinh mà cụ thể ở tiết Tập làm văn lớp sáu, tôi quyết định chọn đề
tài “ Ứng dụng một số kĩ thuật dạy học giúp học sinh lớp 6 học tốt tiết
Tập làm văn” và cũng có thể áp dụng chung cho những tiết Tập làm văn
ở các khối 7,8,9 để nâng cao hiệu quả tiết học hơn.
+ Tìm hiểu, trao đổi xung quanh yêu cầu đề.
+ Trò chuyện, đặt câu hỏi với GVBM , với bạn cùng nhóm .
+ Tranh luận, đưa ra phương thức đúng đắn.
+ Thực hành dựng đoạn, trình bày miệng trên lớp.
+ Tổng kết lại hoạt động- đánh giá lại hoạt động sau tiết học.
+ Nghiên cứu tài liệu tập huấn, nghiên cứu các giá trị p của T-test
2.5 / Giả thuyết nghiên cứu:
Việc chọn đề tài nghiên cứu “ Ứng dụng một số kĩ thuật dạy học
giúp học sinh lớp 6 học tốt tiết Tập làm văn” ở đây còn rất mới mẻ, vì vậy
cần đưa ra tính khả thi sao cho việc ứng dụng mang lại hiệu quả cao. Các
hoạt học tập tích cực mà giáo viên được tập huấn hầu như áp dụng rất
thực thi cho người học, có làm biến đổi hiệu quả học tập, nâng cao tỉ lệ
học trung bình, khá, giỏi hạn chế yếu kém. Đặc biệt làm cho học sinh giỏi,
khá có khả năng phát huy tìm ẩn nhanh nhạy trong lập luận của mìmh,
mạnh dạng phát biểu, tự tin trong bài làm, kèm được bạn yếu hơn, huy
động tốt năng lực tư duy hơn, có thái độ đúng đắn trong cách học, cách
vận dụng hay liên hệ thực tế mà yêu cầu bài đặt ra .
Vì vậy tôi đưa quyết định chọn đề tài này cho phân môn Tập làm văn
của mình giảng dạy, cụ thể xin đưa ra một số vấn đề như sau:
a / Về phía giáo viên :
Việc ứng dụng kĩ thuật dạy học sao cho hiệu quả nhất, ở tiết Tập làm
văn lớp sáu rất cần sự đầu tư trong soạn giảng, cần có sự định hướng về
phương pháp như :
+ Lấy hoạt động học sinh là trung tâm của hoạt động học.
+ Lấy sản phẩm học tập từ hoạt động nhóm học .
+ Lấy ý kiến trao đổi, bàn luận từ ý chung của hoạt động nhóm.
+ Giáo viên chỉ là người tổ chức, điều khiển.
+ Giáo viên chỉ là người định hướng, khơi gợi.
Trước đây người học chủ yếu là nghe – viết tiếp nhận kiến thức một
THCS An Hiệp, đa số là học sinh đầu cấp nên việc áp dụng kĩ thuật còn
rất mới mẻ, nhưng lại rất cần thiết vì nó là tiền đề hình thành ý thức học
tập hiệu quả ở những cấp học về sau.
Theo đặc thù của lớp sáu ở trường THCS An Hiệp, thì mỗi lớp có 18
bàn đôi, với 34 học sinh, chia thành 8 nhóm ( Để tránh di chuyển lộn xộn,
ồn ào, khi thảo luận hoặc học hợp tác chỉ cần hai bàn đâu mặt nhau lại là
được ).
Giáo viên phân nhóm và có nhóm trưởng, nhóm phó, nhiệm vụ ghi
chép, để điều hành chung và chuẩn bị tốt dụng cụ cần 8 cái bảng phụ
( Giấy Ao, hay bảng da, bảng giấy bằng Sơmili, có kích cở 70 -> 90 em,
có 8 cây bút lông).
Cụ thể ở 2 lớp được chọn có nhiều điểm tương đồng về học lực khi
trước và sau khi thực nghiệm:
Bảng 1:
Sĩ
Số
Lớp
Trước tác động Sau tác động
Kém Yếu Tb Khá Giỏi Kém Yếu Tb Khá Giỏi
32 6/1
5 8 15 2 2
32 6/2
0 6 11 6 9
- Ý thức học tập của các em tương đối chăm – ngoan
- Thành tích học tập sau tác động của hoạt động nhóm có sự tiến bộ,
có em biết trình bày cụ thể ý tưởng để hình thành bài Tập làm văn.
3. 2 / Thiết kế nghiên cứu :
_ Lớp chọn nghiên cứu là 6/1, 6/2 dựa trên kết quả kiểm tra và qua
P = 0,005 từ đó kết luận sự chênh lệch điểm trung bình của hai nhóm
thực nghiệm và đối chứng chưa tương đương. Sử dụng thiết kế bảng 3 mô
tả kiểm tra trước và sau tác động .
Bảng 3 : Ở thiết kế này, tôi sử dụng phép kiểm chứng T-test độc lập
Nhóm Kiểm tra trước
tác động
Tác động KT sau tác động
Thực nghiệm Lấy điểm kiểm
01 tra thường
xuyên
02
Đối chứng 02
Lấy điểm thực
hành luyện viết
có áp dụng kĩ
thật dạy tích cực
04
3.3 / Qui trình nghiên cứu :
♣ Giáo viên chuẩn bị :
Đối với lớp đối chứng có tiến hành phân nhóm, có dạy theo thứ tự
của PPCT và nội dung của tiết học cụ thể :
_ Học tương tác ( nhóm nhỏ 1 đến 2,3 học sinh) kĩ thuật này thường
dùng khi cần học sinh trao đổi, thảo luận những vấn đề cụ thể, đơn giản,
thời gian ngắn.
_ Học hợp tác, kĩ thuật khăn trải bàn ( nhóm 3đến 5 học sinh;hoặc
có thể 5 đến 8 học sinh) dùng khi thảo luận với nội dung có nhiều vấn đề,
các vấn đề có tính so sánh, trao đổi một ý kiến để hình thành đơn vị kiến
thức, đòi hỏi sự nổ lực của cả nhóm, rèn kĩ năng xử lý tình huống có tính
Tuần 11 :
Thứ hai 5 / 11
Tiết 2: 6/2
Tiết 4: 6/ 3
41 Luyện nói kể chuyện
Tuần 12 :
Thứ ba 13 / 11
Tiết 2: 6/2
Tiết 4: 6/1
48 Luyện tập xây dựng bài tự sự kể
chuyện đời thường
Tuần 14 :
Thứ hai 26 / 11
Tiết 3: 6/2
Tiết 4: 6/3 53 Kể chuyện tưởng tượng
Thứ ba 27 / 11 Tiết 4: 6/1
Tuần 15 :
Thứ tư 04 / 12
Tiết 2: 6/2
Tiết 4: 6/1
58 Luyện tập kể chuyện tưởng
tượng
Tuần 20:
Thứ măn 10 / 01
Thứ bảy 12/ 01
Tiết 4: 6/2
Tiết 4: 6/1
80 Quan sát tưởng,so sánh và nhận
xét trong văn miêu tả
sự tiến bộ rất rõ ở học sinh lớp sáu thể hiện ở cột điểm sau khi đối chứng,
chênh lệch ĐTB bằng T-test cho kết quả P = 0,09434 ; nghĩa là việc học
đạt được hiệu quả từ ứng dụng làm cho bản thân học sinh có sự chăm chỉ,
sự tự học được phát huy, sự suy nghĩ được đào sâu, tìm tòi, hỏi han học
tập. Biết lặp lại vấn đề, biết tự đặt ra những câu hỏi “ Tại sao? Như thế
nào ? Làm những gì ? Liên hệ thực tế đó là những gì ? Thực tế đó từ đâu
mà có ? …. rồi tự mình giải quyết các tình huống đó. Đây là một ứng
dụng có hiệu quả hơn bất kì tiết học nào mà người giáo viên dành cho học
sinh, học giỏi hay không chủ yếu là do bản thân người học có chăm chỉ
học tập, nổ lực, độc lập trong suy nghĩ nhằm chống tình trạng:
+ Lười suy nghĩ, lười tìm hiểu, lười làm bài .
+ Học vẹt, học qua loa, học đại khái.
+ Ỷ lại sự giúp đỡ của thầy, xem bài giải.
Giả thuyết của đề tài “ Ứng dụng một số kĩ thuật dạy học giúp học
sinh lớp 6 học tốt tiết tập làm văn ” có theo hướng đổi mới,theo tinh thần
học tập huấn giáo viên dành cho dạy học sinh vùng khó khăn mà tôi đã áp
dụng, đó là một quá trình kết hợp nhuần nhuyễn giữa hoạt động dạy –
học, là quá trình người học phải phấn đấu thường xuyên và liên tục, là quá
trình thực nghiệm có tư duy, tìm tòi học hỏi, tranh luận, tiếp thu cái hay,
cái mới mà người học đúc kết được. Đây chính là cách đánh giá đúng đắn
và áp dụng có hiệu quả nhất, người học có nhiệt quyết trong học tập với
một thái độ đúng đắn khắc sâu kiến thức môn học hơn.
4 .1 / Bàn luận :
Kết quả học tập thu được sau những tiết dạy luyện tập, luyện nói, thực
hành viết đoạn, tranh luận tình huống, xử lý vấn đề …có lấy điểm số của
nhóm để đối chiếu, kết quả của nhóm đối chứng là TBC = 5,90 ; chênh
lệch điểm số giữa các nhóm hoạt động (SD) là = 1,44 ; chênh lệch giá trị
trung bình chuẩn của những tiết hoạt động có ứng dụng của các lớp dạy là
SMD = 0,31 ; Điều này có nghĩa mức độ làm việc nhóm của học sinh rất
tận dụng hết được vẫn còn cái thiếu xót. Rất mong được sự góp ý của quý
đồng nghiệp, để ngày càng nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy- học.
5.2 / Khuyến nghị :
- Ở bộ môn Ngữ Văn đối với những bài học theo chỉ đạo không dạy
trên lớp, thì cần thêm tiết đối với những bài luyện viết hay thực hành
luyện nói trên lớp, để học sinh có thời gian phát huy được tính chủ động,
tư duy tích cực trong học tập hơn.
- Cần khuyến khích động viên kịp thời đối với những giáo viên thực
hiện nghiêm túc, thực hiện tốt chỉ đạo chuyên môn. Có khen thưởng cho
những sáng tạo, tìm tòi, phương pháp mang lại hiệu quả cao trong hoạt
động dạy- học nhằm khuyến khích các phong trào sáng tạo trong hoạt
động dạy học.
♣ Phụ lục giáo án
Tuần: 14
Tiết : 53
KỂ CHUYỆN TƯỞNG TƯỢNGI / MỤC TIÊU CẦN ĐẠT :
- Giúp học sinh hiểu thế nào là kể chuyện tưởng tượng .
- Cảm nhận vai trò của tưởng tượng trong tác phẩm tự sự
II / TRỌNG TÂM KIẾN THỨC KĨ NĂNG :
1/ Kiến thức:
- Nhân vật, sự kiện, cốt truyện trong tác phẩm tự sự .
- Vai trò của tưởng tượng trong văn tự sự .
2/ Kĩ năng :
Kể chuyện sang tạo ở mức độ tưởng tượng .
3/ Thái độ :
Biết trình bày câu chuyện một cách sang tạo .
xuất sắc trong các năn học qua.
b. Tuy mới quen nhưng Lan rất thân
thiết với tôi.
c. Lan luôn xứng đáng với danh hiệu
học sinh giỏi vì Lan chăm học.
d. Em thầm nhủ sẽ học tập ở Lan
những đức tính chăm ngoan, tốt bụng
để được bạn bè quý mến như Lan.
Câu 3 : d ( 1 điểm)
3 / Bài mới : Bên cạnh kể chuyện đời thường những sự việc chứng
kiến, ở kể tưởng tượng có nhiều yêu cầu đặt ra cho người kể sao cho hay
và thú vị . Để rõ hơn thì tiết học này giúp em hơn .
( Bài mới 30 phút )
Hoạt động của thầy
Hoạt động I: Hướng dẫn
tìm hiểu về kể tưởng tượng
GV yêu cầu học sinh đọc
? Em hãy đọc các yêu cầu
ở SGK/131 ?
? Gọi học sinh tóm tắt
truyện“Chân,Tay,Tai, Mắt,
Miệng ”?
GV nhận xét
? Trong truyện này người
ta đã tưởng tượng những gì
? Yếu tố tưởng tượng có
vai trò gì cho cả câu