PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
Nền kinh tế nước ta đang chuyển đổi nhanh chóng từ cơ chế kế hoạch hoá
tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước. Công cuộc đổi mới
này đã đặt ra những yêu cầu cấp bách về nguồn nhân lực đối với ngành giáo dục đó
là cần phải đào tạo ra những người lao động tự chủ, năng động và sáng tạo, có
năng lực giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra, tự lập nghiệp và lo được cuộc
sống của mình, qua đó góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh. Nghị quyết TƯ 4 khóa VII đã đề ra nhiệm vụ: “Đổi mới
phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học, áp dụng những phương pháp
giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho HS năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải
quyết vấn đề. ” Tiếp tục sau đó, nghị quyết TW 2 khoá VIII còng đã khẳng định:
“Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một
chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các
phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạyhọc, đảm bảo điều
kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh nhất là sinh viên đại học”
Thống nhất quan điểm và thực hiện chủ trương trên, ngành giáo dục và đào
tạo đã và đang tiến hành đổi mới tõ mục tiêu, nội dung, chương trình SGK cũng
như cách đánh giá và đặc biệt là đổi mới phương pháp dạy học.Tuy nhiên, tõ việc
thống nhất quan điểm đến việc hiểu thấu đáo côm tõ “đổi mới phương pháp dạy
học” và triển khai trong thực tiễn dạy học vẫn còn là một khoảng cách và cần có
nhiều đầu tư nghiên cứu. Chẳng hạn, nói đến đổi mới PPDH thì hầu hết GV nói
chung và GVTH nói riêng đều hiểu rằng cần đưa thêm mét sè PPDH mới vào trong
nhà trường với nhiều hình thức tổ chức dạy học phong phó, với sự hỗ trợ
củacác phương tiện dạy học và thiết bị dạy học hiện đại. Điều này không đồng
nghĩa với việc phủ nhận các PPDH truyền
thống mà trên cơ sở kế thừa các PPDH truyền thống; khai thác thế mạnh của
các PPDH truyền thống để sử dụng theo định hướng tích cực hoá người học.
Việc kế thừa chỉ có thể thực hiện trên cở sở hiểu biết sâu sắc các PPDH
và đại lượng hình học ở các lớp 1, 2, 3. chúng tôi mong rằng qua luận văn này có
thể đề ra các biện pháp sử dụng mét sè kĩ thuật dạy học góp phần nâng cao chất
lượng dạy học môn Toán nói riêng và chất lượng dạy học ở bậc Tiểu học nói
chung.
II. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng mét sè kĩ thuật dạy học góp phần nâng cao hiệu quả và chất
lượng dạy học các YTHH và đại lượng hình học ở các lớp 1, 2, 3 nói riêng và trong
dạy học môn Toán ở Tiểu học nói chung.
III. Đối tượng, khách thể nghiên cứu
1. Đối tượng nghiên cứu: Mét sè kĩ thuật dạy học và việc sử dụng các KTDH vào
dạy các YTHH và đại lượng hình học ở các lớp 1, 2, 3.
2. Khách thể nghiên cứu:
- Nghiên cứu việc sử dụng các kĩ thuật dạy học của giáo viên ở mét sè trường tiểu học
trên địa bàn thành phố Hà Nội, thành phố Đà Nẵng, thành phố Thanh Hoá.
IV. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các văn kiện chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà
nước có liên quan đến đổi mới PPDH.
- Nghiên cứu làm rõ mét số thuật ngữ về PPDH, KTDH, QTDH…và mối quan hệ
giữa các khái niệm này.
- Nghiên cứu mét sè PPDH truyền thống và cácKTDH tương ứng nhằm vận dụng
vào dạy học Toán ở trường tiểu học theo hướng tích cực hoá người học.
- Tìm hiểu thực trạng nhận thức và sử dụng mét sè kĩ thuật dạy học, phương pháp dạy
học của GV trong dạy học Toán ở tiểu học làm cơ sở thực tiễn cho đề tài.
- Tìm hiểu nội dung chương trình và sách giáo khoa môn Toán ở các lớp 1, 2, 3.
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực hành sử dụng mét sè kĩ thuật dạy học góp phần nâng
cao hiệu quả và chất lượng dạy học các YTHH và đại lượng hình học ở các lớp 1, 2, 3.
V. Giới hạn của đề tài:
Đề tài chỉ nghiên cứu việc sử dụng 3KTDH tương ứng với 3 PPDH truyền
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
I. MÉT SÈ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1. Phương pháp dạy học
1.1. Khái niệm
Thuật ngữ “phương pháp” bắt đầu từ tiếng Hy Lạp “Metodos”, có nghĩa là
con đường, là cách thức để đạt tới mục đích nhất định. Vấn đề PPDH được đề cập
sớm và khá nhiều trong triết học.Trong đó, có hai hướng tiếp cận của G. Hêghen và
C.Mác.
Theo G. Hêghen “Phương pháp là hình thức tự vận động bên trong của nội
dung” [35, tr.42], nã gắn liền với hoạt động của con người, nhằm hoàn thành được
những nhiệm vụ phù hợp với mục đích đề ra. Bởi vậy, phương pháp bao giờ cũng
có tính mục đích và luôn gắn liền với nội dung. Mặt khác, theo cách tiếp cận của
Các Mác, phương pháp là yếu tố có tính độc lập tương đối với nội dung sự vật.
Người ta có thể tạo ra mét sự vật cụ thể bởi nhiều phương pháp khác nhau. Các
Mác khẳng định: “Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản
xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu nào
[144, tr.35]. Còng giống như trong sản xuất, trình độ phát triển của dạy học không
chỉ phụ thuộc vào nội dung mà còn do phương pháp vận động của nã quy định. Vì
vậy, ta có thể coi phương pháp có tính độc lập tương đối so với nội dung và có thể
tách nã ra khái nội dung của sự vật, khái quát, hình thức hoá để biến nó thành
những công cụ dùng cho các trường hợp tương tự.
Vận dụng quan điểm trên vào dạy học, ta thấy PPDH có thể hiểu theo ba cấp
độ:
- Cấp độ phương pháp luận(tầng PP chung): PPDH được tiếp cận theo quan
điểm, tư tưởng chiến lược chỉ đạo cho việc tiến hành các hoạt động dạy học. Các
quan điểm DH lấy hoạt động của người học làm trung tâm; PPDH tích cực; các
nguyên tắc DH như: nguyên tắc đảm bảo tính giáo dục và dạy học; nguyên tắc phát
huy tính tích cực tự giác của HS, nguyên tắc đảm bảo tính trực quan…đều là
* Quan điểm của các nhà giáo dục nước ngoài [46, tr.210]
- B.P. Exipov và M. A. Danhilov cho rằng: “PPDH là cách thức làm việc
của giáo viên và học sinh, do đó mà học sinh lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, hình
thành thế giới quan và phát triển nhận thức”
- I.D. Dverev (1980) lại định nghĩa: “PPDH là cách thức hoạt động tương
hỗ giữa thầy và trò nhằm đạt được mục đích dạy học. Hoạt động này thể hiện trong
việc sử dụng các nguồn nhận thức, các thủ thuật logic, các dạng hoạt động độc lập
của học sinh và cách thức điều khiển nhận thức của thầy giáo”
- I.Ia. Lecne (1981) khẳng định “PPDH là một hệ thống những hành động
có mục đích của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của học
sinh, đảm bảo học sinh lĩnh hội nội dung học vấn”
- Theo Iu.K. Babanxki (1983): “PPDH là cách thức tương tác giữa thầy và
trò nhằm giải quyết nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình
dạy học. ”
- Nhiều tác giả khác (Theo tài liệu dịch của dự án Việt- Bỉ) khi bàn về
phương pháp dạy học đã cho rằng: “ Phương pháp dạy học là sự tổ chức hệ thống
hoá về kỹ thuật và phương tiện có mục tiêu là tạo thuận lợi cho hành động giáo
dục. ”
- Trong khi đó theo quan điểm điều khiển học “ Phương pháp dạy học là cách
thức tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh và điều khiển hoạt động này. ”
* Quan điểm của các nhà giáo dục Việt Nam
cũng như các nhà giáo dục nước ngoài, các nhà giáo dục Việt Nam khi
nghiên cứu về phương pháp dạy học cũng đưa ra các định nghĩa, các quan điểm
khác nhau:
- Theo PGS. TS Trần Kiều: “ Phương pháp dạy học là một hệ thống tác
động liên tục của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của
học sinh để học sinh lĩnh hội vững chắc các thành phần của nội dung giáo dục
nhằm đạt được mục tiêu đã định. ”[26]
- Tác giả Nguyễn Kỳ lại cho rằng: Phương pháp dạy học là sự tổ chức và
Thế giới xung quanh chúng ta đang biến đổi không ngõng. Theo tính toán
của các nhà khoa học cứ 10 năm thì lượng thông tin của nhân loại lại tăng lên gấp
đôi. Vì vậy, đòi hỏi các nhà giáo dục phải lựa chọn nội dung dạy học trong nhà
trường sao cho cập nhật hoá để theo kịp sự phát triển của thời đại. Quan điểm lựa
chọn nội dung và cách lựa chọn nội dung dạy học chính là thông qua ý tưởng
phương pháp dạy học. Như vậy, sù thay đổi của nội dung dạy học kéo theo sù biến
đổi của phương pháp dạy học theo xu hướng kế thừa và phát huy ưu điểm của các
phương pháp dạy học truyền thống đồng thời tiếp thu các phương pháp dạy học
hiện đại.
- Phương pháp dạy học phụ thuộc vào đặc điểm tâm sinh lý riêng biệt của
từng lứa tuổi
Học sinh ở những độ tuổi khác nhau có những đặc điểm tâm sinh lý khác
nhau. Căn cứ vào đó, các nhà giáo dục đã xây dựng hệ thống các phương pháp dạy
học, đồng thời chỉ ra cách sử dụng các phương pháp đó sao cho phù hợp để có thể
phát huy tối đa ưu điểm của các phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy
học.
- Phương pháp dạy học phụ thuộc vào hình thức tổ chức và phương tiện
dạy học
Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể mà các giáo viên có thể sử dụng các phương
pháp dạy học khác nhau nhằm thực hiện mục đích dạy học đề ra. Ngày nay, cùng
với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, các thế hệ máy tính mới đã ra
đời, những quyển sách điện tử đang dần thay thế cho những loại sách truyền thống,
mét số nhà trường ở nước ta còng đã trang bị
các phương tiện dạy học hiện đại. Tất nhiên khi sử dụng các phương tiện này
trong dạy học (chẳng hạn như máy vi tính, máy chiếu, projector…) các giáo viên
phải thay đổi phương pháp dạy học của mình cho phù hợp và có hiệu quả.
Bên cạnh đó, việc sử dụng các phương pháp dạy học còn phụ thuộc vào các hình
thức tổ chức dạy học. Nhìn chung, các phương pháp dạy học chỉ phát huy tối đa ưu
điểm của mình khi được sử dụng phối hợp với nhau một cách hợp lý và phù hợp
động cơ học tập; các phương pháp kiểm tra.
*Ở nước ta, mét sè tác giả cũng đưa ra một vài cách phân loại hệ thống
các PPDH chẳng hạn như:
- Dựa vào chức năng của PPDH, tác giả Đặng Vũ Hoạt đã chia hệ thống
PPDH thành các nhóm phương pháp:[34]
+ Chức năng truyền thụ tri thức bằng ngôn ngữ (lời nói và chữ viết) là
chủ yếu ta có: phương pháp thuyết trình, phương pháp vấn đáp, phương pháp
nghiên cứu tài liệu.
+ Chức năng truyền thụ tri thức dựa vào hình ảnh trực quan là chủ yếu ta
có: phương pháp quan sát và phương pháp trình bày trực quan.
+ Chức năng truyền thu tri thức thông qua hoạt động thực hành là chủ yếu ta
có: phương pháp làm thí nghiệm, phương pháp luyện tập, phương pháp ôn tập.
+ Kiểm tra, đánh giá với tư cách là phương pháp dạy học.
- Theo GS. Nguyễn Bá Kim [25, tr.116] việc phân loại hệ thống các
phương pháp dạy học như hiện nay là chưa hoàn chỉnh và chưa được thống nhất.
Với những phương diện khác nhau ta có những cách phân loại PPDH khác nhau.
Ông cho rằng việc phân loại PPDH theo mét logic chặt chẽ là một việc làm không
cần thiết, vấn đề quan trọng là người GV biết xem xét các phương diện khác nhau,
thấy được những PPDH về từng phương diện đó, biết lựa chọn, sử dụng những
phương pháp cho đúng lúc, đúng chỗ và biết vận
dụng phối hợp mét sè trong các phương pháp đó khi cần thiết. Có thể trình bày các
PPDH thành một tổng thể theo các phương diện sau:
+Những chức năng điều hành quá trình dạy học (đảm bảo trình độ xuất
phát, hướng đích và gợi động cơ, làm việc với nội dung mới, củng cố, kiểm tra và
đánh giá, hướng dẫn công việc nhà)
+ Những con đường nhận thức (suy diễn, quy nạp)
+ Những hình thức hoạt động bên ngoài của thầy và trò (GV thuyết
trình; thầy- trò vấn đáp; HS hoạt động độc lập)
+ Những mức độ tìm tòi khám phá (truyền thụ tri thức dưới dạng có sẵn,
- Kĩ thuật tổ chức, hướng dẫn HS hoạt động thực hành trong phương pháp
thực hành- luyện tập.
3. Phương tiện dạy học
3.1. Khái niệm
Trong quá trình dạy học, việc vận dụng các PPDH cũng như sử dụng các
KTDH không thể tách rời việc sử dụng các PTDH. Bàn về khái niệm PTDH, các
nhà nghiên cứu giáo dục cho rằng:
“PTDH là một tập hợp những đối tượng vật chất được GV sử dụng với tư
cách là những phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của HS và đối với học
sinh, đó là các nguồn tri thức phong phó, sinh động, là các phương tiện giúp chúng
lĩnh hội tri thức và rèn luyện các kĩ năng và kĩ xảo”[34]
“PTDH là toàn bộ những sự vật, hiện tượng trong thế giới tham gia vào
quá trình dạy học, đóng vai trò là công cụ hay điều kiện để giáo viên và học viên
sử dụng làm khâu trung gian tác động vào đối tượng dạy học. Phương tiện dạy học
có chức năng khơi dậy, dẫn chuyền và làm tăng sức mạnh tác động của người dạy
và người học đến đối tượng dạy học”[35]
nhau. Trong dạy học, PTTQ còng cần được xác định trong mối quan hệ với mục
đích dạy học. PTTQ được coi là công cụ của hoạt động nhận thức của HS, nã có
quan hệ mật thiết với việc thực hiện mục đích dạy học. Để đạt được mục đích và
nhiệm vụ dạy học cần thiết phải sử dụng PTTQ, đặt chóng trong mối quan hệ với
mục đích, nhiệm vụ và nội dung học tập.
Nh vậy, ngoài cách phân loại có tính truyền thống, cần phải phân loạicác
PTTQ theo chức năng của nã trong mối quan hệ với mục đích và nội dung dạy học.
Căn cứ vào mục đích và chức năng của PTTQ trong dạy học, ta có các loại PTTQ
khác nhau, sử dụng chóng khác nhau. Nhiệm vụ quan trọng của GV là phải xác
định được mục đích và chức năng của PTTQ trong các tình huống dạy học cụ thể,
để trên cở sở đó hướng dẫn, tổ chức cho HS sử dụng PTTQ phù hợp.
4. Quá trình dạy học
4. 1 Khái niệm
hình hành động cụ thể của PPDH cũng như các hình thức xã hội của PPDH (các
hình thức tổ chức cộng tác làm việc của GV và HS). PPDH ở tầng trung gian là
những PPDH cụ thể, đó là những cách thức hành động của GV và HS nhằm thực
hiện những mục tiêu dạy học xác định, phù hợp với những nội dung và những điều
kiện dạy học cụ thể. PPDH cụ thể thể hiện bằng những yêu cầu có tính nguyên tắc
trong quy trình dạy học từng loại nội dung cụ thể; quy định cấu tróc, cách thức
hành động của GV và HS trong các bước của quá trình dạy học cụ thể đó. Còn
PPDH xét ở tầng vi mô là những KTDH. Đó là những động tác, cách thức hành
động của GV và HS trong các bước hành động nhá cần đảm bảo nghiêm ngặt về
trình tự thời gian, không gian (trước, sau)nhằm thực hiện và điều khiển các mục
tiêu thành phần của quá trình dạy học.
- HS hoạt động thực hành để tự chiếm lĩnh kiến thức toán học nghĩa là ở
tiết học hình thành kiến thức kĩ năng mới, HS được hoạt động (thực hành) thực sự
dưới sự tổ chức, hướng dẫn của GV để tự mình lĩnh hội kiến thức.
- HS hoạt động thực hành để củng cố, rèn luyện các kĩ năng toán học
nghĩa là HS hoạt động thực hành vận dụng kiến thức toán vừa được hình thành vào
các tình huống, hình thức khác nhau.
3. 2 Mét sè yêu cầu cơ bản khi sử dụng phương pháp thực hành- luyện tập trong
dạy học Toán ở tiểu học.
- GV cần phải chuẩn bị chu đáo nội dung thực hành- luyện tập trên cơ sở
đó chuẩn bị các phương pháp, kĩ thuật dạy học sao cho thích hợp.
- Cần tạo điều kiện để HS được thực hành- luyện tập nhiều và đặc biệt là
cần tổ chức, hướng dẫn HS chủ động, tích cực, sáng tạo trong thực hành- luyện tập,
tránh làm thay hoặc áp đặt cho HS.
- Sau mỗi giai đoạn hoạt động độc lập của HS, GV cần tổ chức nhận xét,
điều chỉnh sai lầm và bổ sung những kiến thức cần thiết.
IV. TỔNG QUAN VỀ NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH CÁC YTHH VÀ ĐẠI LƯỢNG
HÌNH HỌC Ở CÁC LỚP 1, 2, 3
1. Vị trí của các YTHH và đại lượng hình học trong chương trình Toán Tiểu học
cho HS khả năng sử dụng chóng. Phải làm cho các em nắm vững các thao tác cần
thiết trong khi sử dụng các dông cụ để đo đạc, vẽ hình…được chính xác, đẹp và
sạch.
Bên cạnh đó, ta cần tập cho trẻ thói quen ước lượng độ lớn của các đại
lượng hình học. Chẳng hạn, ước lượng độ dài bằng mắt, gang tay, bước chân, ước
lượng diện tích của hình…Điều này góp phần làm cho kiến thức và kĩ năng hình
học đi vào thực tiễn cuộc sống.
- Cần đặc biệt quan tâm đến việc thường xuyên ôn tập, củng cố và hệ
thống hoá các kiến thức và kĩ năng hình học.
- Cần đảm bảo sự cân đối giữa tính khoa học và tính vừa sức trong giảng
dạy các YTHH và đại lượng hình học.
2. 2. 1 Minh hoạ việc sử dụng kĩ thuật trình diễn trực quan vào dạy các YTHH
và đại lượng hình học ở các lớp 1, 2, 3
* Dạy học bài mới
Kĩ thuật trình diễn trực quan chủ yếu được vận dụng khi dạy các dạng bài
như: hình thành biểu tượng các hình hình học, hình thànhbiểu tượng các đại lượng
cơ bản (độ dài, diện tích)và đơn vị đo đại lượng hình họcở các lớp 1, 2, 3, sau đây
là mét sè ví dụ cụ thể:
Ví dụ1: Bài “Xăng - ti - mét - Đo độ dài”- Lớp 1
* Chuẩn bị :
- Mục tiêu trình diễn: Hình thành cho HS khái niệm ban đầu về đơn vị đo
xăng- ti- mét, cách đo độ dài đoạn thẳng bằng đơn vị xăng- ti-mét.
- Đồ dùng trực quan: thước thẳng có chia vạch thành từng xăng-ti-mét, bút chì,
hình vẽ sẵn 3 đoạn thẳng có độ dài 1cm, 3cm, 6cm(như SGK).
- Trình tự thực hiện các nội dung: Đưa thước thẳng hình thành biểu tượng xăng-
ti- mét; giới thiệu tác dụng của đơn vị đo mới cần học là xăng- ti - mét, giới thiệu tên
gọi, kí hiệu; giới thiệu cách đo độ dài đoạn thẳng theo xăng- ti- mét.
- Đối tượng trình diễn:
+ GV trình diễn phần hình thành biểu tượng xăng- ti- mét (có giải thích).
- GV a cỏi compa cho HS quan sỏt v gii thiu cu to ca com pa (va ch cỏc
b phn ca compa va núi): - GV a cái compa cho HS quan sát và giới
thiệu cấu tạo của com pa (vừa chỉ các bộ phận của compa vừa nói):
Để vẽ hình trong người ta dùng cái compa. Compa gồm có: mũi kim nhọn, đầu
phấn (hoặc bút chì). Hai cạnh compa có thể mở rộng hoặc thu hẹp để vẽ các hình
tròn lớn hoặc nhá.
- GV giải thích cách dùng compa để vẽ hình tròn : Muốn dùng compa để
vẽ các hình tròn lớn hoặc nhá ta làm như sau (vừa vẽ vừa nói):
hạn, chúng tôi không có tham vọng tiến hành dạy thử nghiệm trên qui mô lớn,
trong mét thời gian dài mà chỉ tiến hành dạy thử nghiệm được mét sè tiết ở 2
trường Tiểu học của Thành phố Đà Nẵng.
Bởi số tiết dạy thử nghiệm không nhiều, các nội dung hình học và đại lượng
hình học ở các lớp 1, 2, 3 lại được bố trí xen kẽ với các nội dung khác trong từng
tiết dạy, vì thế mục đích của thử nghiệm sư phạm chỉ là bước đầu thăm dò tính khả
thi và hiệu quả của các giải pháp sư phạm khi sử dụng các KTDH vào dạy học các
YTHH và đại lượng hình học ở các lớp 1, 2, 3. từ đó có sự điều chỉnh, bổ sung giải
pháp và kế hoạch dạy học cho phù hợp với điều kiện thực tiễn.
2. Nội dung và cách thức tiến hành thử nghiệm
2.1. Nội dung thử nghiệm
chúng tôi chọn dạy 3 tiết
- Lớp 1 , Tiết 83. Bài : Xăng-ti-mét. Đo độ dài.
- Lớp 3 , Tiết 139. Bài: Diện tích một hình.
Tiết 141. Bài: Diện tích hình chữ nhật.
2. 2. Cách tiến hành thử nghịêm
- Chọn địa điểm thử nghiệm
Sau mét thời gian tìm hiểu thực tế, hái ý kiến của các đồng chí trong Ban
giám hiệu các trường tiểu học chúng tôi quyết định lựa chọn:
+ Trường tiểu học Hoà Châu, huyện Hoà Vang, Thành phố Đà Nẵng
Diện tích hình tứ giác ABCD …………. . Diện tích hình tam giác AMN
Bài 3: Khoanh vào chữ cái đặt trước câu trả lời đúng và giải thích vì sao?
A. Diện tích hình M bằng diện tích hình N.
B. Diện tích hình M bé hơn diện tích hình N.
C. Diện tích hình M lớn hơn diện tích hình N.
Bài4: Vẽ thêm một đoạn thẳng vào hình bên để được:
a) Hai hình chữ nhật có diện tích bằng nhau
b) Hai hình tam giác có diện tích bằng nhauBài 5: Quan sát hình vẽ dưới đây rồi điền dấu (<,>,=) thích hợp vào ô trống: Diện tích hình chữ nhật ABCD Diện tích hình 1 + Diện tích hình