NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG MỘT SỐ HỖN HỢP THỨC ĂN TINH GIÀU PROTEIN CHO BÒ LAI BRAHMAN TRONG GIAI ĐOẠN VỖ BÉO doc - Pdf 11



321

TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, tập 71, số 2, năm 2012 NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG MỘT SỐ HỖN HỢP THỨC ĂN TINH GIÀU
PROTEIN CHO BÒ LAI BRAHMAN TRONG GIAI ĐOẠN VỖ BÉO
Nguyễn Hữu Văn
1
, Nguyễn Hữu Nguyên
2
, Nguyễn Xuân Bả
1
1
Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế
2
Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Ngãi

Tóm tắt. Một thí nghiệm CRD gồm 4 lô, mỗi lô 4 bò đực lai Brahman tuổi từ 20-
24 tháng, được thực hiện trong 84 ngày tại Quảng Ngãi nhằm nghiên cứu việc sử
dụng một số hỗn hợp thức ăn giàu protein trong giai đoạn vỗ béo. Bò được nuôi
nhốt riêng từng ô trong cùng một chuồng, nước uống tự do và ăn cỏ voi ad libitum.
Thành phần thức ăn tinh tự phối trộn cho bò lô I gồm cám gạo 49%, bột ngô 30%,
bột sắn 20%, muối 1%; cho bò lô II gồm cám gạo 20%, bột ngô 48,5%, bột sắn
20%, bột cá nhạt 10%; muối 0,5%, urê 1%; cho bò lô III gồm cám gạo 20%, bột
ngô 39%, bột sắn 20%, bột cá nhạt 21%. Riêng bò lô IV được cho ăn thức ăn công
nghiệp của hãng Lái Thiêu, thành phần gồm ngô, cám, khô đậu nành, sắn, bột cá,
bột sò, methyonin, lysin, khoáng, vitamine và enzyme. Hàm lượng protein thô
trong thức ăn tinh của bò lô I là 9,4%, các lô còn lại là khoảng 15,5% tính theo chất

bò, nhưng hầu như không quan tâm đến hàm lượng protein có ở trong đó. Kết quả điều
tra tại một số vùng chăn nuôi bò thịt thâm canh quy mô nhỏ ở tỉnh Quảng Ngãi cho thấy
100% hộ có sử dụng thức ăn tinh cho bò giai đoạn vỗ béo với lượng 3,0 - 3,2
kg/con/ngày, nhưng hàm lượng protein thô trong hỗn hợp thức ăn tinh bình quân chỉ ở
mức 9,9% (Lê Đức Ngoan và Trần Thị Bích Hường, 2008). Gần đây, trên thị trường
thức ăn gia súc trong nước đã xuất hiện một số loại thức ăn công nghiệp đáp ứng nhu
cầu dinh dưỡng cho bò giai đoạn vỗ béo. Tuy nhiên, giá bán cao, người chăn nuôi chưa
có thói quen sử dụng mà thường chỉ dùng các nguồn thức ăn tinh sẵn có ở địa phương.
Vì vậy, chúng tôi đã tiến hành thí nghiệm phối trộn và sử dụng một số hỗn hợp thức ăn
tinh giàu protein để nuôi lai Brahman trong giai đoạn vỗ béo bò với mục đích là: 1)
đánh giá ảnh hưởng của các hỗn hợp thức ăn tinh đó đến thu nhận thức ăn, tỉ lệ tiêu hóa,
tăng trọng của bò; và 2) so sánh hiệu quả kinh tế nhằm có khuyến cáo thích hợp cho
người chăn nuôi.
2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.1. Gia súc và điều kiện nuôi dưỡng
Thí nghiệm được triển khai tại tỉnh Quảng Ngãi từ tháng 3 đến tháng 6, đây là
thời kỳ có khí hậu thời tiết khá thuận lợi và nguồn cỏ trồng dồi dào. Chuồng trại được
thiết kế để nuôi cá thể 16 bò đực lai Brahman tuổi 20 - 24 tháng, khối lượng bình quân
224 ± 32,3 kg/con. Bò được nhốt hoàn toàn và cho ăn tại chuồng. Mỗi ô chuồng đều có
máng ăn, máng uống riêng. Nền chuồng bằng xi măng được vệ sinh sạch sẽ để có thể
thu được toàn bộ phân thải ra khi cần theo dõi. Chuồng trại được sát trùng định kỳ 10 -
15 ngày/lần. Bò được tẩy nội ngoại ký sinh trùng và tiêm phòng theo qui định của thú y
trước khi tiến hành thí nghiệm. Thời gian nuôi thích nghi để bò làm quen với chuồng
trại và khẩu phần ăn thí nghiệm là 15 ngày, giai đoạn này bò được cho ăn thức ăn tinh
hỗn hợp với lượng tăng dần từ 1,0 - 1,5 kg/con/ngày.
2.2. Các nguồn thức ăn được sử dụng
Thức ăn thô là cỏ voi (Penisetum purpureum) thu cắt lúc 40 - 45 ngày tuổi, được
chặt ngắn khoảng 10 cm trước khi cho bò ăn. Thức ăn tinh là các hỗn hợp tự phối trộn
và thức ăn công nghiệp. Hỗn hợp tự phối trộn gồm có cám gạo, ngô, sắn, bột cá, muối
ăn và urea được xác định giá trị dinh dưỡng (bảng 1) và được trộn theo tỷ lệ xác định

Cám gạo 49 20 20 -
Bột ngô 30 48,5 39 -
Bột sắn 20 20 20 -
Bột cá lạt - 10 21 -
Muối ăn 1 0,5 - -
Urea - 1 - -
Thức ăn Lái Thiêu - - - 100
Tổng cộng 100 100 100 100
Giá thành (đồng/kg) 4.540 5.100 5.441 6.060
Giá trị dinh dưỡng của từng hỗn hợp thức ăn tinh
DM (%) 88,4 87,9 87,9 89,9 324

OM (% DM) 92,9 93,5 91,9 86,9
CP (% DM) 9,4 15,3 15,6 15,5
NDF (% DM) 26,9 18,5 16,8 25,0
EE (% DM) 6,2 5,6 6,7 6,3
Ash (% DM) 7,1 6,5 8,1 13,10
GE (Kcal/kg DM) 4.356 4.288 4.326 4.203
2.3. Bố trí thí nghiệm và khẩu phần ăn
Thí nghiệm được thiết kế theo phương pháp phân lô ngẫu nhiên hoàn toàn
(CRD). Mười sáu bò đưa vào thí nghiệm được chia làm 4 lô, mỗi lô 4 con. Các lô được
ký hiệu là lô I, lô II, lô III, và lô IV tương ứng với các loại thức ăn tinh là HH1, HH2,
HH3, HH4. Khẩu phần ăn của bò gồm cỏ voi cho ăn tự do và thức ăn tinh hỗn hợp cho
ăn theo định mức như sau: 15 ngày đầu là 1%, 18 ngày tiếp theo là 1,5% và sau đó là
2% khối lượng bò. Thức ăn tinh được cho ăn 3 lần trong ngày, vào lúc 07 giờ 15 phút,
13 giờ 00 phút và 16 giờ 30 phút. Thời gian nuôi thí nghiệm kéo dài 84 ngày.
2.4. Cân đo bò và thu mẫu

về tổng lượng cũng như riêng rẻ lượng thức ăn tinh hoặc cỏ voi thu nhận bình
quân/ngày giữa các lô thí nghiệm. Như vậy có thể nói rằng yếu tố lượng thức ăn sẽ
không tác động đáng kể đến sự chênh lệch về tăng trọng của bò giữa các lô trong thí
nghiệm này như trình bày ở phần sau.
Sự thu nhận thức ăn của gia súc nhai lại chịu ảnh hưởng của các yếu tố chính là
khẩu phần ăn và gia súc, ngoài ra còn bị chi phối bởi các yếu tố điều chỉnh khác
(Orskov và Ryle, 1990; Vũ Duy Giảng et al., 2008). Theo McDonald et al. (1995) thì
lượng thu nhận chất khô của bò thịt được ước tính khoảng 2,2% khối lượng cơ thể. Các
kết quả theo dõi khi nuôi vỗ béo bò lai Sind và lai Brahman của một số nghiên cứu
trong nước cho biết lượng chất khô bò thu nhận từ 2,0 - 3,2% khối lượng cơ thể
(Nguyễn Hữu Văn et al., 2008; Nguyễn Xuân Bả et al., 2008; Vũ Chí Cương et al.,
2007). Trong thí nghiệm này của chúng tôi lượng chất khô thu nhận của bò ở các lô dao
động từ 1,81 - 1,98 kgDM/100kgP/ngày, nằm ở cận dưới của các công bố vừa được liệt
kê.
Bảng 3. Lượng thức ăn thu nhận của bò
(*)

Lô Thức
ăn
Chỉ tiêu
I II III IV
SE P
Kg/con/ngày 3,65 4,01 3,64 4,01 0,37 0,80
KgDM/con/ngày 3,23 3,55 3,21 3,61 0,33 0,75
TĂTHH
KgDM/100kgP/ngày 1,27 1,29 1,15 1,32 0,07 0,44
Kg/con/ngày 12,74 13,10 12,95 13,10 0,26 0,71
KgDM/con/ngày 1,72 1,77 1,74 1,76 0,04 0,74
Cỏ Voi
KgDM/100kgP/ngày 0,70 0,64 0,65 0,65 0,04 0,81

16 - 33 Cỏ Voi 0,66 0,68 0,67 0,65 0,05 0,97
TĂTHH 1,46 1,46 1,26 1,50 0,10 0,38 Ngày thứ
34 - 63 Cỏ Voi 0,70 0,64 0,66 0,65 0,05 0,89
TĂTHH 1,41 1,39 1,25 1,39 0,11 0,70 Ngày thứ
64 -84 Cỏ Voi 0,64 0,55 0,57 0,55 0,04 0,32
Số liệu bảng 5 cho thấy, khi cho ăn thức ăn tinh mức 1% trọng lượng thì bò thu
nhận gần như toàn bộ, nhưng khi tăng lên mức 1,5% thì đã có xu hướng dư thừa và ở
mức 2% thì bò ở tất cả các lô đều không sử dụng được hết lượng cho ăn. Có thể nói từ
ngày 34 trở đi bò ở các lô thí nghiệm đều đã được cung cấp thỏa mãn thức ăn tinh. Theo
Vũ Duy Giảng và đồng tác giả (2008) thì khi gia súc nhai lại được ăn nhiều thức ăn tinh
sẽ sản sinh ra nhiều a xít béo bay hơi, đến một ngưỡng nhất định có thể làm giảm độ
thèm ăn của gia súc. Thực tế giai đoạn này bò ở các lô đều đã thu nhận lượng thức ăn
tinh khá lớn, chiếm xấp xỉ 70% tổng lượng chất khô thu nhận. 327

Bảng 5. Tỷ lệ thức ăn tinh thu nhận/thức ăn tinh cung cấp ở các giai đoạn (%)

Giai đoạn
I II III IV
Ngày thứ 1 - 15 97,8 94,0 99,9 100
Ngày thứ 16 - 33 88,8 96,9 87,0 97,4
Ngày thứ 34 – 63 86,6 87,7 78,0 89,2
Ngày thứ 64 – 84 84,5 81,6 76,6 81,7
3.2. Tỷ lệ tiêu hóa
Bình quân tỷ lệ tiêu hóa các thành phần dinh dưỡng trong khẩu phần của bò ở
các lô được trình bày ở bảng 6.
Bảng 6. Lượng thu nhận
(*)


Lượng OM thu nhận (kg/ngày) 5,21 5,55 5,29 5,29 0,38

0,930

Tỷ lệ tiêu hóa OM(%) 68,63
a

78,97
b
78,36
b
79,83
b
1,14

0,001

Lượng NDF thu nhận (kg/ngày) 2,39 2,15 2,07 2,45 0,12

0,134

Tỷ lệ tiêu hóa NDF (%) 45,25
a

62,00
b
60,99
b
68,03

Lượng GE thu nhận (Mcal/ngày) 23,97

25,14 24,37 24,87 1,81

0,968

Tỷ lệ tiêu hóa GE (%) 65,94
a

77,05
b
75,80
b
79,56
b
1,57

0,001

(Các giá trị cùng hàng không cùng mũ chữ cái thì khác nhau có ý nghĩa thống kê,
(p<0,05).
(*)
Lượng thu nhận bình quân/bò/ngày trong 7 ngày của thí nghiệm tiêu hóa.)
Số liệu ở bảng 6 cho thấy không có chênh lệch đáng kể về tỷ lệ tiêu hóa các chất
dinh dưỡng ở bò giữa các lô II, III và IV được cho ăn các loại thức ăn tinh có cùng mức 328

protein. Nhưng tỷ lệ tiêu hóa DM, OM, NDF và GE của bò ở các lô này đều cao hơn rõ

KL 15 ngày nuôi 231 236 242 243 19,5 0,97
KL 33 ngày nuôi 246 263 263 264 19,8 0,88
KL 63 ngày nuôi 267 301 296 296 21,8 0,68
KL 84 ngày nuôi 279 328 322 321 22,3 0,42
TT giai đoạn 1- 15 ngày 500
a
933
ab
950
ab
1.383
b
165 0,02
TT giai đoạn 16- 33 ngày 819 1.541 1.208 1.180 181 0,09 329

TT giai đoạn 34- 63 ngày 716 1.225 1.100 1.083 183 0,28
TT giai đoạn 64- 84 ngày 583
a
1.297
b
1.214
b
1.190
b
138 0,01
TT 1- 84 ngày 667
a

3.4. Hiệu quả kinh tế
Trong giai đoạn nuôi vỗ béo, bò thường được cho ăn ở mức cao để phát huy tối
đa tiềm năng sản suất thịt, do đó chi phí thức ăn cho 1kg tăng trọng là chỉ tiêu quan
trọng phản ánh năng suất và hiệu quả kinh tế khi quyết định đầu tư theo hướng thâm
canh. Hiệu quả sử dụng thức ăn của bò trong thí nghiệm của chúng tôi được trình bày ở
bảng 8. 330

Bảng 8. Hiệu quả sử dụng thức ăn của bò

Chỉ tiêu
I II III IV
SE P
Tiêu tốn thức ăn/1kg tăng trọng
Cỏ Voi (kg) 19,60
a
10,76
b
12,10
b
11,17
b
1,29 0,001
Thức ăn tinh (kg) 5,50
a
3,29
b
3,21

ab
1.626 0,015
Cỏ và TA tinh (đ) 30.885
a
20.045
b
21.091
b
24.038
ab
1.747 0.004
(Các giá trị cùng hàng không cùng mũ chữ cái thì khác nhau có ý nghĩa thống kê,
(p<0,05)).
Số liệu bảng 8 cho thấy tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng của bò ở các lô II,
III, và IV chênh lệch nhau không đáng kể, nhưng thấp hơn có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
so với lô I. Tiêu tốn thức ăn cao nên chi phí thức ăn cho bò lô I là cao nhất. Tuy nhiên,
do có sự chênh lệch về giá thức ăn tinh hỗn hợp khi sử dụng các nguồn nguyên liệu giàu
protein thô khác nhau (bảng 2) nên chi phí thức ăn cho 1 kg tăng trọng ở lô IV có xu
hướng cao hơn so với lô III và lô II. Cũng chính vì vậy nên mặc dù tiêu tốn thức ăn tinh
ở lô I với lô IV có chênh lệch khá lớn (5,50 kg so với 3,41 kg), nhưng sai khác về chi
phí cho 1 kg tăng trọng giữa 2 lô này không có ý nghĩa thống kê (p> 0,05).
Kết quả tính toán theo giá thực tế của thị trường tại thời điểm thí nghiệm này
được trình bày ở bảng 9 cho thấy, chi phí và lợi nhuận thu được giữa các lô có sự chênh
lệch đáng kể. So với lô I, chi phí đầu tư ở lô II, III và IV tăng tương ứng là 3,6; 4,6 và
7,4%. Song phần thu từ bán bò và lợi nhuận mang lại thì lô II đạt cao nhất, tiếp đến là lô
III, lô IV và thấp nhất là lô I. Xét về hiệu quả đầu tư, hệ số sinh lợi trong sử dụng vốn
(phần thu/tổng chi) ở các lô theo thứ tự lô II, III, IV, và lô I lần lượt là 1,30; 1,26; 1,23
và 1,14 lần. Các số liệu bảng 9 chỉ ra cho người chăn nuôi bò hai điểm đáng lưu ý sau
đây:
Thứ nhất là phần chi tăng thêm của các lô II, III, IV so với lô I chủ yếu là

- Thức ăn tinh 5.576 6.910 6.666 8.172
- Cỏ voi 1.284 1.323 1.305 1.321
- Thuốc thú y 221 151 152 180
- Sửa chuồng và dụng cụ chăn nuôi 267 267 267 267
PHẦN THU
*
(×1000 đồng) 37.650 44.250 43.350 43.350
LỢI NHUẬN (×1000 đồng) 4.852 10.259 9.060 8.130
Bình quân lợi nhuận/con 1.213 2.565 2.265 2.032
(
*
Phần thu chỉ tính tiền bán bò theo giá thị trường thời điểm bán).
4. Kết luận
Các kết quả nghiên cứu này đã cho thấy rằng việc nâng mức protein thô trong
thức ăn tinh từ 9,4% lên khoảng 15,5% đã không làm thay đổi đáng kể đến lượng thu
nhận thức ăn nhưng làm tăng rõ rệt tỉ lệ tiêu hóa, hiệu quả sử dụng thức ăn và tăng trọng
của bò lai Brahman được nuôi vỗ béo. Sự cải thiện về dinh dưỡng này có tính khả thi 332

cao để phổ biến vào thực tiễn sản xuất, bởi phần chi phí tăng thêm không nhiều nhưng
hiệu quả kinh tế mang lại cao. Mặt khác, có thể giảm được một phần chi phí thức ăn để
tăng thêm hiệu quả kinh tế bằng cách tự phối trộn thức ăn tinh hỗn hợp cho bò từ các
nguồn thức ăn tinh tại chỗ kết hợp với thức ăn giàu protein có cơ cấu tỉ lệ urê hợp lý.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. AOAC (Association of Official Analytical Chemists), Official methods of Analysis,
15th edn. Vol 1. Washington, DC. 1990.
2. BQL dự án đa dạng hóa nông nghiệp Cr.3099-VN, Báo cáo tình hình thực hiện Dự án

12. NRC, The nutrient requirements of beef cattle, Seventh Revised Edition. National
Academic Press, Washington DC. 1996.
13. Orskov E.R.and Ryle M., Energy Nutrition in Ruminants, Elsevier. Amsterdam, 1990.
14. Orskov, E.R., Protein Nutrition in Ruminants, Academic Press, London, 1982.
15. Van Soest, P. J., J. B. Robertson and B. A. Lewis., Methods for dietary fiber, neutral
detergent fiber, and nonstarch polysaccharides in relation to animal nutrition, J. Dairy
Sci. Vol.74, (1991), 3583-3597.
16. Vũ Chí Cương, Báo cáo tổng kết đề tài "Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp khoa học
công nghệ nhằm phát triển CN bò thịt và xác định một số bệnh nguy hiểm đối với bò để
xây dựng biện pháp phòng dịch bệnh ở Tây Nguyên”, Viện Chăn nuôi. Hà Nội 2007.
17. Vũ Duy Giảng, Nguyễn Xuân Bả, Lê Đức Ngoan, Nguyễn Xuân Trạch, Vũ Chí Cương,
Nguyễn Hữu Văn, Dinh dưỡng và thức ăn cho bò, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội, 2008.

STUDY ON THE UTILIZATION OF HIGH PROTEIN CONCENTRATES FOR
BRAHMAN CROSSED BEEF CATTLE DURING FATTENING PERIOD
Nguyen Huu Van
1
, Nguyen Huu Nguyen
2
, Nguyen Xuan Ba
1
1
College of Agriculture and Forestry, Hue University
2
Extension Center in Quang Ngai province

Abstract. Sixteen F1 (Brahman x Local) cattle from 20 to 24 months of age were
assigned into 4 treatments of one CRD experiment conducted for 84 days in Quang
Ngai province to investigate the possibility of using high protein concentrates
during fattening period. The animals were indvidually penned in the same house,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status