Nghiên cứu sử dụng một số cây che phủ trong canh tác ngô đất dốc ở huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái" - Pdf 68

Phần I
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây ngô (Zea mays L.) là một trong ba cây ngũ cốc chính (lúa mì, lúa
nước và ngô) được trồng phổ biến rộng, có năng suất cao, có giá trị kinh tế
lớn và chiếm một vị trí quan trọng trong cuộc sống của con người.
Ngô là nguồn giải quyết lương thực cho nhiều dân tộc trên thế giới, với
21% tổng sản lượng ngô được sử dụng làm lương thực đã nuôi sống 1/3 dân
số toàn cầu. Ở một số nước như Mexico, Ấn Độ và một số nước châu Phi
khác (đặc biệt là ở các nước kém phát triển) ngô là nguồn dinh dưỡng chính,
giúp giải quyết nạn đói thường xuyên đe dọa, nên ngô là cây “báo hiệu của sự
ấm no”.
Bên cạnh giá trị làm lương thực, ngô còn là nguồn thức ăn gia súc vô
cùng quan trọng, 70% chất tinh trong thức ăn tổng hợp cho gia súc, gia cầm là từ
ngô. Ở các nước phát triển có nền chăn nuôi công nghiệp đã sử dụng 70 - 90%
sản lượng ngô cho chăn nuôi như Hungari 97%, Pháp 90%, Mỹ 89%… Cây
ngô là thức ăn xanh và ủ chua rất tốt cho chăn nuôi gia súc lớn, đặc biệt là bò
sữa.
Những năm gần đây ngô còn là cây thực phẩm được ưa chuộng. Ngô rau
(ngô bao tử - baby corn) có giá trị kinh tế hàng hoá và giá trị dinh dưỡng rất cao
so với các loại rau cao cấp khác. Ngoài ra, ngô còn là nguồn cung cấp nguyên
liệu quan trọng cho các nhà máy sản xuất rượu cồn, tinh bột, dầu, glucoza, chất
dẻo… Giá trị sử dụng rộng rãi của ngô được chứng minh bằng 670 mặt hàng
khác nhau của các ngành công nghiệp lương thực - thực phẩm, công nghiệp
dược và công nghiệp nhẹ. Hiện nay hoạt động sản xuất Ethanol từ nguyên liệu
ngô đang phát triển mạnh và Mỹ là nước đứng đầu trong ngành này.
Đất đồi núi (đất dốc) chiếm 3/4 diện tích đất tự nhiên của Việt Nam.
Nhìn chung, đây là những loại đất khó khai thác sử dụng và kém hiệu quả, đặc
biệt khi đất bị bóc trần khỏi thảm thực vật che phủ. Năm 2003, theo số liệu của
1
Tổng cục thống kê thì đại đa số đất có độ dốc < 150 (chiếm 21,9%) đang được

canh tác ở đây là dọn sạch và đốt trước khi gieo trồng, mặt đất không được
2
che phủ. Vì thế lượng chất hữu cơ bề mặt bị xói mòn và rửa trôi sau những
trận mưa là rất lớn.
Xuất phát từ yêu cầu sản xuất nông nghiệp bền vững, hiểu được vai trò
của việc bảo vệ đất, chống xói mòn giúp cho đất màu mỡ hơn, kiểm soát cỏ
dại, giữ nước, tăng năng suất cây trồng, tăng thu nhập cho người dân, chúng
tôi đã thực hiện thí nghiệm: "Nghiên cứu sử dụng một số cây che phủ trong
canh tác ngô đất dốc ở huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái" nhằm góp phần xây
dựng hệ thống canh tác ngô hiệu quả, ổn định và lâu bền hơn.
1.2. Mục tiêu của đề tài
- Xác định được cây che phủ có tác dụng tới sinh trưởng phát triển cây
ngô đồng thời hạn chế được xói mòn đất.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu góp phần xác định cơ sở lý luận và thực tiễn để
phát triển hệ thống canh tác trồng Ngô đất dốc bền vững và hiệu quả thông
qua sử dụng một số cây che phủ đất.
- Là cơ sở cho việc định hướng bảo vệ và khai thác tốt hơn tiềm năng
đất dốc vùng miền núi phía Bắc.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ hướng nông dân vùng núi tới kiểu
canh tác đất dốc hiệu quả, bền vững hơn; đồng thời bảo tồn được nguồn tài
nguyên thiên nhiên (đất, nước, rừng) và bảo vệ môi trường sinh thái.
- Tăng thu nhập, giảm đầu tư cho Ngô đạt năng suất cao, hiệu quả kinh
tế lớn đồng thời, cải thiện đời sống nông dân vùng cao.
3
Phần II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC
CỦA ĐỀ TÀI

triệu ha, năng suất 4,9 tấn/ha và sản lượng đạt kỷ lục với 766,2 triệu tấn.
(FAOSTAT,USDA 2008)[4]
Kết quả trên có được, trước hết là nhờ ứng dụng rộng rãi thuyết ưu thế
lai trong chọn tạo giống, đồng thời không ngừng cải thiện các biện pháp kỹ
thuật canh tác. Đặc biệt, từ 10 năm nay, cùng với những thành tựu mới trong
chọn tạo giống lai nhờ kết hợp phương pháp truyền thống với cộng nghệ sinh
học thì việc ứng dụng công nghệ cao trong canh tác cây ngô cũng như áp
dụng kỹ thuật trồng xen cho cây che phủ cho Ngô đã góp phần đưa sản lượng
ngô thế giới vượt lên trên lúa mì và lúa nước.
Bảng 2.1: Diện tích, năng suất và sản lượng ngô thế giới
và một số khu vực
Khu vực
Diện tích
(1000 ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(nghìn tấn)
Thế giới 157,0 49,0 766.200
Các nước phát triển 49,441 78,80 389.593
Các nước đang phát triển 98,136 31,80 312.073
Mỹ 30,395 92,86 282.260
Trung Quốc 26,222 51,54 135.145
Thái Lan 1,150 36,35 4.180
Nguồn: FAOSTAT, 2006 [5]
Hiện nay, Mỹ là nước có diện tích trồng ngô lớn nhất thế giới và hầu
hết diện tích này được trồng bằng giống lai. Năm 2005, năng suất ngô trung
bình của Mỹ đạt gần 9,27 tấn/ha trên diện tích 29,8 triệu ha (Faostat
Database, 2006), đứng vào hàng các nước có năng suất ngô cao nhất thế giới.
Việc nghiên cứu và sử dụng ngô lai ở châu Âu bắt đầu muộn hơn Mỹ khoảng

tích ngô của thế giới đã vượt lúa nước với 156,4 triệu ha sau lúa mỳ (224,9
triệu ha), nhưng năng suất ngô đã đạt 50,3 tạ/ha, gấp 1,66 lần so với lúa mỳ và
1,18 lần so với năng suất lúa nước.
6
Bảng 2.3: Tình hình sản xuất ngô của thế giới trong giai đoạn 2000 - 2009
Năm
Chỉ tiêu
Diện tích
(triệu ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(triệu tấn)
2000 137 43,25 592,5
2001 137,5 44,77 615,5
2002 137,3 44,06 604,9
2003 144,7 44,6 645,2
2004 147,5 49,45 729,2
2005 147,4 48,42 713,9
2006 148,6 47,53 706,3
2007 158,6 49,69 788,1
2008 161 51.09 822,7
2009 156 51,9 809,02
(Nguồn: FAOSTAT, 2010 và UDSA, 2010)[9]
Trong vòng 40 năm trở lại đây, ngành sản xuất ngô đã có những tiến bộ
vượt bậc: năm 1961 diện tích ngô thế giới chỉ là 104,8 triệu ha với năng suất
20 tạ/ha, đến năm 2000 năng suất ngô trung bình của thế giới đã tăng gấp đôi
lên 43,25 tạ/ha và diện tích cũng được mở rộng thêm 32,1 triệu ha so với năm
1961. Đó là một tốc độ phát triển đáng kể, tốc độ tăng về diện tích đạt 0,82
triệu ha/năm, năng suất là 0,59 tạ/năm, sản lượng tăng 9,96 triệu tấn/năm. Đặc

Châu Mỹ có diện tích trồng ngô lớn nhất so với các châu lục khác với
64,12 triệu ha, chiếm 39,8% diện tích ngô toàn thế giới. Đồng thời đây cũng
là châu lục có năng suất, sản lượng ngô cao nhất, năm 2008 đạt 68,34 tạ/ha,
cao hơn 33,8% so với năng suất trung bình của thế giới; sản lượng đạt 438,21
triệu tấn - chiếm hơn 53,3% sản lượng ngô toàn thế giới. Châu Á là khu vực
có diện tích ngô lớn thứ 2 sau Châu Mỹ với 52,17 triệu ha, nhưng năng suất
ngô ở khu vực này chỉ đạt 45,53 tạ/ha, bằng 89% năng suất trung bình của thế
giới. Châu Âu đứng thứ hai trên thế giới về năng suất với 60,18 tạ/ha. Châu
Phi có diện tích đứng thứ ba trên thế giới nhưng có năng suất ngô rất thấp, chỉ
đạt 18,25 tạ/ha, chỉ bằng 36,1% năng suất bình quân của thế giới. Nguyên
nhân của tình trạng trên là do trình độ khoa học kỹ thuật ở các nước đang phát
triển còn hạn chế, chưa tạo ra được những giống ngô phù hợp cho sản xuất;
điều kiện khí hậu, đất đai không thuận lợi; kinh tế còn kém phát triển nên
thiếu vốn đầu tư vào thâm canh.
8
Các nước phát triển có năng suất ngô cao hơn năng suất trung bình của thế
giới và ngược lại các nước đang phát triển năng suất ngô thấp hơn rất nhiều. Một
số nước có năng suất cao như: Tây Ban Nha 99,01 tạ/ha, Mỹ 96,58 tạ/ha, Pháp
92,94 tạ/ha,... và những nước có diện tích trồng ngô lớn là: Mỹ 31,83 triệu ha,
Trung Quốc 29,88 triệu ha, Brazil 14,45 triệu ha … Các nước này đã đóng
góp rất lớn đối với sản lượng ngô của thế giới, trong đó Mỹ là nước có đóng
góp lớn nhất và luôn là nước dẫn đầu về sản xuất ngô. Sản lượng ngô của
Mỹ năm 2009 là 307,38 triệu tấn, chiếm 38,7% tổng sản lượng ngô của thế
giới. Lý do năng suất ngô ở Mỹ tăng lên trong 50 năm qua là 50% do cải tạo
nền di truyền của các giống lai, 50% do cải thiện chế độ canh tác. Ngoài ra
một trong những lý do năng suất ngô ở Mỹ vẫn tăng cao là nhờ việc áp dụng
ngô chuyển gen.
Trên thị trường quốc tế ngô đứng đầu trong danh sách những mặt hàng có
giá trị khối lượng hàng hóa giao dịch ngày càng tăng, tỷ trọng lưu thông lớn,
thị trường tiêu thụ rộng và nhu cầu ngày càng cao. Hiện nay nhu cầu tiêu thụ

hecta trồng ngô, năm 2007 giống lai đã chiếm khoảng 95% trong số hơn 1
triệu hecta. Năng suất ngô nước ta tăng nhanh liên tục với tốc độ cao hơn
trung bình thế giới trong suốt hơn 20 năm qua. Năm 1980 năng suất ngô nước
ta chỉ bằng 34% so với trung bình thế giới (11/32 tạ/ha); năm 1990 bằng 42%
(15,5/37 tạ/ha); năm 2000 bằng 60% (25/42 tạ/ha); năm 2005 bằng 73%
(36/49 tạ/ha) và năm 2007 đã đạt 81,0% (39,6/49 tạ/ha). Năm 1994, sản lượng
ngô Việt Nam vượt ngưỡng 1 triệu tấn, năm 2000 vượt ngưỡng 2 triệu tấn, và
năm 2007 chúng ta đạt diện tích, năng suất và sản lượng cao nhất từ trước đến
nay: diện tích là 1.072.800 ha, năng suất 39,6 tạ/ha, sản lượng vượt ngưỡng 4
triệu tấn - 4.250.900 tấn. Ngô Việt Nam bắt đầu phát triển từ năm 1995 trở lại
đây và hình thành mạng lưới tiêu thụ rộng khắp gắn liền với quá trình chuyển
đổi cơ cấu nông nghiệp và chăn nuôi. Nhu cầu của người chăn nuôi và thị
trường ngô phát triển mạnh mẽ từ đồng bằng sông Hồng đã tạo động lực cho
sản xuất ngô tại các vùng trung du miền núi phía Bắc, cùng với nó là sự phát
triển của các giống ngô lai và áp dụng khoa học kỹ thuật của người dân vào
sản xuất.
10
Bảng 2.5: Diện tích, năng suất, sản lượng ngô của Việt Nam
giai đoạn 1961- 2009
Năm 1961 1975 1990 1994 2000 2005 2009
Diện tích
(1000ha)
229,20 267,0 432,0 534,6 730,2 1052,6 1.086.800
Sản lượng
(1000 tấn)
260,10 280,60 671,0 1143,9 2005,9 3787,1 4.431.800
Năng suất (tạ/ha) 11,4 10,5 15,5 21,4 25,1 36,0 40,8
(Nguồn: Niêm giám thống kê năm 2010)[11]
Theo dự báo của Cục Chăn nuôi - Bộ Nông nghiệp & PTN, năm 2008
các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi phải nhập khẩu thêm 672.000

- Hiệu quả sản xuất thấp nên giá thành sản xuất còn cao;
- Sản lượng chưa đáp ứng đủ nhu cầu trong nước đang tăng lên rất
nhanh, những năm gần đây phải nhập từ 500-600 nghìn tấn ngô hạt/năm để
làm thức ăn chăn nuôi. Theo số liệu của Cục Chăn nuôi, năm 2006 theo con
đường chính thức nhập 564.488 tấn ngô, năm 2007 là 585.221 tấn
- Sản phẩm từ ngô còn đơn điệu. Công nghệ sau thu hoạch chưa được
chú ý đúng mức, mất mát sau thu hoạch còn khá cao (10 - 12%). Một số vấn
đề trong canh tác đáng chú ý như khoảng cách, mật độ, phân bón, thời vụ,
phòng trừ sâu bệnh và cỏ dại, bảo quản sau thu hoạch chưa được quan tâm
đúng mức. Nhu cầu về Ngô đang tăng nhanh ở qui mô toàn cầu, do ngô không
chỉ được dùng làm thức ăn chăn nuôi và lương thực cho người mà hiện nay
lượng ngô để chế biến nhiên liệu sinh học (ethanol) đang ngày một tăng nhanh.
Do đó mậu dịch ngô thế giới tăng liên tục những năm gần đây. Nếu vào năm
1990, lượng ngô xuất nhập khẩu trên thế giới là trên 66 triệu tấn, đến năm 2000
đã tăng lên 90 triệu tấn và đạt trên 100 triệu tấn vào 2005 (Faostat, 2005). Giá
ngô thế giới cũng tăng vọt so với mấy năm trước, nếu như giai đoạn 2002 -
2003, giá ngô vàng số 2 của Mỹ là 88 USD/tấn, thì hiện nay đã tăng gần gấp đôi
- với 150,6 USD/tấn, giá ngô ở ta đã xấp xỉ 300 USD/tấn.
Tình hình nghiên cứu và sử dụng ngô trên đất dốc Yên Bái:
- Tổng diện tích gieo trồng đạt 10.151 ha, trong đó cây ngô vẫn là chủ
lực, với diện tích 6.279 ha trên đất 2 vụ lúa, tăng 1.333 ha so cùng kỳ, năng
suất đạt bình quân 28,7 tạ/ha, sản lượng đạt trên 18 ngàn tấn, giá trị thu nhập
12
đạt 15 triệu đồng/ha. Thành công đối với Yên Bái nhưng sẽ là thất bại nếu
đem so với các tỉnh thành khác, bởi năng suất ngô ở Phú Thọ, Tuyên Quang,
Lào Cai đều đạt gần 40tạ/ha. Vẫn biết sản xuất cây vụ đông ở một tỉnh miền
núi là gặp rất nhiều bất lợi, nhưng không phải là không hiệu quả, mà có nhiều
địa phương trồng ngô, đậu tương, rau màu mang lại hiệu quả rất cao như vùng
Mường Lò, Văn Chấn, hay vùng Đại Phú An - huyện Văn Yên. Thế nhưng
nhìn tổng thể thì năng suất, sản lượng và giá trị kinh tế rất thấp, mới đạt 15

ta nói riêng: Khí hậu toàn cầu đang diễn ra phức tạp nhất là hiện tương đang
nóng lên toàn cầu, đạc biệt là hạn hán lũ lụt đang diễn ra phức tạp, tình hình
sản xuất ngô ở nhiều nơi đang gây lên hiện tượng xói mòn rửa trôi, giá nhân
công ngày càng cao cạnh tranh gay gắt giữa ngô và cây trồng khác
2.3. Tình hình nghiên cứu cây che phủ trong sản xuất ngô trên thế giới và
Việt Nam
2.3.1. Tình hình nghiên cứu cây che phủ trong sản xuất ngô trên thế giới
Những nghiên cứu trên thế giới gần đây đã khẳng định vai trò to lớn
của biện pháp sinh học trong canh tác đất dốc bền vững là cắt dòng chảy,
giảm xói mòn và rửa trôi. Nguyên nhân gây ra hiện tượng xói mòn rửa trôi
trên đất dốc đối với cây trồng nói chung và cây ngô nói riêng chính là động
năng của các hạt mưa rơi đã phá vỡ cấu trúc đất và dòng chảy bề mặt cuốn đất
đi. Nước ta nằm trên một đại địa hình mở với khoảng 4/5 diện tích lãnh thổ bị
bóc mòn do mưa, dòng chảy bề mặt và lũ bão. Sản phẩm của, xói mòn và rửa
trôi phần lớn bị cuốn đi một chiều, ít được lắng đọng do các thung lũng bồi tụ
hẹp. Hàng năm, hàng tỷ mét khối phù sa bị cuốn trôi ra sông biển.
14
Bảng 2.6: Tác động của các biện pháp khác nhau đến dòng chảy bề mặt
Nước
Lượng
mưa
(mm)
Biện pháp canh tác
Dòng chảy bề mặt (mm)
1989 1990 1991
Malaysia
1399
1490
1054
Cao su không trồng xen

1143
Sắn không băng phân xanh
Sắn có băng cốt khí
157
285
227
305
(Nguồn: www. />phap.161062.html) [13]
Thảm cây phủ đã giữ lại nước mưa, tích tụ lại thành nguồn và nhả dần
ra cung cấp cho đất quanh năm. Dưới tác dụng của tầng lá, sức công phá của
các hạt mưa rơi đã bị giảm đi rõ rệt. Dòng nước lọc qua tán cây, chạy theo
cành, thân, rễ khi tiếp xúc với mặt đất lại bị cản bởi lớp cành lá rụng làm chậm
tốc độ, tạo nên nguồn nước mặt và nước ngầm rất phong phú và hữu hiệu.
Để tăng năng suất ngô thì trên thế giới người ta đã có nhiều nghiên cứu.
Việc nghiên cứu và sử dụng cây trồng xen, che phủ ngô ở một số nước đang
phát triển bắt đầu từ những năm 1960 như: Braxin, Mehico, Ấn Độ… (Studies
on the combining ability of CIMMYT maize germplasm, CIMMYT research
highlingts, CIMMYT, Elbatan Mexico) [11]. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến
Ngô phát triển chậm ở các nước đang phát triển là do điều kiện kinh tế - xã hội
và yếu tố môi trường. Ở các nước đang phát triển, một mặt là do đầu tư thấp,
mặt khác do phần lớn diện tích ngô trồng nhờ vào nước trời, đất nghèo dinh
dưỡng, hiện tượng xói mòn, rửa trôi xảy ra thường xuyên, sâu bệnh phá hoại
15
mạnh, sự kết hợp cây che phủ trông canh tác ngô còn thấp. Do vậy, ở các nước
này mặc dù diện tích chiếm 68% diện tích ngô toàn cầu nhưng chỉ đạt 46%
tổng sản lượng ngô thế giới.
Việc kết hợp cây trồng xen trên thế giới vào canh tác ngô ở một số
nước trên thế giới đã đưa vào sản xuất từ lâu. Sự kết hợp trồng xen một số
loại cây họ đậu, cốt khí, lạc, dứa được đưa trồng xen với ngô đã thu được
nhiều kết quả tốt.

cho phát triển.
Mặc dù còn nhiều nhiều chở ngại, vùng đất quá dốc có rất nhiều tiềm
năng cho phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái. Vai trò của đất dốc
ngày càng quan trọng đối với sự phát triển và tồn tại của loài người.
Tuy nhiên đất dốc là hệ sinh thái đa dạng, nhạy cảm. Mọi sai làm trong
quản lý đất dốc đều tiềm ẩn những hiệu quả khôn lương, mọi thiệt hại sẽ năng
nề trên phạm vi lớn. Vì vậy đất dốc cần được quan tam chăm sóc nhiều hơn,
nhằm sử dụng hiệu quả những tiềm năng của vùng miền núi để tăng và ổn
định năng suất cây trồng mà vẫn bảo tồn được tài nguyên đất và nước canh
tác lâu dài.
Các kỹ thuật nâng cao độ che phủ đất và canh tác theo kiểu làm đất tối
thiểu trên đất dốc có thể giúp ta đáp ứng được nhu cầu này. Qua nghiên cứu
lâu dài ở Việt Nam ta giúp ta hiểu được vai trò to lớn của cây che phủ:
- Tác dụng của che phủ đất đến việc tăng năng suất cây trồng nói chung
và cây ngô nói riêng, là chỉ tiêu quan trọng nhất của mọi tiến bộ về giống và
kỹ thuật canh tác. Thông thường việc bón phân sẽ làm tăng năng suất cây
trồng nói chung và cây ngô nói riêng. Tuy nhiên, đối với đất quá dốc, điều
này không hoàn toàn đúng khi phần lớn lượng phân bón cho cây trồng bị rửa
trôi theo dòng chảy bề mặt của với sự xói mòn của đất. Che phủ đất dốc là
một biện pháp rất quan trọng trong việc tăng năng suất cây trồng mà không
cần sử dụng nhiều phân bón, nhất là phân bón hóa học.
-Tác dụng của che phủ đất trong việc bảo vệ đất khỏi bị xói mòn. Xói
mòn đất là một trong nhưng nguyên nhân gây thái hóa đất. Muốn canh tác bền
vững, nhiệm vụ quan trọng nhất là chống xói mòn. Kết quả nghiên cứu của
Hà Đình Tuấn và cộng sự (2008)[3], đã cho thấy che phủ đất có tác dụng
ngăn chặn xói mòn rửa trôi và lượng đất bị mất đi do xói mòn sẽ giảm nhiều
khi vật liệu che phủ tăng.
17
- Tác dụng cua che phủ đất trong việc khống chế cỏ dại. Như chúng ta
đã biết, kiểm soát cỏ dại đóng vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất cây

thoái hoá, nhất là khu vực có độ dốc lớn. Do vậy biện pháp canh tác ngônương có che phủ bằng xác hữu cơ sẽ hạn chế được tình trạng xói mòn đất.
nương có che phủ bằng xác hữu cơ sẽ hạn chế được tình trạng xói mòn đất.Vật liệu để che phủ bề mặt nương sản xuất ngô là các loại tàn dư cây trồng
Vật liệu để che phủ bề mặt nương sản xuất ngô là các loại tàn dư cây trồngcủa vụ trước hoặc thân lá thực vật hoang dại, các loại cỏ sinh khối lớn như
của vụ trước hoặc thân lá thực vật hoang dại, các loại cỏ sinh khối lớn nhưthân ngô, thân lạc, rơm... Đối với những nương rẫy mà đất còn tơi xốp, không
thân ngô, thân lạc, rơm... Đối với những nương rẫy mà đất còn tơi xốp, khôngcần cày bừa, chỉ nhổ sạch cỏ dại nhưng không đốt cỏ dại mà cùng với cây
cần cày bừa, chỉ nhổ sạch cỏ dại nhưng không đốt cỏ dại mà cùng với câytrồng vụ trước và các loại vật liệu thực vật mang đến để che phủ bổ sung cho
trồng vụ trước và các loại vật liệu thực vật mang đến để che phủ bổ sung chokín mặt đất. Bề dày che phủ khoảng 10 - 15cm. Chờ khoảng nửa tháng để lớp
kín mặt đất. Bề dày che phủ khoảng 10 - 15cm. Chờ khoảng nửa tháng để lớp


đối lớn thì vật liệu che phủ dễ bị nước mưa cuốn trôi, vì vậy, nên trồng các
đối lớn thì vật liệu che phủ dễ bị nước mưa cuốn trôi, vì vậy, nên trồng cáchàng cây bụi lớn theo các đường đồng mức cách nhau 6 - 7 mét để giảm dòng
hàng cây bụi lớn theo các đường đồng mức cách nhau 6 - 7 mét để giảm dòngchảy và giữ không để vật liệu che phủ bị trôi xuống dốc. Đất giữa các đường
chảy và giữ không để vật liệu che phủ bị trôi xuống dốc. Đất giữa các đườngđồng mức cũng được che phủ bằng thảm thực vật. Nếu vật liệu che phủ là
đồng mức cũng được che phủ bằng thảm thực vật. Nếu vật liệu che phủ làthân ngô vụ trước thì không nên chặt mà chỉ cần đạp đổ thân ngô rồi tiến hành
thân ngô vụ trước thì không nên chặt mà chỉ cần đạp đổ thân ngô rồi tiến hànhgieo hạt. Có thể gieo ngay sau khi thu hoạch, không phải chờ đất khô và
gieo hạt. Có thể gieo ngay sau khi thu hoạch, không phải chờ đất khô vàkhông cần cày bừa. Trong trường hợp cần gieo cho kịp thời vụ, nhất là ngô vụ
không cần cày bừa. Trong trường hợp cần gieo cho kịp thời vụ, nhất là ngô vụđông thì có thể trồng gối vụ. Khi ngô đã đen râu, cần cắt lá và phần thân cây
đông thì có thể trồng gối vụ. Khi ngô đã đen râu, cần cắt lá và phần thân cây

cho đất từ thảm thực vật che phủ, đất được giữ độ ẩm tốt. Năng suất ngô có
cho đất từ thảm thực vật che phủ, đất được giữ độ ẩm tốt. Năng suất ngô cóthể đạt từ 70 -75 tạ/ha, cao hơn không che phủ. Biện pháp canh tác này cũng
thể đạt từ 70 -75 tạ/ha, cao hơn không che phủ. Biện pháp canh tác này cũngphù hợp với trình độ sản xuất của đồng bào bởi ít đầu tư thâm canh mà nhờ
phù hợp với trình độ sản xuất của đồng bào bởi ít đầu tư thâm canh mà nhờvào sự phân hủy tự nhiên của thảm thực vật che phủ để tạo độ mùn và độ tơi
vào sự phân hủy tự nhiên của thảm thực vật che phủ để tạo độ mùn và độ tơixốp cho đất. Đây là một trong những phương pháp canh tác bền vững không
xốp cho đất. Đây là một trong những phương pháp canh tác bền vững khôngchỉ áp dụng cho cây ngô mà còn cho nhiều loại cây trồng khác ở các vùng
chỉ áp dụng cho cây ngô mà còn cho nhiều loại cây trồng khác ở các vùngmiền núi lẫn đồng bằng.
miền núi lẫn đồng bằng.
Vai trò của cây phân xanh phủ đất (đối với nền nông nghiệp sinh thái
bền vững trên đất dốc cây lương thực nói chung và cây ngô nói riêng thể hiện
ở chỗ: tạo một lớp phủ nhanh chóng bảo vệ đất chống xói mòn và dòng chảy
trên mặt, giữ dinh dưỡng khỏi trôi theo chiều sâu và kéo dinh dưỡng dưới sâu

dưỡng, đất đồi núi dốc đến đất cát, đất chua mặn ven biển. Lạc dại có khả
năng chịu hạn tốt, chịu úng cao, có thể trồng được quanh năm, nhưng tốt
nhất là mùa xuân và mùa thu với các tỉnh miền Bắc, mùa mưa với các tỉnh
miền Trung, Tây Nguyên và miền Nam. Lạc dại là cây đa tác dụng: có thể
20
trồng thuần dạng đồng cỏ hoặc xen với các loại cỏ khác để vừa nhằm bảo vệ,
cải tạo đất trống đồi núi trọc rất tốt (có khả năng cố định đạm từ 200-300kg
N/ha/năm hoặc với lượng chất xanh có thể cung cấp cho đất mỗi năm 595kg
N/ha, 140kg P2O5/ha và 200kg K2O/ha), vừa cắt chất xanh làm phân xanh
hay làm thức ăn cho chăn nuôi gia súc như trâu, bò, dê, cá… với khối lượng
bình quân 150 tấn chất xanh/ha/năm (vì trong thân, lá có hàm lượng đạm rất
cao, từ 2,5-3%N) hoặc trồng xen che phủ ở các vườn cây ăn quả, trồng che
phủ thành các băng chống xói mòn trên vùng đất dốc cho các loại cây ngắn
ngày (ngô, đậu). Lạc dại luôn luôn xanh tốt, ra hoa màu vàng quanh năm nên
có thể trồng làm thảm trang trí ở các công viên, đường phố, công sở… vừa
có tác dụng tạo cảnh quan đẹp, vừa để bảo vệ môi trường sinh thái rất
tốt.Một số nghiên cứu ở viện đã chỉ ra, nhờ có lạc dại trồng xen trong các
nương ngô mà đất được giữ ẩm tốt, không bị xói mòn, rửa trôi như trước, đỡ
được công làm cỏ và cuối cùng là sản lượng ngô thu hoạch được nhiều hơn
so với trước. Nhiều gia đình đã bắt đầu noi theo gia đình chị đưa cây lạc dại
vào trồng xen trên các nương đồi dốc nhằm bảo vệ và cải tạo đất theo
khuyến cáo của các nhà khoa học. Với những diện tích đất bạc màu qua
nhiều năm không trồng được cây gì khác ngoài cỏ dại thì nhờ trồng lạc dại
phủ đất mà chỉ 2-3 năm sau lượng mùn trong đất đã tăng lên, đất tốt hơn, tơi
xốp hơn, độ ẩm cao hơn do đó bà con đã có thể đưa vào canh tác nhiều loại
cây trồng mang lại nguồn thu nhập đáng kể.
Năm 2005, trong khuôn khổ của Dự án Đa dạng hóa nông nghiệp,
hướng tới chương trình canh tác bền vững, Trung tâm NCNNDH Nam Trung
bộ (nay là Viện NCNNDH Nam Trung bộ) đã trình diễn mô hình trồng đậu
tương ĐT12 xen cây ngô trên đất đỏ bazan thuộc xã Ia Phang, huyện Chư Sê,

nông dân chỉ quan tâm sử dụng giống mới và tăng hàm lượng phân hoá học
mà không sử dụng phân xanh, phân hữu cơ hoặc tàn dư cây trồng để bảo vệ
và nâng cao độ mùn cho đất. Ở nhiều nơi do đất trồng ngô bị xói mòn và thoái
hóa đến mức giống mới và phân hoá học không còn phát huy tác dụng. Do
hiệu quả kinh tế thấp dẫn đến thua lỗ nên nông dân trồng ngô sẽ chuyển sang
trồng sắn sau đó đất sẽ bị bỏ hóa. Để khắc phục tình trạng trên, nhóm các nhà
khoa học thuộc Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc, Viện Khoa
học Nông nghiệp Việt Nam đã tiến hành thử nghiệm biện kết hợp che phủ đất
sau đó trồng ngô tại một số điểm của miền núi phía Bắc. Kết quả cho thấy,
22
với biện pháp canh tác này đã hạn chế xói mòn đất rất lớn, chỉ 0,53 tấn/ha đất
bị trôi tức là giảm 84,5% so với đối chứng. Ngoài ra, biện pháp canh tác này
cũng thể hiện tác dụng rất tích cực đối với sinh trưởng phát triển của ngô,
tăng chiều cao cây từ 9,1cm (đối chứng) lên 19,1cm và 24,1cm (che phủ đất),
đồng thời khắc phục được các yếu tố hạn chế của đất dốc và tăng năng suất
ngô từ 10,6% đến 31,9%. Do đó, thu nhập cho người dân cũng tăng từ
390.000 - 2.724.000 đồng/ha. Đồng thời giảm nhẹ lao động nặng nhọc như
làm đất, làm cỏ (giảm 25% - 91,7% công làm cỏ); góp phần cải thiện đời sống
nông dân vùng cao mà vẫn bảo tồn được tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi
trường sinh thái.
Có rất nhiều mô hình trồng cây họ đậu, lạc trồng xen với ngô được áp
dụng ở rất nhiều nơi mang lại nhưng kết quả tốt vừa cho thu nhập từ cây ngô
vừa cho thu nhập từ cây trồng phụ, phần thân lá cây trồng xen chả lại một
phần chất dinh dưỡng cho đất.
Thách thức đạt ra cho thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng: Tạo ra
nhiều mô hình trông xen cây che phủ vào canh tác ngô, vừa chống được phần
nào xói mòn đất, vừa mang lại hiểu quả kinh tế. Nghiên cứu và tìm hiểu tác
dụng của vật liệu che phủ và cây trồng xen trên cây ngô, góp phần tăng năng
suất ngô và cây ngô đất dốc ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung.
23

Dải bảo vệ

5 4
1 (Đ/
C)
3 2
3 2 5 4 1(Đ/C)
1(ĐC) 5 3 2 4

Dải bảo vệ
+ Diện tích ô thí nghiệm: 50m2
+ Trồng diện tích ô thí nghiệm: 725m2 (không tính bảo vệ)
+ Mật độ trồng cây ngô 70cm x 25cm
3.5.2. Qui trình kỹ thuật
- Thời vụ: Vụ Xuân 20/2/2010.
- Làm đất: Đất dọc sạch cỏ cày sâu 20 đến 25cm. Đất tơi xốp theo đúng
yêu cầu đề ra.
- Kỹ thuật gieo, khoảng cách, mật độ trồng:
+ Cây ngô: Trồng với mật độ khoảng cách (70cm x 25cm) với 5,7 vạn
cây/ha. Gieo sâu 4 - 5cm, mỗi hốc gieo 2 hạt, khi ngô 3 - 4 lá thì tỉa và để mỗi
hốc 1 cây.
+ Cây che phủ: Trồng 1 hàng cây trồng xen giữa 2 hàng ngô, mật độ
khoảng cách trồng là: 15cm x 4cm x 2 cây/hốc
3.5.3. Phân bón và chăm sóc
- Bón phân: Theo quy trình kỹ thuật được áp dụng theo quy trình của
Viện nghiên cứu ngô Trung ương.
+ Phân hữu cơ: 10 tấn phân chuồng/ha.
+ Phân vô cơ: Bón theo công thức 10 tấn PC + 260 kg Ure (120N) +
350 kg supe lân (60P2O5) + 10kg Kali (60 K2O). Đạm urê: 321,89 kg/ha.
Lân supe: 545,45 kg/ha. Kali (KCl): 150 kg/ha.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status