Chuyên đề
CHƯƠNG 1
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG HUY
ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Ngân hàng thương mại và vai trò của nguồn vốn trong hoạt động kinh
doanh của NHTM
1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại
Hoạt động Ngân hàng đã xuất hiện từ rất sớm, nó phát triển cùng với sự phát
triển của đời sống kinh tế xã hội. Xã hội càng đi lên, hoạt động Ngân hàng càng trở
lên đa dạng về loại hình, tính chất và mục tiêu hoạt động. Sự thống nhất trong định
nghĩa về NHTM giữa các quốc gia trên thế giới cũng khác nhau nên để hiểu rõ về
khái niệm của nó ta cần tìm hiểu đặc điểm cũng như chức năng hoạt động của
NHTM.
Trước hết, NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ - tín dụng mà hoạt động
chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm phải
hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và cung
ứng các dịch vụ thanh toán, tư vấn, bảo lãnh khách hàng vì mục tiêu lợi nhuận, an
toàn và phát triển.
Để huy động vốn có hiệu quả thì NHTM phải có nhận thức đúng đắn, sâu sắc
các quan điểm có tính định hướng cho việc huy động vốn nhằm đáp ứng nhu cầu
phát triển kinh tế và đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Vì thế hoạt động huy động vốn, tạo vốn cho NHTM đóng vai trò quan trọng, ảnh
hưởng tới chất lượng hoạt động của NHTM.
Hiện nay, huy động vốn để cho vay vừa đảm bảo khả năng thanh toán cho
khách hàng, vừa thu được lợi nhuận nhưng hoạt động này phải gắn chặt với việc sử
dụng có hiệu quả nguồn vốn đồng thời phải kết hợp hài hòa giữa lợi ích của Ngân
hàng cũng như đối với người gửi.
Cao Việt Bách – 4A4- VB2
1
Chuyên đề
1.1.2. Nguồn vốn và vai trò của nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của
lớn là điều kiện thuận lợi đối với Ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng
với các thành phần kinh tế xét cả về quy mô, khối lượng tín dụng, chủ động về thời
gian và thời hạn cho vay, thậm chí quyết định mức lãi suất vừa đủ cho khách hàng.
Vốn của Ngân hàng lớn sẽ giúp Ngân hàng có đủ khả năng tài chính để kinh doanh
đa năng trên thị trường.
1.1.2.3. Các hình thức huy động vốn của NHTM
1.1.2.3.1. Huy động vốn từ tài khoản tiền gửi
* Tiền gửi không kỳ hạn
Là loại tiền gửi do khách hàng gửi vào Ngân hàng nhằm mục đích giao dịch
thanh toán, chi trả cho các hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ và các khoản chi
phí phát sinh trong kinh doanh một cách an toàn và tiện lợi. Tiền gửi này không có
sự thỏa thuận về thời gian rút tiền khách hàng có thể sử dụng tiền vào bất cứ khi
nào họ có nhu cầu. Tiền gửi không kỳ hạn có lãi suất thấp hoặc không được trả lãi.
Đối với Ngân hàng đây là một khoản nợ mà Ngân hàng luôn phải chủ động trả lãi
cho khách hàng vào bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, trong mỗi Ngân hàng, do có sự
không khớp nhịp giữa mỗi lần xuất và nhập trên mỗi tài khoản tiền gửi thanh toán
làm cho nhập lớn hơn xuất, tạo nên tồn khoản mà Ngân hàng được phép sử dụng
một phần làm vốn kinh doanh.
Đây là nguồn vốn huy động có chi phí thấp, ở các nước phát triển, loại tiền
gửi này thường không được hưởng lãi, nhưng bù lại, khách hàng có thể sử dụng các
dịch vụ Ngân hàng một cách miễn phí.
* Tiền gửi có kỳ hạn
Đây là loại tiền gửi có thỏa thuận trước giữa khách hàng và Ngân hàng về
thời hạn rút tiền. Có nghĩa là họ gửi tiền nhằm mục đích hưởng lãi. Tính đặc trưng
của loại tiền gửi này là hưởng mức lãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi thanh toán và
mức lãi suất này tỷ lệ thuận với thời hạn gửi và người gửi không được phát hành
séc hoặc sử dụng các dịch vụ Ngân hàng từ tiền gửi này.
Cao Việt Bách – 4A4- VB2
3
Chuyên đề
4
Chuyên đề
* Phát hành kỳ phiếu: Kỳ phiếu Ngân hàng là một công cụ nợ ngắn hạn do
Ngân hàng phát hành theo từng đợt để huy động vốn một cách linh hoạt nhằm đáp
ứng nhu cầu vốn cho những kế hoạch kinh doanh xác định của Ngân hàng. Vốn này
chỉ được huy động trong thời gian nhất định, khi đã huy động đủ khối lượng theo
dự kiến Ngân hàng sẽ ngừng huy động. Đây là hình thức huy động vốn nhanh vì nó
có lãi suất thường cao hơn lãi suất tiết kiệm cùng thời hạn, lại có thể chuyển
nhượng được dễ dàng nên đã thu hút được khối lượng vốn tương đối lớn. Tuy nhiên
chính bởi những ưu điểm mà nó có tình trạng di chuyển từ tiền gửi tiết kiệm sang
mua kỳ phiếu (số dư tiền gửi tiết kiệm giảm đi số dư kỳ phiếu tăng lên).
* Phát hành trái phiếu: Trái phiếu Ngân hàng là một công cụ nợ dài hạn, với
cam kết thanh toán gốc vào ngày đáo hạn và thanh toán lãi vào những thời gian xác
định. Trái phiếu dùng để huy động vốn trung và dài hạn phục vụ cho những kế
hoạch phát triển kinh doanh có quy mô lớn và dài hạn. Trong khi kỳ phiếu lại được
phát hành ở từng chi nhánh với khung lãi suất, thời gian phát hành riêng biệt thì trái
phiếu được phát hành với quy mô lớn, đồng loạt trong toàn bộ hệ thống Ngân hàng.
Trái phiếu gồm nhiều loại: Có ghi tên, không ghi tên, trả lãi trước, trả lãi sau,
có thể chuyển nhượng và thừa kế… Các loại trái phiếu có một số đặc trưng là có sự
xác định về mệnh giá (tức là ghi tên trái phiếu), ngày đáo hạn (tức thời hạn thanh
toán gốc) lãi suất công bố khi phát hành.
Như vậy, trái phiếu hay kỳ phiếu Ngân hàng là những hình thức huy động rất
tiện lợi, tùy theo tính cân đối, nguồn vốn và cho vay từng thời kỳ, với mức lãi suất
đủ sức hấp dẫn. Ngân hàng không những chủ động thu gom một lượng vốn cần
thiết đáp ứng nhu cầu vốn trong thời gian ngắn mà còn có thể kiềm chế lạm phát,
góp phần phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán một cách hữu hiệu nhất.
1.1.2.4. Vai trò của nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM
* Nguồn vốn huy động ảnh hưởng đến quy mô hoạt động và tín dụng của NHTM
Vốn huy động có ảnh hưởng to lớn đến việc mở rộng hay thu hẹp quy mô tín
dụng cũng như các hoạt động khác. Trong trường hợp nền kinh tế có nhu cầu vốn
Cao Việt Bách – 4A4- VB2
6
Chuyên đề
này sẽ thu hút sự quan tâm của khách hàng, doanh số hoạt động của Ngân hàng sẽ
tăng nhanh và Ngân hàng có điều kiện thuận lợi hơn trong kinh doanh.
1.2. Hiệu quả hoạt động huy động vốn của NHTM
1.2.1. Khái niệm hiệu quả huy động vốn của NHTM
Hiệu quả huy động vốn là phạm trù phản ánh trình độ và khả năng đảm bảo
thực hiện công tác huy động vốn có kết quả cao với chi phí nhỏ nhất. Có nghĩa là
về mặt lượng, hiệu quả huy động vốn biểu hiện giữa kết quả thu được và chi phí bỏ
ra. Còn về mặt chất, nó phản ánh năng lực và trình độ quản lý của Ngân hàng.
Đối với một NHTM thì hiệu quả huy động vốn có mối quan hệ biện chứng
với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, có nghĩa là huy động vốn tốt làm nền
tảng cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng và hoạt động kinh doanh này có
hiệu quả là cơ sở thuận lợi để huy động vốn có hiệu quả. Hai mối quan hệ này hỗ
trợ cho nhau cùng phát triển.
1.2.2. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn của NHTM
* Quy mô huy động vốn
Quy mô huy động vốn của Ngân hàng ngày càng tăng chứng tỏ Ngân hàng
đã làm tốt công tác huy động vốn. Huy động vốn tăng trưởng qua các năm giúp cho
Ngân hàng có khả năng tự chủ trong hoạt động kinh doanh của mình. Khi nghiên
cứu về hiệu quả huy động vốn chúng ta đề cập đến cả hai mặt chất và lượng của
hiệu quả huy động vốn. Đó là kết quả thu được (số lượng, thời hạn) chi phí bỏ ra và
năng lực, trình độ quản lý của Ngân hàng tử đó chúng ta biết được:
- Quy mô nguồn vốn huy động có đủ lớn để tài trợ cho danh mục đa dạng và
không ngừng tăng trưởng không?
- Cơ cấu nguồn vốn có phù hợp với cơ cấu sử dụng vốn không?
- Nguồn vốn tăng trưởng có ổn định không?
Những chỉ tiêu trên đánh giá năng lực và trình độ quản lý của Ngân hàng.
Qua phân tích đánh giá chúng ta rút ra những điểm mạnh, hạn chế điểm yếu tìm ra
nhau càng gia tăng của Ngân hàng. Đồng thời vốn huy động phải có sự ổn định về
thời gian. Nếu Ngân hàng đó huy động được lượng vốn lớn nhưng không ổn định,
thì thường xuyên có khả năng một lương tiền lớn bị rút ra. Ngân hàng luôn phải đối
đầu với vấn đề thanh toán thì lượng vốn lớn cho vay và đầu tư sẽ không lớn, như
Cao Việt Bách – 4A4- VB2
8
Chuyên đề
vậy hiệu quả huy động vốn sẽ không cao, ngược lại nếu nguồn vốn huy động ổn
định thì Ngân hàng sẽ yên tâm sử dụng phần lớn số vốn đó vào hoạt động kinh
doanh có thu nhập cao. Nguồn vốn tăng đều qua các năm đạt mục tiêu đề ra và có
tốc độ gia tăng đều đặn là nguồn vốn tăng trưởng ổn định.
* Khả năng huy động vốn đủ đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn của Ngân hàng
Ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt với hoạt động kinh doanh
chủ yếu là “đi vay để cho vay” từ đó tìm kiếm lợi nhuận. Do đó, để Ngân hàng huy
động được lượng vốn lớn mà sử dụng không hiệu quả cũng không thể đem lại hiệu
quả cao. Ngược lại không huy động được vốn cũng không có vốn để kinh doanh thì
Ngân hàng không thể có lãi.
Do vậy hoạt động này phải hài hòa, tương thích, có như vậy Ngân hàng mới
hoạt động có hiệu quả. Ngày nay hoạt động cho vay của các Ngân hàng tập trung
nhiều vào cho vay trung và dài hạn. Do vậy để đáp ứng nhu cầu này thì Ngân hàng
cần phải tăng cường tối đa việc huy động vốn trung và dài hạn. Tuy nhiên, hiện nay
có đến 80% nguồn vốn huy động của các Ngân hàng là ngắn hạn làm cho khả năng
cung ứng vốn trung và dài hạn bị hạn chế, đồng thời là nhân tố tiềm ẩn đe dọa sự
ổn định và an toàn của hoạt động Ngân hàng.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc huy động vốn của NHTM
Công tác huy động vốn chịu ảnh hưởng của một số nhân tố chủ quan và
khách quan. Để mở rộng và tăng cường công tác huy động vốn, các Ngân hàng cần
xem xét các nhân tố một cách kỹ lưỡng.
1.3.1. Các nhân tố khách quan
* Thực trạng nền kinh tế
doanh được lựa chọn đúng đắn, các nguồn vốn được khai thác tối đa thì công tác
huy động vốn sẽ phát huy hiệu quả.
* Chính sách lãi suất cạnh tranh
Lãi suất là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến quy mô nguồn vốn thu hút vào
Ngân hàng vì nó là yếu tố hàng đầu mà người gửi tiền quan tâm, vì vậy các Ngân
Cao Việt Bách – 4A4- VB2
10
Chuyên đề
hàng phải đưa ra được mức lãi suất trả cho người gửi tiền thỏa đáng so với các
Ngân hàng khác. Lãi suất cao, linh hoạt, hợp lý luôn có tác dụng kích thích người
gửi tiền, hoặc thúc đẩy người chuyển vốn từ Ngân hàng này qua Ngân hàng khách.
* Đa dạng phong phú của sản phẩm dịch vụ Ngân hàng
Một Ngân hàng có các dịch vụ tốt, đa dạng hiển nhiên có nhiều lợi thế hơn
các Ngân hàng có các dịch vụ hạn chế. Khi khách hàng đến một Ngân hàng họ
thường muốn Ngân hàng đó có thể thỏa mãn tất cả các nhu cầu sử dụng các sản
phẩm dịch vụ Ngân hàng khác nhau của mình, nếu Ngân hàng không đáp ứng được
sẽ rất dễ bị mất khách hàng. Khác với cạnh tranh về lãi suất, cạnh tranh về dịch vụ
Ngân hàng là không có giới hạn.
* Chính sách khách hàng
Trong công tác khách hàng, Ngân hàng thường chia khách hàng thành nhiều
loại để Ngân hàng có cách thức đối xử phù hợp. Đối với khách hàng lâu năm giao
dịch thường xuyên, có số dư tiền gửi lớn được Ngân hàng tín nhiệm thì Ngân hàng
có một chính sách ưu đãi về lãi suất, kỳ hạn,… Cũng như thực hiện việc xét thưởng
đối tác, có như vậy Ngân hàng mới có khả năng thu hút khách hàng và tăng nhanh
khả năng hoạt động vốn của mình.
* Công nghệ Ngân hàng
Trình độ công nghệ Ngân hàng càng cao khách hàng sẽ cảm thấy hài lòng về
dịch vụ được cung ứng và yên tâm hơn khi gửi tiền vào Ngân hàng bởi vì công
nghệ cao giúp Ngân hàng có khả năng thanh toán nhanh, thủ tục ít rườm rà. Đây là
yếu tố giúp Ngân hàng cạnh tranh phi lãi suất, do khách hàng quan tâm không chỉ
2.1.2. Chức năng và nhiệm vụ của SGD NHNo&PTNT Việt Nam
2.1.2.1. Chức năng của SGD NHNo&PTNT Việt Nam
Theo quy chế tổ chức và hoạt động của Sở Giao dịch NHNo&PTNT Việt
Nam ban hành theo quyết định số 195/QĐ/HĐQT – TCCB ngày 19/05/2004 của
Hội đồng quản trị NHNo&PTNT Việt Nam có những chức năng chủ yếu sau:
- Làm đầu mối trong việc thực hiện một số nhiệm vụ theo ủy quyền của
NHNo&PTNT Việt Nam và theo lệnh của Tổng giám đốc NHNo&PTNT Việt Nam.
- Trực tiếp kinh doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội: Từ ngày 01/11/2003
chức năng mua bán ngoại tệ cho toàn bộ hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam được
chuyển lên trụ sở chính NHNo&PTNT Việt Nam. Từ đó Sở Giao dịch
NHNo&PTNT Việt Nam thực hiện mua bán ngoại tệ bình thường như một chi
nhánh bình thường của NHNo&PTNT Việt Nam.
2.1.2.2.Nhiệm vụ của Sở giao dịch NHNo&PTNT Việt Nam
* Sở giao dịch NHNo&PTNT Việt Nam làm đầu mối quản lý ngoại tệ của
NHNo&PTNT Việt Nam
Cao Việt Bách – 4A4- VB2
13
Chuyên đề
- Quản lý ngoại tệ tiền mặt của NHNo&PTNT Việt Nam
- Đầu mối các dự án ủy thác đầu tư của Chính phủ, các tổ chức kinh tế, cá
nhân trong và ngoài nước, tham gia vào các dự án đồng tài trợ.
- Theo dõi, hạch toán kế toán các khoản đầu tư của NHNo&PTNT Việt Nam.
* Huy động vốn
- Khai thác và nhận tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có thời hạn, tiền gửi
thanh toán của các tổ chức cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong nước và
ngoài nước bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ.
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu, và thực hiện các hình
thức huy động vốn khác theo quy định của NHNo&PTNT Việt Nam.
- Được vay vốn của các tổ chức tài chính tín dụng khác trong nước khi Tổng
giám đốc của NHNo&PTNT Việt Nam cho phép.
Việt Nam. Ngoài trách nhiệm phụ trách chung, Giám đốc trực tiếp chỉ đạo các hoạt
động của một số chuyên đề theo sự phân công bằng văn bản của Giám đốc và Chủ
tịch hội đồng quản trị.
Như vậy SGD NHNo&PTNT Việt Nam có cơ cấu tổ chức khá chặt chẽ, bao
gồm 8 phòng ban với tổng số khoảng 85 cán bộ công nhân viên. Cho đến nay về cơ
cấu đã đáp ứng nhiệm vụ là đầu mối của NHNo&PTNT Việt Nam, đồng thời góp
phần vào việc thúc đẩy toàn hệ thống ngân hàng phát triển mạnh mẽ, sau đây là mô
hình tổ chức tổng thể của SGD:
Cao Việt Bách – 4A4- VB2
15
Chuyên đề
2.1.4. Thực trạng hoạt động kinh doanh của SGD NHNo&PTNT Việt Nam
2.1.4.1. Kết quả hoạt động kinh doanh của SGD NHNo&PTNT Việt Nam
Bảng 1.2: Bảng kết quả hoạt động kinh doanh của SGD trong 3 năm 2007, 2008, 2009
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu
2007 2008 2009
Số tiền Số tiền
Tốc độ tăng
(%)
Số tiền
Tốc độ tăng
(%)
1.Tổng thu 500,4 641 28,01 859,5 34,08
2.Tổng chi 368,5 492 33,51 576,18 17,11
3.Chênh lệch thu chi 113,9 149 30,82 283,3 90,13
Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh từ năm 2007 đến năm 2009
Trong 3 năm 2007, 2008, 2009 kết quả hoạt động kinh doanh của Sở giao
dịch khá tốt, ta có thể thấy rõ qua bảng kết quả hoạt động kinh doanh như sau:
Cao Việt Bách – 4A4- VB2
nhằm tối đa hóa lợi nhuận.
Cao Việt Bách – 4A4- VB2
17
Chuyên đề
2.1.4.2. Tình hình huy động vốn của SGD NHNo&PTNT Việt Nam
Bảng 2.2: Bảng tình hình huy động vốn của SGD trong 3 năm 2007, 2008, 2009
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Số
tiền
Tỷ
trọng
(%)
Số
tiền
Tỷ
trọng
(%)
% so với
năm
trước
Số tiền
Tỷ
trọng
(%)
% so với
năm
trước
Tổng huy động
nhằm mở rộng và phát triển đầu tư tín dụng, đáp ứng nhu cầu vốn cần thiết, hợp lý
cho mọi thành phần kinh tế, tạo thế chủ động trong hoạt động kinh doanh của mình
Cao Việt Bách – 4A4- VB2
18
Chuyên đề
không những vậy với lợi thế về nguồn vốn, SGD còn huy động vốn cung ứng cho
NHNo&PTNT Việt Nam để điều hòa cho toàn hệ thống.
Những kết quả đáng khích lệ trên thể hiện đúng đắn chiến lược kinh doanh
cũng như nỗ lực của tập thể cán bộ nhân viên SGD luôn quan tâm, chú trọng đến
công tác huy động vốn, phát huy những lợi thế về nguồn nhân lực, uy tín, vị trí kinh
doanh và công nghệ hiện đại của SGD.
2.1.4.3. Tình hình dư nợ cho vay của SGD NHNo&PTNT Việt Nam
Bảng 3.2: Bảng tình hình dư nợ cho vay của SGD trong 3 năm 2007, 2008, 2009
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Số
tiền
Tỷ
trọng
%
Số
tiền
Tỷ
trọng
%
%Chênh
lệch so với
năm trước
(+/-)
nhiên đến năm 2009 nhu cầu vay của các tổ chức cá nhân chủ yếu lại bằng VNĐ
Cao Việt Bách – 4A4- VB2
19
Chuyên đề
chiếm 60,5% so với 39,5% của ngoại tệ, điều này càng khẳng định vị trí của VNĐ
đang được sử dụng nhiều hơn ở SGD so với các năm 2007 và 2008.
SGD là một trong những đơn vị có tốc độ phát triển hoạt động kinh doanh
cao nhất trong hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam. Doanh số hoạt động lớn, lợi
nhuận cao, bình quân nguồn vốn tăng trưởng 29.3%/ năm, dư nợ tăng bình quân
39%/ năm, lợi nhuận tăng bình quân 26.6%/ năm.
2.1.4.4. Hoạt động kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế của SGD
NHNo&PTNT Việt Nam
Bảng 4.2: Bảng kết quả hoạt động thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại
tệtrong 3 năm 2007, 2008, 2009
Đơn vị: triệu USD
Chỉ tiêu
2007 2008 2009
Số tiền Số tiền
So với năm
2007 (%)
Số tiền
So với năm
2008 (%)
Thanh toán hàng NK
493.4 630.82 127,85 503.04 79,75
Thanh toán hàng XK
73.92 195.23 264,11 57.15 29,28
Thanh toán kiều hối
6.88 5.74 83,43 6.72 117,07
Doanh số mua ngoại tệ
Số
tiền
Tỷ
trọng
(%)
Số
tiền
Tỷ
trọng
(%)
% so với
năm
trước
Số tiền
Tỷ
trọng
(%)
% so với
năm
trước
Tổng huy động vốn
6.488 100 8.221 100 126,7 10.990 100 133,6
1. Nội tệ
5.236 80,7 6.463 78,6 123,4 9.012 82 140
2. Ngoại tệ
1.252 19,3 1.758 21,4 140,4 1.978 18 112,5
Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh từ năm 2007 đến năm 2009
Trong tổng nguồn vốn huy động thì nguồn huy động từ nội tệ chiếm phần
lớn cụ thể như sau:
Tổng nguồn vốn huy động của đồng nội tệ năm 2008 là 6.463 tỷ đồng tăng
Số tiền
Tỷ
trọng
(%)
Số
tiền
Tỷ
trọng
(%)
% so
với năm
trước
Số tiền
Tỷ
trọng
(%)
%so với
năm
trước
Tổng huy động
vốn
6.488 100 8.221 100 126,7 10.990 100 133,6
1. Tiền gửi dân cư 1.822 28 2.500 30,4 137,2 2.859 26 114,4
2. Tiền gửi TCKT 4.542 70 5.705 69,4 125,6 8.019 73 140,6
3. Tiền gửi TCTD 124 2 16 0,2 13 112 1 700
Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh từ năm 2007 đến năm 2009
Nếu phân theo thành phần kinh tế thì tiền gửi của tổ chức kinh tế chiếm tỷ
trọng lớn nhất và tăng trưởng đều qua các năm. Tiền gửi của tổ chức kinh tế năm
2008 là 5.705 tỷ đồng chiếm 69,4% tỷ trọng trong tổng nguồn vốn huy động được
và tăng 1.163 tỷ đồng so với năm 2007 tăng 25,6 % so với năm 2007. Năm 2009
NH dễ dàng hơn trong thực hiện được các kế hoạch sử dụng vốn của mình.
Cao Việt Bách – 4A4- VB2
24
Chuyên đề
2.2.1.3. Huy động nguồn vốn theo kỳ hạn
Bảng 7.2: Bảng huy động nguồn vốn theo kỳ hạn của SGD
Đơn vị: Tỷ đồng
Chỉ tiêu
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Số
tiền
Tỷ
trọng
(%)
Số
tiền
Tỷ
trọng
(%)
% so với
năm
trước
Số tiền
Tỷ
trọng
(%)
% so với
năm
trước
Tổng huy động