Nghiên cứu mô hình quản lý rác thải dựa vào cộng đồng ở xã Dương Nội, thành phố Hà Đông, tỉnh Hà Tây. - Pdf 26

Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Thành phố Hà Đông nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam thủ đô Hà Nội đầu
mối của nhiều tuyến giao thông đường bộ, đường sắt quan trọng. Trong quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nền kinh tế của tỉnh Hà Tây nói chung và
của thành phố Hà Đông nói riêng đã và đang phát triển nhanh chóng, mức
sống của nhân dân ngày càng được nâng cao.
Song bên cạnh đó tài nguyên thiên nhiên ngày càng bị khai thác triệt để,
chất thải từ sản xuất công nghiệp, từ các hoạt động của các làng nghề, giao
thông vận tải, các công trường xây dựng và từ sinh hoạt của nhân dân ngày
càng nhiều, càng có tính nguy hại, đã và đang tác động mạnh mẽ đến môi
trường, đã và sẽ làm cho chất lượng môi trường khu vực bị suy thoái, an toàn
sức khoẻ cộng đồng và các hệ sinh thái ngày càng bị đe doạ.
Vấn đề nổi cộm nhất hiện nay là các địa điểm để xử lý và chôn lấp các
chất thải rắn, chất thải sinh hoạt của thành phố. Trong các quy hoạch của tỉnh
về thành lập bãi chôn lấp rác thải tại một số khu vực, nhưng còn nhiều bất cập
do công tác quản lý, quy hoạch xử lý chưa được triệt để, còn gây nhiều tác
động xấu đến cuộc sống của dân cư xung quanh bãi chôn lấp.
Rác thải là một trong những nguyên nhân trực tiếp gây ra ô nhiễm môi
trường nếu chúng ta không biết quản lý một cách đúng đắn. Nhưng nếu chúng
ta biết cách quản lý và tận dụng thì rác thải sẽ trở thành nguồn tài nguyên có
giá trị thông qua việc tái chế, tái sử dụng, đồng thời tạo ra thu nhập cho người
dân. Trong các chủ thể tham gia quản lý rác thải, cộng đồng có vai trò rất
quan trọng.
Nguyễn Thị Chang Lớp
KTMT46
Chuyên đề tốt nghiệp
Xuất phát từ những vấn đề đó mà em đã quyết định chọn đề tài: Nghiên
cứu mô hình quản lý rác thải dựa vào cộng đồng ở xã Dương Nội, thành
phố Hà Đông, tỉnh Hà Tây.

Chương 3: Đánh giá hiệu quả hoạt động của mô hình, những thuận lợi,
khó khăn và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của
mô hình.
Nguyễn Thị Chang Lớp
KTMT46
Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp trước hết em xin gửi lời cảm ơn
chân thành đến Ths. Đinh Đức Trường. Thầy đã hướng dẫn em ngay từ khi
mới hình thành lên đề tài và trong suốt quá trình thực hiện chuyên đề tốt
nghiệp.
Em cũng xin cảm ơn Ths. Nguyễn Thị Kim Sơn – Phó trưởng phòng Tài
nguyên & Môi trường thành phố Hà Đông, CN. Nguyễn Thế Anh – cán bộ
hướng dẫn đã đóng góp ý kiến giúp em sửa chữa những thiếu sót trong bài.
Tiếp theo, em xin cảm ơn cán bộ phòng Tài nguyên và Môi trường thành
phố Hà Đông, UBND xã Dương Nội đã cung cấp cho em các số liệu cần thiết
phục vụ cho chuyên đề tốt nghiệp.
Nguyễn Thị Chang Lớp
KTMT46
Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan bài chuyên đề tốt nghiệp này do tự bản thân em viết,
không sao chép, copy tài liệu. Nếu sai em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
trước nhà trường.
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Chang
Nguyễn Thị Chang Lớp
KTMT46
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG 1

- Cộng đồng những người có chung những quan tâm đặc điểm, tính chất,
màu da (cộng đồng người dân tộc thiểu số, cộng đồng người da màu,…);
- Cộng đồng có quan niệm chung về các vấn đề quan hệ xã hội, có chung
mục tiêu, quan điểm chung về giá trị, cùng tham gia vào quá trình ra quyết
định (cộng đồng các nước ASEAN, các nước Pháp ngữ,…).
Tổ chức cộng đồng là một khối liên kết của các thành viên trong cộng
đồng vì những mối quan tâm chung và hướng tới một quyền lợi chung, hợp
sức với nhau để tận dụng tiềm năng, trí tuệ của nhau để cùng thực hiện một
hoặc nhiều vấn đề.
Ở Việt Nam, hiện đang có các loại tổ chức cộng đồng sau đây:
- Tổ chức cộng đồng thành lập theo pháp luật về hội, như liên hiệp hội,
tổng hội, liên đoàn, hiệp hội, câu lạc bộ;
- Tổ chức cộng đồng dưới dạng nhóm tự quản như: bản, ấp, nhóm dự án,
nhóm sở thích, câu lạc bộ, tổ hoà giải, tổ dân phố,… Các tổ chức này không
có luật quy định thành lập hay cấm thành lập;
- Tổ chức cộng đồng thành lập theo quy định pháp lý về kinh tế, hợp tác,
như: tổ hợp tác, hợp tác xã,…
* Khái niệm về sự tham gia của cộng đồng
Có nhiều cách hiểu khác nhau về sự tham gia của cộng đồng:
Nguyễn Thị Chang Lớp
KTMT46
Chuyên đề tốt nghiệp
Paul (1987) cho rằng, phát triển cộng đồng là một quá trình tích cực mà
cồng đồng tác động đến hướng và việc thực hiện dự án phát triển nhằm nâng
cao phúc lợi của họ về mặt thu nhập, phát triển cá nhân, niềm tin cá nhân hoặc
các giá trị khác mà họ mong muốn.
Tổ chức phát triển Quốc tế Canada (CIDA) quan niệm tham gia cộng
đồng là thu hút các nhóm đối tượng mục tiêu vào các khâu của chu trình dự
án từ thiết kế, thực hiện và đánh giá dự án với mục tiêu nhằm xây dựng năng
lực của người nghèo để duy trì được cơ sở hạ tầng và kết quả mà dự án đã tạo

Các chương trình phát triển định hướng cộng đồng ở thời kỳ này có quy
mô lớn hơn so với chương trình có sự tham gia của cộng đồng và không chỉ
dừng lại ở sự tham gia mà tăng cường sự quản lý của cộng đồng và sự tham
gia của chính quyền địa phương, gắn kết với cải cách ở mức độ rộng hơn và
tính thực thi cao hơn. Mức độ trao thẩm quyền khác nhau trong các chương
trình, dự án. Mức trao thẩm quyền thấp nhất là các tổ chức nhà nước và nhà
đầu tư quản lý nguồn vốn đầu tư và thực hiện các hoạt động, nhưng có lấy ý
kiến tham vấn của tổ chức cộng đồng. Mức trao thẩm quyền cao là tổ chức
cộng đồng tham gia vào kiểm soát các quyết định đầu tư, quản lý các nguồn
vốn đầu tư và chịu trách nhiệm toàn bộ các hoạt động. Mức trao quyền cho tổ
chức cộng đồng phụ thuộc vào các yếu tố:
- Năng lực và sự sẵn sàng của cộng đồng để huy động và tổ chức;
- Sự sẵn sàng và phương pháp mà các cấp chính quyền cao hơn trao
quyền cho cấp dưới;
- Sự hạn chế của khung pháp lý đối với cộng đồng trong việc tiếp nhận
quyền kiểm soát các nguồn vốn nhà nước hay nhà tài trợ phát triển chính thức
(ODA);
Nguyễn Thị Chang Lớp
KTMT46
Chuyên đề tốt nghiệp
- Khoảng cách xa xôi của các cộng đồng có thể gây khó khăn cho việc thực
hiện;
- Trình độ học vấn của cộng đồng cũng ảnh hưởng đến việc chuẩn bị tài
liệu của chương trình, dự án và báo cáo;
- Tính chất của công việc sẽ tiến hành.
Tuy nhiên, phát triển định hướng cộng đồng không phải là thích hợp và
mang lại hiệu quả với mọi trường hợp. Có các trường hợp mà tư nhân hay tổ
chức công đảm nhiệm tốt hơn như trường hợp xây dựng và quản lý cầu lớn,
các dịch vụ mà tư nhân mang lại ích lợi lớn hơn cho địa phương…
Việc phát triển định hướng cộng đồng thích hợp khi các nhóm cộng đồng

người dân đối với rác thải. Mọi người dân được tham gia vào quá trình xác
định lợi ích và ra quyết định, tăng cường mối quan hệ cộng tác giữa chính
quyền trung ương với các cấp địa phương trong vấn đề quản lý chất thải mang
lại hiệu quả kinh tế, xã hội cao nhất.
Vai trò của cộng đồng và tham gia cộng đồng về kinh tế chất thải thể
hiện ở các khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, tính phức tạp, đa dạng về nhiều mặt của kinh tế chất thải cần
huy động sự tham gia của nhiều người và nâng cao trách nhiệm của tất cả mọi
người trong xã hội, bất kể họ thuộc đối tượng nào. Việc phát sinh chất thải
không chỉ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và các hoạt động xã hội khác
mà ngay cả trong sinh hoạt hàng ngày. Trung bình, lượng chất thải sinh hoạt
chiếm từ 50 – 70 % tổng lượng thải của một địa phương hay quốc gia. Mọi
người dân đều tham gia vào quá trình phát sinh chất thải này dưới các giác độ
khác nhau. Các hoạt động liên quan đến phân loại tại nguồn hay vận chuyển
chất thải cũng thu hút nhiều nhóm đối tượng khác nhau: nhóm những người
Nguyễn Thị Chang Lớp
KTMT46
Chuyên đề tốt nghiệp
nội trợ trong gia đình, nhóm những người nhặt rác, nhóm những người thu
gom rác cấp tổ dân phố, thôn/xã, nhóm những người thuộc Công ty Môi
trường Đô thị,…
Thứ hai, cộng đồng đảm bảo cho hoạt động quản lý chất thải phát triển
bền vững bởi lẽ:
Họ có kiến thức về địa bàn sinh sống, làm việc, chính vì vậy họ nắm rõ
các đặc thù, điều kiện cũng như vấn đề văn hóa, xã hội ở địa bàn, nắm rõ các
nhu cầu cũng như các phương tiện hiện có của quản lý chất thải ở địa phương.
Các quyết định có sự tham gia của cộng đồng sẽ trở nên có cơ sở thực tiễn và
đây là căn cứ đảm bảo cho tính khả thi của các quyết định về quản lý chất thải
về mặt kinh tế. Chẳng hạn, việc đề ra phí thu gom chất thải rắn không thể nào
áp dụng một mức như nhau cho tất cả các địa phương, mà phải phân cấp cho

Nâng cao được nhận thức của mọi người trong cộng đồng về bảo vệ môi
trường thông qua sự tác động lẫn nhau của các thành viên trong cộng đồng.
1.1.3. Các nguyên tắc trong quản lý rác thải dựa vào cộng đồng.
* Ranh giới phải được xác định rõ ràng.
Xác định được địa điểm cụ thể để thực hiện việc quản lý rác thải dựa vào
cộng đồng. Phải có sự phân công cụ thể, rõ ràng công việc đến từng đối tượng,
tránh tình trạng xung đột, chồng chéo trong quản lý. Xem xét sự hợp tác của
người dân để từ đó có hướng đi đúng đắn và kế hoạch sao cho phù hợp, đồng thời
phối hợp với chính quyền địa phương để có được sự hỗ trợ tốt nhất.
* Có sự cân đối giữa chi phí và lợi ích.
Cần gắn kết giữa mục tiêu quản lý rác thải với tăng thu nhập, tạo công ăn
việc làm cho người dân. Khi người dân thu được lợi ích từ hoạt động quản lý
Nguyễn Thị Chang Lớp
KTMT46
Chuyên đề tốt nghiệp
rác thải thì họ sẽ tích cực tham gia. Mặt khác việc thu phí để phục vụ cho
quản lý môi trường cũng phải được tính theo tỉ lệ để đảm bảo công bằng. Thu
phí dựa trên lượng rác thải chẳng hạn. Ví dụ: Xác định lượng rác thải bằng túi
rác. Nếu thải ra 2 túi rác họ phải trả gấp đôi phí so vơi 1 túi.
* Tham khảo ý kiến cộng đồng.
Cộng đồng dân cư được phép tổ chức và tham gia đóng góp ý kiến cho
sự hoạt động có hiệu quả hay không hiệu quả của hệ thống quản lý rác thải
cộng đồng. Họ được khuyến khích đưa ra ý kiến đóng góp của mình trong các
cuộc họp thảo luận. Những ý kiến này rất quan trọng, vì người dân là người
hiểu rõ nhất môi trường sống xung quanh họ và họ là người được lợi nhất nếu
những ý kiến đó được thực hiện.
* Có sự giám sát của cộng đồng.
Mọi hoạt động, muốn thực hiện có hiệu quả cần có sự giám sát. Hoạt
động quản lý diễn ra trên địa bàn nào thì người dân ở đó sẽ là người có quyền
được giám sát. Người dân tham gia giám sát giúp cho dự án hoạt động hiệu

thu hút sự tham gia cộng đồng thường là dự án hay hoạt động gắn với công
trình công cộng, hoặc dự án có chung lợi ích, trách nhiệm của nhiều bên liên
đới trong cộng đồng, hay dự án liên quan đến huy động tài chính của cộng
đồng, đến cam kết của cộng đồng,…
Ví dụ, việc thu phí nước thải sinh hoạt có liên quan đến các cộng đồng
dân cư. Muốn đảm bảo thu phí được thực hiện hợp lý và suôn sẻ cần thiết
phải thu hút sự tham gia của các cộng đồng dân cư từ khâu phổ biến chủ
trương để dân hiểu, đến khâu xây dựng nguyên tắc thu phí, cách thức xác định
mức phí và hình thức thanh toán. Khi có sự tham gia của người dân vào quy
trình này, các quyết định sẽ sát thực tế và được sự ủng hộ của dân chúng. Hay
trường hợp thu phí nước thải công nghiệp, cần thu hút cộng đồng doanh
Nguyễn Thị Chang Lớp
KTMT46
Chuyên đề tốt nghiệp
nghiệp vào các khâu xây dựng quy trình xác định mức phí, kê khai lượng thải,
thành phần chất thải và hình thức thanh toán. Trên cơ sở ý kiến tham gia của
doanh nghiệp, việc đưa ra quy trình xác định cũng như hình thức thanh toán
sẽ mang tính khả thi cao.
Xác định các giai đoạn tham gia của cộng đồng
Sự tham gia của cộng đồng được phân thành 4 giai đoạn:
Giai đoạn lập kế hoạch dự án hay hoạt động: Ở giai đoạn này, sự tham
gia của cộng đồng bao gồm việc tham gia đóng góp ý kiến và thông tin khảo
sát của chính quyền địa phương hay cơ quan tư vấn để xác định nhu cầu của
cộng đồng, năng lực tài chính và vật chất trong việc tiếp nhận dự án hay hoạt
động, xác định thiện ý và mức độ tham gia của cộng đồng ở các giai đoạn tiếp
theo của dự án.
Giai đoạn chuẩn bị kế hoạch khả thi của dự án hay hoạt động: Cộng đồng
có thể đóng vai trò tích cực trong việc lập kế hoạch và thiết kế dự án thông
qua việc đóng góp đầu vào cho các nhà thiết kế kỹ thuật (thiết kế quy trình
thu gom, bãi chôn lấp,…) như các thông tin về lượng rác thải của các hộ, xu

phân loại, thu gom, vận chuyển, tái chế chất thải sản xuất phân compost
thường là:
- Hội phụ nữ;
- Tổ dân phố, ấp, tổ hợp tác;
- Đoàn thanh niên;
- Mặt trận tổ quốc;
- Cộng đồng những người nhặt và bới rác;
- Cộng đồng những người thu gom và mua bán chất thải (ve chai);
Nguyễn Thị Chang Lớp
KTMT46
Chuyên đề tốt nghiệp
- Cộng đồng các hộ tái chế;
- Cộng đồng các doanh nghiệp tái chế;
- Cộng đồng công nhân vệ sinh môi trường.
Xác định các yêu cầu cần thiết cho việc tăng cường sự tham gia của
cộng đồng
Để việc tham gia của cộng đồng trở thành hiện thực và thực sự có hiệu
quả, cùng với việc xác định các giai đoạn và mức độ tham gia của cộng đồng,
cần phải có những điều kiện sau đây:
Cán bộ chính quyền, quan chức, công chức hiểu được và có kinh nghiệm
về tham gia cộng đồng và cung cách dân chủ trong lãnh đạo.
Các kênh tham gia của dân chúng phải được thể chế hoá và dân chúng
phải được hiểu rõ về chúng.
Có được văn hoá tương đồng của nhóm cộng đồng như thái độ ủng hộ
trong việc xây dựng mục tiêu, vai trò tích cực đối với trách nhiệm của cộng
đồng, ý thức đối với các quy định về thể chế và chính sách công.
Có các tổ chức dân sự tự chủ, kể cả tổ chức hình thức hay phi hình thức.
Tăng quyền lực cho người nghèo và những người có địa vị thấp trong xã hội.
1.2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RÁC THẢI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở
VIỆT NAM.

1.2.2. Một số trường hợp điển hình về quản lý rác thải có sự tham gia của
cộng đồng ở Việt Nam.
Một vài thành phố của Việt Nam đang tiến hành các chương trình cộng
đồng tập trung vào hoạt động thu gom rác thải, thông qua đó, các nhóm dân
Nguyễn Thị Chang Lớp
KTMT46
Chuyên đề tốt nghiệp
cư, các hợp tác xã, các doanh nghiệp tư nhân có trách nhiệm trong hoạt động
thu gom rác thải. Các hoạt động này thường được diễn ra tại các vùng ngoại ô
có tốc độ phát triển nhanh nhưng thiếu các dịch vụ được hỗ trợ bởi các công
ty Môi trường đô thị, ở các khu vực trong thành phố hoặc thị xã không thuận
tiện cho các phương tiện xe cộ của công ty Môi trường đô thị vào hoặc ở các
vùng nông thôn. Ví dụ, ở Đà Nẵng, nhóm “Vì biển xanh quê hương” đã được
thành lập để thực hiện các hoạt động làm sạch bãi biển. Nhóm này tình
nguyện thu dọn bãi biển cả khi đông khách và những hoạt động của nhóm đã
có tác động sâu sắc đến thái độ của khách du lịch về xử lý rác thải. Ở Vịnh Hạ
Long, các vấn đề tồn tại trong quản lý rác thải không phải ở trên đất liền mà ở
trên biển. Nhận thức rằng việc rác thải trôi nổi có thể gây hại không chỉ cho
môi trường mà còn cho hoạt động du lịch, Ban quản lý Vịnh Hạ Long đã bàn
bạc với những người dân sống trên Vịnh tại làng nổi Cửa Vạn (40 phút đi
thuyền từ Bãi Cháy) nhằm cùng dân làng tổ chức Ngày Môi trường Thế giới
2002 thông qua hoạt động thu gom chất thải trôi nổi trên biển xung quanh
làng.
Các chương trình xã hội hóa đã chia sẻ trách nhiệm quản lý rác thải cho
cộng đồng dân cư địa phương và đã trở nên phổ biến ở Việt Nam. Ví dụ, Ủy
ban Nhân dân Thành phố Hà Nội đã tổ chức chương trình xã hội hóa hoạt
động thu gom rác thải trên địa bàn thành phố vào những năm 90. Hiện nay,
các nhóm dân cư địa phương đã đứng ra tự tổ chức thu gom rác thải, mua các
trang thiết bị thu gom rác thải, thu phí và quản lý toàn bộ hệ thống thu gom
rác thải. Một vài mô hình đã được áp dụng ở các phường trên địa bàn Hà Nội

bàn phường, không để tình trạng vứt rác ra đường hay không tập trung để thu
gom. UBND phường đề ra chương trình quản lý chất thải trong phường, trong
Nguyễn Thị Chang Lớp
KTMT46
Chuyên đề tốt nghiệp
đó có thống kê tình hình rác thải để biết lượng rác thải trong ngày, các điểm
thu gom, và lập tổ vệ sinh môi trường.
UBND phường lập ban vệ sinh do đồng chí Chủ tịch phường trực tiếp
chỉ huy, gồm các thành phần: Mặt trận, phụ nữ, thanh niên, y tế, công an,
phường đội. Giúp việc cho ban có hai tổ chuyên trách gồm lực lượng công an
và dân phòng phường, mỗi tổ 4 người.
Cộng đồng dân cư tham gia vào chương trình này được tham khảo ý kiến
về lượng rác thải ra, giờ thu gom rác, mức phí nộp, đóng góp ý kiến để hoàn
thiện cách quản lý rác thải trong phường thông qua các buổi sinh hoạt tổ dân
phố.
Người dân sống trong địa bàn đã có tổ chức vệ sinh môi trường hoạt
động, được quyền giao rác thải của hộ gia đình mình cho tổ chức vệ sinh môi
trường; giám sát hoạt động của tổ vệ sinh môi trường, giám sát việc giải quyết
rác thải của các đơn vị đóng trên địa bàn; kiến nghị với các cấp chính quyền
về công tác quản lý rác thải, quản lý rác chung quanh khuôn viên nhà mình.
Song song với các quyền trên, người dân nơi đây có trách nhiệm không
thải đổ rác ra nơi công cộng; thực hiện phân loại rác, rác chứa trong sọt và để
nơi thuận lợi trong nhà; giao rác cho người thu gom đúng thời gian, đúng
phương thức; đóng tiền hàng tháng; phát hiện và tố giác hành vi thải đổ rác
không đúng nơi quy định.
Hội phụ nữ tham gia công tác quản lý bồ rác và thu tiền rác hằng tháng
(được hưởng 4% trên tổng doanh thu), trang bị sọt rác đồng bộ. Kết hợp với
Xí nghiệp Môi trường Đô thị Tam Kỳ tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận
thức cho hội viên một cách thường xuyên; phát động và duy trì hàng tuần làm
vệ sinh trước, xung quanh nhà, tham gia tổng dọn vệ sinh nơi công cộng;

được phản ánh trong sơ đồ dưới đây:
Sơ đồ 1.1. Mô hình tham gia cộng đồng vào quản lý rác thải địa bàn có
đơn vị VSMT hoạt động
HĐND PHƯỜNG UBMTTQ PHƯỜNG Đảng ủy Phường
Hội phụ nữ Đoàn TNCS
UBND Phường Chi bộ khu vực
Chi hội Chi đoàn
Trạm y tế Công an Phường đội Tổ dân
Hội viên Đoàn viên Đảng viên

Hộ dân Cơ quan, đơn vị Nơi công cộng
- Phân loại ngay từ hộ - Tập kết tại vị trí thỏa - Đường phố do đơn vị
gia đình, chứa trong thuận và chứa trong sọt nhận VSMT đảm nhận
sọt và để trong nhà - Giao cho người thu nhận - Các tụ điểm do đoàn
thể
Người thu Người thu
ĐIỂM TẬP KẾT RÁC BÃI RÁC
(Phường quản lý) (XNMTĐT quản lý)
Giao nhận hợp lý, - Tái chế, tái sinh
đảm bảo vệ sinh môi trường - Chôn lấp
Xí nghiệp Môi trường Đô thị Tam Kỳ

Chú thích
Chỉ đạo
Phối hợp
VSMT phường thực hiện
XNMTĐT Tam Kỳ thực hiện
Tương quan giám sát
Nguồn: Kinh tế chất thải – Tài liệu dành cho khóa đào tạo quản lý tổng hợp chất thải. NXB Chính
trị Quốc gia, H., 2005.

KTMT46

Trích đoạn NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH QUẢN LÝ RÁC THẢI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở XÃ DƯƠNG NỘI, THÀNH PHỐ HÀ ĐÔNG Hệ thống giao thông: Hệ thống thủy lợi: Tăng trưởng kinh tế: GDP bình quân đầu ngườ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status